Thứ hai 16/02/2026 05:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới
TS. Nguyễn Hải Ninh Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Tư pháp

1. Nhận diện mối quan hệ giữa thể chế, pháp luật với lợi thế cạnh tranh quốc gia

1.1. Thể chế và năng lực cạnh tranh quốc gia

Thể chế có thể được hiểu từ nhiều góc độ khác nhau. Theo nghĩa tổng quát, thể chế là những quy định, luật lệ, gồm cả các quy định chính thức và phi chính thức của một chế độ xã hội để điều chỉnh hành vi của tổ chức, cá nhân trong xã hội, buộc mọi người phải tuân theo1. Thể chế gồm cả hệ thống các quy tắc chính thức (mà cốt lõi nhất là hệ thống pháp luật) và phi chính thức cùng với cơ chế thực thi, nhằm điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong xã hội để duy trì trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển. Về cơ bản, thể chế gồm ba bộ phận cấu thành: (i) Những quy tắc chính thức (các quy định trong hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật khác, các quy định chính thức của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội...); (ii) Những quy tắc phi chính thức (quy tắc đạo đức xã hội, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, tập quán…); (iii) Cơ chế thực thi pháp luật...

Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh là tập hợp các thể chế, chính sách và yếu tố quyết định mức độ năng suất của một quốc gia2. Mức độ năng suất sẽ thiết lập mức độ thịnh vượng bền vững mà nền kinh tế của một quốc gia có thể đạt được. Điều này có nghĩa, các nền kinh tế có tính cạnh tranh cao hơn thường có khả năng tạo ra mức thu nhập cao hơn cho người dân. Mức tăng năng suất quyết định tỷ suất lợi nhuận thu được từ các khoản đầu tư trong nền kinh tế, vì tỷ suất lợi nhuận là động lực cơ bản của tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế có tính cạnh tranh cao hơn là nền kinh tế có khả năng tăng trưởng nhanh hơn trong trung và dài hạn. Năng lực cạnh tranh là yếu tố đặc biệt quan trọng, quyết định đến sự phồn vinh, thịnh vượng của một quốc gia. Chính vì thế, xuân Bính Ngọ 2026 điều dễ hiểu là, các quốc gia trên thế giới thường rất coi trọng xây dựng, thực thi chính sách, giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh. WEF đã xây dựng, phát triển bộ chỉ số năng lực cạnh tranh (GCI) để làm tiêu chuẩn đo lường mức độ cạnh tranh của một quốc gia và được sử dụng để đánh giá, xếp hạng các quốc gia trên thế giới về những nền tảng kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô tạo nên năng lực của quốc gia đó, trong đó, “thể chế” được coi là trụ cột quan trọng hàng đầu3.

1.2. Vai trò của thể chế, pháp luật với lợi thế cạnh tranh quốc gia

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau, trong đó, thể chế, pháp luật đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia. Điều này được thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, thể chế, pháp luật vừa là thành tố quan trọng hàng đầu vừa là nền tảng, cơ sở chính trị, pháp lý tạo môi trường đầu tư kinh doanh của một quốc gia, cụ thể:

Thể chế, pháp luật cung cấp cơ sở nền tảng (“luật chơi”), tạo hành lang pháp lý bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh, sản xuất, lưu thông, tiêu thụ, tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế, tham gia thị trường. Thông qua đó, nền kinh tế vận hành đồng bộ, thông suốt và trong trật tự. Pháp luật quy định và bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, quyền tự do hợp đồng, quy định điều kiện, cơ chế gia nhập, rút khỏi thị trường, thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ, cơ chế giải quyết tranh chấp… cho người dân, doanh nghiệp, giúp các nhà đầu tư, kinh doanh trong nước cũng như nước ngoài yên tâm thực hiện đầu tư, kinh doanh, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Hệ thống pháp luật chất lượng cao, thân thiện với các hoạt động đầu tư, kinh doanh, phù hợp với quy luật và thực tiễn giao dịch thị trường chính là tiền đề đầu tiên xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, hấp dẫn, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

Khi hệ thống pháp luật được xây dựng và hoàn thiện để bảo đảm tính công khai, minh bạch, khả thi, chi phí tuân thủ thấp sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro, giảm thiểu chi phí giao dịch và tạo dựng môi trường đầu tư, kinh doanh, sân chơi bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh. Đồng thời, pháp luật xây dựng cơ chế để có thể giải quyết dứt điểm, nhanh chóng, hiệu quả, chất lượng,… các tranh chấp phát sinh trong hoạt động đầu tư, kinh doanh. Điều này sẽ làm gia tăng lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế đất nước.

Thể chế, pháp luật bảo đảm thực chất quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản, quyền tự do hợp đồng, sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Thể chế, pháp luật tạo cơ sở pháp lý để khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận hiệu quả các nguồn lực về vốn, đất đai, nhân lực chất lượng cao; hỗ trợ thực chất, hiệu quả doanh nghiệp nhỏ và vừa, thúc đẩy hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân vươn tầm quốc tế, qua đó, giúp khu vực kinh tế tư nhân khẳng định vai trò là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”4.

Thứ hai, thể chế, pháp luật là tiền đề giải phóng, khơi thông mọi nguồn lực, sức sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, phát triển bền vững.

Thể chế, pháp luật có chất lượng tốt, phù hợp với thực tiễn sẽ giúp người dân, doanh nghiệp, các chủ thể thị trường có niềm tin, yên tâm đầu tư, sản xuất, kinh doanh, huy động hiệu quả vốn, nhân lực, tài nguyên, công nghệ. Đây chính là cơ sở, nền tảng quan trọng cho nền kinh tế của quốc gia phát triển nhanh, mạnh và bền vững.

Thể chế, pháp luật còn có vai trò kiến tạo phát triển. Thể chế, pháp luật trong nhiều trường hợp có thể đi trước, mở đường, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh bắt kịp với các xu thế phát triển mới nhất trên thế giới, qua đó, dẫn dắt sự phát triển kinh tế, tạo “dư địa” cho nền kinh tế tăng trưởng, phát triển nhanh, bền vững. Thể chế, pháp luật cũng là cơ sở, công cụ pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý, điều hành xã hội, bảo đảm duy trì trật tự xã hội ổn định, phát triển. Chính vì vậy, pháp luật có chất lượng tốt phải vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển; bảo đảm cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được.

Thể chế, pháp luật còn góp phần hạn chế những “khuyết tật” cố hữu của kinh tế thị trường (như phân hóa giàu nghèo, bất cân xứng về thông tin, các tác động ngoại ứng tiêu cực…), tạo công bằng xã hội, giúp kinh tế - xã hội phát triển bền vững theo đúng định hướng. Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh doanh luôn đặt mục tiêu tìm kiếm, tối đa lợi nhuận, nên trong nhiều trường hợp có thể ảnh hưởng đến các vấn đề môi trường, an sinh xã hội,… tiềm ẩn những nguy cơ gây bất ổn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước.

Thứ ba, thể chế, pháp luật góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Để phát triển, các quốc gia cần phải thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học - công nghệ, đón nhận những yếu tố, giá trị mới và tạo điều kiện sáng tạo phát triển. Chính vì vậy, pháp luật tạo cơ sở, hành lang pháp lý để xây dựng môi trường hỗ trợ khởi nghiệp, tạo các cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nghiên cứu, ứng dụng, phát triển khoa học công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng hoạt động sản xuất, kinh doanh, gia tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp và nền kinh tế của quốc gia.

Một hệ thống pháp luật hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ giúp quốc gia hội nhập quốc tế sâu, rộng hơn, thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao, thu hút nhân lực chất lượng cao, qua đó, nâng cao uy tín, sức cạnh tranh của nền kinh tế đất nước trên trường quốc tế.

Thứ tư, thể chế, pháp luật tạo môi trường ổn định, phát triển bền vững.

Hệ thống pháp luật được thi hành hiệu quả cao trên thực tế góp phần tạo lập môi trường ổn định, phát triển bền vững. Hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất, phù hợp với thực tế đóng vai trò quan trọng nhưng chưa đủ mà cần phải xây dựng cơ chế cụ thể để tổ chức thi hành pháp luật, biến các quy định của pháp luật được thực thi trên thực tế. Tổ chức thi hành pháp luật gồm nhiều hoạt động như phổ biến, giáo dục pháp luật để người dân hiểu, thực hiện theo đúng quy định; triển khai thi hành pháp luật trong các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội; theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật trên thực tiễn; hỗ trợ pháp lý cho các chủ thể xã hội… Như vậy, thi hành pháp luật không chỉ dựa trên sự tôn trọng và tuân thủ tự giác của các chủ thể trong xã hội, mà còn phải dựa vào sự theo dõi, kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, tinh thần thượng tôn pháp luật trực tiếp góp phần bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao năng lực cạnh tranh lâu dài, bền vững của đất nước. Một xã hội mà thể chế, pháp luật không nghiêm, kỷ cương bị buông lỏng, vi phạm pháp luật không được xử lý nghiêm minh sẽ khó đạt được sự đồng thuận và ổn định để phát triển bền vững.

Như vậy, có thể khẳng định, xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng và chuyển đổi số hiện nay. Xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, thông thoáng, công khai, minh bạch, công bằng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia là công việc cần ưu tiên hàng đầu để đất nước phát triển bền vững. Ngược lại, để tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh khoa học công nghệ đang có những phát triển đột phá chưa có tiền lệ hiện nay (với sự phổ biến ngày càng mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, công nghệ chuỗi khối, dữ liệu lớn và các mô hình kinh doanh mới), thể chế, pháp luật phải đóng vai trò vừa định hình khuôn khổ, vừa là “bệ đỡ” thúc đẩy phát triển để thích ứng, phù hợp và đáp ứng yêu cầu thực tiễn, trong đó, tư duy xây dựng pháp luật cần tiếp tục được đổi mới, mở đường cho việc áp dụng các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), các giải pháp chưa có tiền lệ để phát huy tốt hơn vai trò kiến tạo phát triển của pháp luật.

2. Vai trò của của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Trong hơn 80 năm xây dựng, phát triển, Bộ, ngành Tư pháp luôn được Đảng, Nhà nước tin tưởng, giao nhiều trọng trách. Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tư pháp đã có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng, đi đầu trong việc thúc đẩy đổi mới tư duy xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao và kết quả hoạt động thực tế, vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Một là, Bộ Tư pháp đã trực tiếp chủ trì xây dựng các văn bản của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về đổi mới tư duy xây dựng, hoàn thiện pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bộ Tư pháp đã tham mưu và trực tiếp xây dựng thành công nhiều Nghị quyết của Đảng với tư duy đột phá trong xây dựng pháp luật, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia5, nhất là Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW). Nghị quyết số 66-NQ/TW thực sự là “lời hiệu triệu cho một cuộc cải cách thể chế sâu sắc”, là bước đột phá quan trọng, tạo nền tảng nâng cao nhận thức và xác định đúng đắn vai trò của thể chế, pháp luật đối với phát triển đất nước, trong đó có việc hình thành môi trường pháp lý thuận lợi, thông thoáng, minh bạch, an toàn để thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ổn định. Trong năm 2025, Bộ Tư pháp đã khẳng định vai trò nòng cốt, tham mưu hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật do đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm làm Trưởng ban và Ban Chỉ đạo của Chính phủ về rà soát, xử lý vướng mắc trong hệ thống pháp luật do đồng chí Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính làm Trưởng ban. Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật đã tổ chức 03 phiên họp, cho ý kiến vào nhiều nội dung đặc biệt quan trọng về công tác hoàn thiện thể chế, pháp luật.

Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương giúp Chính phủ tham gia tích cực vào quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 và gần đây là sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 nhằm phục vụ việc thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp. Đồng thời, Bộ Tư pháp đã chủ trì và phối hợp xây dựng, tham mưu và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành nhiều văn bản pháp luật với quan điểm mới, tư duy mới để thể chế hóa các quan điểm, mục tiêu, định hướng, chính sách của Đảng, Nhà nước, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, phục vụ cho công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập, định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia. Trong đó, Bộ Tư pháp đã chủ trì, tham mưu xây dựng một số luật, bộ luật quan trọng mang tính chất “rường cột” như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật… và nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng khác. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 được ban hành theo tinh thần đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng pháp luật, đơn giản hóa quy trình, thủ tục, đồng thời, quy định quy trình xây dựng chính sách thực chất, cơ chế thí điểm, thủ tục rút gọn và thủ tục đặc biệt… nhưng vẫn bảo đảm chặt chẽ và khoa học. Mục tiêu là khơi dậy tiềm năng, nguồn lực và tạo động lực thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, mạnh và bền vững.

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW, Bộ Tư pháp đã xây dựng và trình Chính phủ trình Quốc hội thông qua Nghị quyết số 197/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và thi hành pháp luật. Cùng với đó, năm 2025, thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương xây dựng Báo cáo tổng hợp kết quả rà soát, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật6 và báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, thông qua Nghị quyết số 206/2025/QH15 ngày 24/6/2025 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật, với những chính sách “chưa có tiền lệ”. Hai nghị quyết này tạo cơ chế đặc biệt về tài chính, nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ nhằm đột phá toàn bộ quy trình xây dựng và thi hành pháp luật, xử lý kịp thời vướng mắc phát sinh trong thực tiễn do bất cập của văn bản quy phạm pháp luật để thể chế hóa các quan điểm, mục tiêu, định hướng, chính sách của Đảng, Nhà nước, tạo cơ sở pháp lý xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia7.

Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng Đề án “Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” đã trình Bộ Chính trị dự kiến thông qua trong thời gian tới, với nhiều giải pháp đột phá trong hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật; đồng thời, thực hiện rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên cơ sở dữ liệu để xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng, minh bạch, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Hai là, tham gia phối hợp xây dựng các văn bản của Đảng, Quốc hội, Chính phủ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bộ Tư pháp đã tích cực tham gia phối hợp xây dựng các văn bản của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về đổi mới tư duy xây dựng, hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, như Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật bảo đảm chuyên nghiệp, khoa học, kịp thời, khả thi, hiệu quả.

Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với các bộ và các cơ quan có liên quan tham mưu Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm. Đồng thời, Bộ Tư pháp đã tham mưu phối hợp với các bộ, ngành liên quan, giúp Chính phủ xây dựng, ban hành nhiều văn bản pháp luật, trong đó có các văn bản liên quan đến đổi mới sáng tạo, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể đầu tư, kinh doanh, như bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, sáng chế, phát triển khoa học công nghệ mới, hỗ trợ các hoạt động khởi nghiệp, qua đó khuyến khích nghiên cứu, phát triển, đổi mới sáng tạo, tạo lợi thế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia8.

Trong nhiệm kỳ 2021 - 2025, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các bộ, ngành tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua gần 180 dự án luật, dự thảo nghị quyết, riêng năm 2025 trình Quốc hội 99 dự án luật, nghị quyết; xây dựng trình Chính phủ ban hành hơn 930 nghị định, nghị quyết, riêng năm 2025 hơn 370 nghị định, nghị quyết với nhiều chính sách lớn, ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy đầu tư, kinh doanh, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia9.

Ba là, công tác thẩm định đề nghị xây dựng dự án, dự thảo văn bản pháp luật được Bộ Tư pháp chú trọng, thực hiện bài bản, đạt chất lượng, hiệu quả cao và bảo đảm tiến độ.

Nhiều ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp được các cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đánh giá cao, là cơ sở quan trọng để quyết định ban hành văn bản. Thông qua công tác thẩm định của Bộ Tư pháp, hệ thống pháp luật đã được xây dựng đồng bộ, thống nhất, minh bạch, ổn định; đặc biệt, các ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp về đổi mới sáng tạo, xử lý các điểm nghẽn về thể chế, pháp luật,… đã góp phần quan trọng vào việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia10.

Đồng thời, thông qua thẩm định quy định về thủ tục hành chính trong đề nghị xây dựng chính sách và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp đã kiểm soát chặt chẽ việc ban hành thủ tục hành chính, góp phần nâng cao chất lượng văn bản và bảo đảm quy định thủ tục hành chính hợp lý, khả thi. Qua đó, tạo động lực cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, khơi thông nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thu hút đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia11.

Bốn là, công tác truyền thông chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật “từ sớm, từ xa” trong quá trình đề xuất chính sách, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật được Bộ Tư pháp, các bộ, ngành, địa phương quan tâm thực hiện, qua đó, nâng cao chất lượng xây dựng thể chế, pháp luật, công khai minh bạch, tạo sự đồng thuận trong thực hiện khi văn bản được ban hành. Bên cạnh đó, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý và cung cấp thông tin pháp luật đã giúp người dân, doanh nghiệp hiểu rõ hơn quy định pháp luật, biết cách tự mình hoặc nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đổi mới sáng tạo, thúc đẩy đầu tư, kinh doanh, đáp ứng yêu cầu của công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới.

Năm là, công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất văn bản, pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế về pháp luật, nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ luôn được Bộ Tư pháp thực hiện thực bài bản, thực chất.

Công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật được Bộ Tư pháp thực hiện bài bản, đạt chất lượng, hiệu quả cao, đã phát hiện được nhiều điểm nghẽn, mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp để kịp thời kiến nghị, sửa đổi các văn bản tạo điều kiện thúc đẩy đổi mới sáng tạo, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, cắt giảm thủ tục hành chính, xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, thông thoáng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đồng thời, Bộ Tư pháp đẩy mạnh thực hiện công tác hợp tác quốc tế về pháp luật, nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật, pháp chế nói chung và pháp luật liên quan đến quyền tài sản, quyền sở hữu, đổi mới sáng tạo, đầu tư, kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa đã giúp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập và phát triển nhanh, mạnh, bền vững hơn.

Sáu là, công tác chuyển đổi số, hiện đại hóa quản lý nhà nước trong lĩnh vực pháp luật được đẩy mạnh, ưu tiên ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn; cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình trong lĩnh vực hộ tịch; phiên bản chính thức của Cổng Pháp luật quốc gia đã được đưa vào vận hành, tiếp tục hoàn thiện. Đã thiết lập, vận hành khá hiệu quả Hệ thống tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị vướng mắc, bất cập. Cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, bảo đảm đồng bộ, liên thông, an toàn, phục vụ hiệu quả công tác xây dựng và thi hành pháp luật.

3. Một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Mặc dù, hệ thống pháp luật Việt Nam đã tương đối đồng bộ, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận, cơ bản điều chỉnh tất cả lĩnh vực, tạo nền tảng pháp lý để phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế nhưng trước yêu cầu thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, thúc đẩy phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, công tác xây dựng và thi hành pháp luật vẫn còn không ít hạn chế, bất cập, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh quốc gia, chưa giúp đất nước phát triển tương xứng với tiềm năng.

Để khắc phục những hạn chế, bất cập, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Bộ Tư pháp cần thực hiện đồng bộ nhiều nhiệm vụ, giải pháp, trong đó tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, bám sát nội dung, tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 66-NQ/TW; thực hiện tốt vai trò cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật.

Bộ Tư pháp cần tập trung nguồn lực, chủ trì xây dựng và trình Bộ Chính trị thông qua và triển khai thực hiện Đề án “Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới” nhằm xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, kiến tạo phát triển, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập; mở đường cho đổi mới sáng tạo, thúc đẩy khoa học, công nghệ phát triển để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Hệ thống thể chế, pháp luật phải được xây dựng, vận hành trên nguyên tắc lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm và được làm những gì luật không cấm; phát huy đúng mức vai trò đạo đức xã hội, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc tự quản cộng đồng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội; các quy định pháp luật phải ổn định; xây dựng cơ chế hiệu quả để tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý của đối tượng chịu tác động, không đẩy khó khăn cho người dân, doanh nghiệp trong xây dựng chính sách, pháp luật; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, thông thoáng, minh bạch, an toàn; triệt để cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính bất hợp lý, chi phí tuân thủ pháp luật thấp; xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc, bám sát và giải quyết kịp thời các vấn đề thực tiễn; xây dựng hành lang pháp lý cho những vấn đề mới, phi truyền thống như chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, tài sản mã hóa, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số…

Thứ hai, thực hiện tốt vai trò là cơ quan tham mưu giúp Chính phủ trong công tác rà soát, kiểm soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính để xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, đơn giản, chi phí tuân thủ thấp.

Bộ Tư pháp cần thực hiện tốt vai trò tham mưu Chính phủ trong việc xây dựng, đề xuất bổ sung chương trình lập pháp để xây dựng, trình Quốc hội ban hành các đạo luật bảo đảm quyền tài sản, quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh,… tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đặc biệt, Bộ Tư pháp cần thực hiện tốt vai trò thẩm định để bảo đảm hệ thống pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận và bảo đảm quyền tự do kinh doanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; tuyệt đối không để xảy ra lợi ích nhóm, tham nhũng chính sách, lãng phí nguồn lực, lãng phí cơ hội từ công tác xây dựng pháp luật. Bộ Tư pháp cần sớm nghiên cứu, chỉnh sửa, ban hành quy định và các tiêu chí thẩm định văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có tiêu chí về bảo đảm quyền con người, quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, đổi mới sáng tạo, cắt giảm thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ thấp.

Thứ ba, tập trung, đẩy mạnh kiểm tra, rà soát, hoàn thiện pháp luật để tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận.

Bộ Tư pháp tiếp tục đẩy mạnh và thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, rà soát kịp thời phát hiện những mâu thuẫn, chồng chéo để kiến nghị, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt, các quy định pháp luật hạn chế quyền con người, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu, đổi mới sáng tạo. Từ đó, tháo gỡ các rào cản, điểm nghẽn của pháp luật ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo,… nhằm xây dựng được môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong quá trình soạn thảo hoặc thẩm định các văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp cần chú ý xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền hợp đồng,… nhất là trong các lĩnh vực mới liên quan đến các ngành công nghiệp sáng tạo, công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo, blockchain, dữ liệu lớn…

Thứ tư, tăng cường tiếp thu ý kiến phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp đối với hệ thống pháp luật; thu hút sự tham gia của người dân, doanh nghiệp, các hiệp hội đại diện cho cộng động doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật.

Thực hiện lấy ý kiến của người dân, doanh nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật thực chất. Tăng cường và thường xuyên tổ chức các diễn đàn, cuộc đối thoại giữa Chính phủ với doanh nghiệp và các tổ chức xã hội để lắng nghe ý kiến, đề xuất và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của pháp luật đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh. Tiếp nhận ý kiến phản ánh, phản hồi, đánh giá của người dân, doanh nghiệp về hệ thống pháp luật; phát huy hiệu quả vai trò Cổng Pháp luật quốc gia trong việc tiếp nhận, phản ánh và đánh giá cơ chế, chính sách và thể chế, pháp luật để kịp thời có giải pháp xử lý tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Nâng cao nhận thức về các quyền và nghĩa vụ pháp lý; thực hiện các chiến dịch truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật để người dân, doanh nghiệp hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ, xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, thuận lợi.

Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế về pháp luật; chủ động tham gia và định hình thể chế pháp lý quốc tế.

Tiếp tục thực hiện chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa hợp tác quốc tế về pháp luật và cải cách tư pháp trên cơ sở đảm bảo đúng các nguyên tắc của Đảng và quy định pháp luật nhằm nghiên cứu kinh nghiệm các nước về xây dựng, vận hành hiệu quả hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh để đề xuất tiếp thu, vận dụng có chọn lọc tinh hoa của các quốc gia phát triển, phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trước mắt, cần tập trung nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật về đổi mới sáng tạo, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, kinh tế số, tài sản số; kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, những vấn đề mới bảo đảm phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, đạt chất lượng, hiệu quả cao, đóng góp quan trọng, xứng tầm vào thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đồng thời, đẩy mạnh ký kết và tham gia các điều ước quốc tế, tăng cường vị thế của Việt Nam tại các tổ chức, diễn đàn quốc tế có liên quan; có giải pháp phù hợp thu hút chuyên gia nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia vào hoạt động xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật về đầu tư, kinh doanh, xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, thông thoáng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên mới; hoàn thiện các cơ chế pháp lý quốc tế về bảo hộ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân, pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài.

Thứ sáu, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật, từng bước chuyên nghiệp hóa trong công tác xây dựng, thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.

Để xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trước hết cần đổi mới tư duy xây dựng, hoàn thiện pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật. Điều này phụ thuộc vào tư duy của đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật và cách thức vận hành hệ thống pháp luật. Vì vậy, bên cạnh những giải pháp hoàn thiện quy trình ban hành pháp luật, xác định rõ trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia trong mối quan hệ xây dựng pháp luật để xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, nâng cao năng lực cạnh tranh, Bộ Tư pháp cần tiếp tục tăng cường đầu tư nghiên cứu khoa học pháp lý, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật, nhất là về các lĩnh vực mới như công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế,… để bảo đảm có đủ năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giải quyết các vấn đề pháp lý trong kỷ nguyên mới của đất nước.

Thứ bảy, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bộ Tư pháp cần tập trung nghiên cứu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, sớm hoàn thành việc nghiên cứu, xây dựng Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và Đề án ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật, trong đó tập trung vào công tác rà soát, phát hiện các mâu thuẫn, chồng chéo của hệ thống pháp luật để đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật; soạn thảo, thẩm định văn bản, để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Đồng thời, Bộ Tư pháp cần nghiên cứu, sớm xây dựng, phát triển và sử dụng hệ thống các cơ sở dữ liệu pháp lý quốc gia phục vụ việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật và giúp người dân, doanh nghiệp dễ tra cứu, tiếp cận các văn bản pháp luật. Việc áp dụng trí tuệ nhân tạo, blockchain và các nền tảng số sẽ giúp nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật và thi hành pháp luật trên thực tế.

Kết luận

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, Bộ, ngành Tư pháp luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng, trực tiếp tham gia kiến tạo, hoàn thiện thể chế, pháp luật - nền tảng căn bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực tiễn phát triển đất nước cho thấy, thể chế, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý nhà nước mà ngày càng trở thành nguồn lực chiến lược, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia, quyết định chất lượng môi trường đầu tư, kinh doanh, khả năng khơi thông nguồn lực và sức chống chịu, thích ứng của nền kinh tế trong bối cảnh biến động nhanh, phức tạp.

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, vai trò của Bộ, ngành Tư pháp ngày càng được đặt ở tầm cao mới: không chỉ “theo kịp” thực tiễn mà phải chủ động đi trước, “dẫn dắt” cải cách thể chế; không chỉ hoàn thiện pháp luật theo hướng đầy đủ, đồng bộ mà còn phải bảo đảm tính mở, linh hoạt, khả thi, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, lấy hiệu quả phát triển làm thước đo. Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW đã khẳng định rõ yêu cầu đổi mới căn bản tư duy xây dựng và thi hành pháp luật, coi thể chế là một lợi thế cạnh tranh quan trọng của quốc gia trong hội nhập. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt của Bộ Tư pháp trong tham mưu chiến lược, tổ chức xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật; kiểm soát chặt chẽ chất lượng chính sách, pháp luật; tháo gỡ kịp thời các “điểm nghẽn” về thể chế; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản là yêu cầu cấp thiết và tất yếu. Chỉ khi thể chế, pháp luật thực sự trở thành động lực phát triển, được tổ chức thi hành nghiêm minh, hiệu quả, thì môi trường đầu tư, kinh doanh mới thực sự thông thoáng, minh bạch, ổn định và năng lực cạnh tranh quốc gia mới được nâng cao một cách bền vững.

Phát huy truyền thống vẻ vang của ngành, với quyết tâm chính trị cao và tư duy đổi mới mạnh mẽ, Bộ, ngành Tư pháp có đầy đủ cơ sở và điều kiện để tiếp tục đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

TS. Nguyễn Hải Ninh

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Tư pháp

[1]. Hoàng Phê (Chủ biên), Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, tr. 932; Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nhóm Ngân hàng Thế giới (2016), Việt Nam 2035 hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 455.

[2]. World Economic Forum, The Global Competitiveness Report 2009 - 2010, https://www3.weforum.org/docs/WEF_GlobalCompetitivenessReport_2009-10.pdf, truy cập ngày 10/01/2026.

[3]. Xem Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu hàng năm (The Global Competitiveness Report) của World Economic Forum, https://www3.weforum.org, truy cập ngày 10/01/2026.

[4]. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

[5]. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

[6]. Báo cáo đã ghi nhận 2.088 phản ánh, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân về những vướng mắc, bất cập trong hệ thống pháp luật; các bộ, cơ quan có liên quan đã xác định có 787 phản ánh, kiến nghị được xác định có khó khăn, vướng mắc cần xử lý. Dự kiến đến hết năm 2025, sẽ xử lý 462/470 phản ánh, kiến nghị (đạt 98,3%) cần phải xử lý trong năm 2025; đã thực hiện việc trả lời, đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ, cơ quan, Cổng Pháp luật quốc gia đối với 1.295/1.295 (đạt 100%) phản ánh, kiến nghị được xác định không phải là khó khăn, vướng mắc. Có thể khẳng định, những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật cần phải xử lý trong năm 2025 đã cơ bản được giải quyết, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; tăng cường phân cấp về đầu tư, ngân sách nhà nước, sửa đổi các luật thuế, tạo đột phá về thể chế phát triển, tháo gỡ các điểm nghẽn và rào cản; đặt người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, nhằm huy động và khơi thông mọi nguồn lực; thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia.

[7]. Theo Báo cáo số 835/BC-BTP ngày 29/12/2025 của Bộ Tư pháp: Trong nhiệm kỳ 2021 - 2025, Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng thành công 11 dự án luật, 03 nghị quyết quy phạm, đặc biệt, trong năm 2025, Bộ Tư pháp đã chủ trì xây dựng thành công 08 dự án luật, 03 nghị quyết quy phạm.

[8]. Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[9]. Theo Báo cáo số 835/BC-BTP ngày 29/12/2025 của Bộ Tư pháp tổng kết công tác tư pháp năm 2025, nhiệm kỳ 2021 - 2025; định hướng nhiệm kỳ 2026 - 2030 và nhiệm vụ trong tâm công tác năm 2026 và số liệu thống kê của Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp.

[10]. Như ý kiến thẩm định Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[11]. Theo Báo cáo số 835/BC-BTP ngày 29/12/2025: Từ năm 2021 đến tháng 11/2025, Bộ Tư pháp đã thẩm định đối với 3.724 thủ tục hành chính tại 384 đề xuất chính sách và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (85 luật, 02 nghị quyết của Quốc hội, 255 nghị định, 03 nghị quyết của Chính phủ, 28 quyết định, 11 thông tư).

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Chiều ngày 09/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Phiên họp tham vấn chuyên gia kinh tế, đầu tư về Luật Thủ đô (sửa đổi). Cùng dự có Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai.
Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Chiều ngày 05/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ chính sách Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hội thảo "Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới" do Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp với Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp) tổ chức sáng ngày 05/02 bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Bảo đảm vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật

Bảo đảm vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật

Dự thảo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật tập trung sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn phát triển mới; phát huy vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật trên thực tế, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật, giảm chi phí tuân thủ pháp luật.
Thẩm định Nghị quyết cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh

Thẩm định Nghị quyết cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh

Tiếp tục hoàn thiện quy định về thành phần hồ sơ theo hướng chấp nhận bản sao, bản sao điện tử và khai thác dữ liệu; không yêu cầu người dân nộp lại giấy tờ đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng

Phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng

Chính sách Luật Luật sư (sửa đổi) được xây dựng nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trong tình hình mới; xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, am hiểu pháp luật, giỏi kỹ năng hành nghề, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II (EU JULE II)

Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II (EU JULE II)

Trong hai ngày 19 và 20/01, tại tỉnh Phú Thọ, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị “Triển khai Dự án Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II (EU JULE II) và Thảo luận với các đối tác Việt Nam về Lộ trình 5 năm triển khai Dự án và Kế hoạch hoạt động năm 2026 của Dự án EU JULE II”. Dự án xác định mục tiêu xuyên suốt là “Tăng cường năng lực các chủ thể có liên quan nhằm nâng cao hiệu quả trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bảo vệ quyền hợp pháp cho tất cả người dân”.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Đẩy mạnh triển khai đấu giá tài sản trực tuyến

Đẩy mạnh triển khai đấu giá tài sản trực tuyến

Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về việc ban hành cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai đấu giá tài sản trực tuyến theo quy định của Luật Đấu giá tài sản gồm 8 điều, được ban hành nhằm đẩy mạnh triển khai đấu giá tài sản trực tuyến toàn trình trên môi trường điện tử; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường tính công khai, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động đấu giá.
Sắp xếp Ban Chỉ huy quân sự cấp xã bảo đảm phù hợp với hệ thống chính trị

Sắp xếp Ban Chỉ huy quân sự cấp xã bảo đảm phù hợp với hệ thống chính trị

Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ huy quân sự xã, phường, đặc khu gồm 8 điều, được xây dựng nhằm sắp xếp Ban Chỉ huy quân sự cấp xã phù hợp với hệ thống chính trị và quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân.
15 sự kiện nổi bật năm 2025 của ngành Tư pháp

15 sự kiện nổi bật năm 2025 của ngành Tư pháp

Ngày 31/12, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 3802/QĐ-BTP phê duyệt và công bố 15 sự kiện nổi bật năm 2025 của ngành Tư pháp.
Công bố lệnh của Chủ tịch nước về 12 luật đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10

Công bố lệnh của Chủ tịch nước về 12 luật đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10

Sáng 07/01, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về việc công bố 12 luật vừa được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10. Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Trợ lý Chủ tịch nước Cấn Đình Tài chủ trì Họp báo.

Theo dõi chúng tôi trên: