Thứ bảy 06/06/2026 10:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ dân sự theo pháp luật Việt Nam

Bài viết nghiên cứu các quy định về tài sản, quyền tài sản, nghĩa vụ dân sự, chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005 và 2015 đều có những quy định về tài sản, quyền tài sản, nghĩa vụ dân sự (NVDS), chuyển giao quyền yêu cầu (QYC), chuyển giao NVDS. Các quy định của pháp luật đã tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy giao lưu dân sự, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch, duy trì ổn định xã hội và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Tuy nhiên, sau gần 10 năm thực hiện Bộ luật Dân sự năm 2015 cho thấy, một số quy định về tài sản, quyền tài sản và chuyển giao QYC, chuyển giao nghĩa vụ không còn phù hợp với thực tế cũng như thông lệ quốc tế. Điều này chưa thực sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch, gây khó khăn cho việc thực hiện pháp luật trên thực tế, có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế - xã hội nước ta. Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về chuyển giao QYC, chuyển giao NVDS là thực sự cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

1. Khái niệm về chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ dân sự

1.1. Khái niệm về quyền yêu cầu và nghĩa vụ dân sự

Theo Từ điển Tiếng Việt, “quyền” là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi; những điều do địa vị hay chức vụ mà được làm[1]; còn “nghĩa vụ” là việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác[2]. Theo Từ điển Luật học, quyền là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó, cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế[3]; còn nghĩa vụ là việc phải làm theo bổn phận của mình. Mối quan hệ phát sinh giữa một hay nhiều chủ thể (người có nghĩa vụ) phải làm một công việc, thực hiện một hành vi hoặc không được làm một công việc, một hành vi, vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (người có quyền)[4]. Như vậy, có thể hiểu, QYC và NVDS như sau:

- QYC có nghĩa là quyền của một hoặc một số chủ thể được yêu cầu ai đó phải làm, không được làm một, một số việc gì đó cho mình, cho xã hội và cho người khác. QYC được pháp luật công nhận, bảo đảm thực hiện và có thể xuất phát từ hợp đồng, giao dịch dân sự, hành vi dân sự đơn phương, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng... hoặc do chức vụ, địa vị xã hội tạo ra. Đối tượng của QYC có thể là tài sản, công việc phải làm hoặc không được làm...

- NVDS là việc mà theo quy định của pháp luật, một hoặc nhiều chủ thể (người có nghĩa vụ) phải làm hoặc không được làm vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (người có quyền). NVDS có thể phát sinh từ hợp đồng dân sự, hành vi dân sự đơn phương, việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật... Đối tượng của NVDS có thể là tài sản, công việc phải làm hoặc không được làm. Tuy nhiên, chỉ những tài sản có thể đem giao dịch được và những công việc có thể thực hiện được mà pháp luật không cấm, không trái đạo đức xã hội mới là đối tượng của NVDS[5].

Các bên chủ thể trong quan hệ QYC và NVDS có quyền, nghĩa vụ đối lập nhau, một bên chủ thể (bên có nghĩa vụ) phải làm hoặc không được làm một hoặc một số công việc nhất định vì lợi ích của chủ thể phía bên kia (bên có quyền). Khác với quyền nhân thân gắn liền với chủ thể của quyền, không trị giá được bằng tiền nên không chuyển giao được trong giao lưu dân sự, QYC và NVDS có thể trị giá được bằng tiền nên có thể chuyển giao được trong giao lưu dân sự, trừ khi bị pháp luật cấm hoặc hạn chế hoặc các bên có thỏa thuận khác.

1.2. Khái niệm về chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ dân sự

Về bản chất pháp lý, chuyển giao QYC và chuyển giao NVDS là sự chuyển dịch QYC và nghĩa vụ pháp lý từ chủ thể chuyển giao sang chủ thể nhận chuyển giao hay còn gọi là bên thế quyền, bên thế NVDS. Đối với chuyển giao QYC, sau khi chuyển giao, chủ thể nhận chuyển giao sẽ thay thế người chuyển giao QYC và trở thành người có QYC, người chuyển giao sẽ chấm dứt QYC của mình. Đối với chuyển giao nghĩa vụ, sau khi chuyển giao, người nhận chuyển giao sẽ thay thế người có nghĩa vụ trước và trở thành bên có nghĩa vụ. Khi chuyển giao QYC và chuyển giao NVDS thì bên chuyển giao phải chuyển giao toàn bộ các quyền, nghĩa vụ có liên quan đến QYC và NVDS, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

Nghĩa vụ hay trái quyền là một quyền đối nhân, một loại tài sản vô hình, một quan hệ pháp luật dân sự tương đối. Cho nên việc chuyển giao nghĩa vụ phức tạp hơn so với chuyển giao vật và quyền đối vật, kể cả nhìn nhận từ góc độ của nghĩa vụ chuyển giao. Đồng thời, nghĩa vụ là trách nhiệm của bên có nghĩa vụ phải làm, phải thực hiện công việc nhất định cho bên mang quyền nên khi chuyển giao NVDS phải được sự đồng ý của bên mang quyền. Sau khi chuyển giao, người chuyển giao chấm dứt quan hệ nghĩa vụ với bên mang quyền và không phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nghĩa vụ của người thế nghĩa vụ, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

Tuy nhiên, không phải bất kỳ QYC và NVDS nào cũng được chuyển giao. Về cơ bản, chỉ những QYC và NVDS liên quan đến tài sản, trị giá được bằng tiền và được pháp luật cho phép thì mới được chuyển giao. Những quyền dân sự và NVDS liên quan đến nhân thân, tính mạng, sức khỏe, không trị giá được bằng tiền thì sẽ không được chuyển giao. Chính vì vậy, chuyển giao QYC và chuyển giao nghĩa vụ có một số đặc điểm pháp lý cơ bản như sau:

Thứ nhất, chuyển giao QYC và chuyển giao nghĩa vụ là một tác động pháp lý liên quan đến sản nghiệp của các bên trong tác động đó vì quan hệ nghĩa vụ là quan hệ sản nghiệp, trong đó, QYC là yếu tố của tích sản và nghĩa vụ là yếu tố của tiêu sản. Trong quan hệ nghĩa vụ, QYC là một phần trong sản nghiệp của một người, còn nghĩa vụ phải thực hiện là một phần nằm trong phần tiêu sản của người đó. Vì thế, chuyển giao QYC, chuyển giao nghĩa vụ liên quan đến tài sản, quyền tài sản.

Thứ hai, chuyển giao QYC và chuyển giao nghĩa vụ đều thuộc đối tượng của luật tư vì chúng tác động tới sản nghiệp - một loại đối tượng quan trọng của luật tư[6]. Nói tới chuyển giao QYC và chuyển giao nghĩa vụ tức là nói tới NVDS hay trái quyền dân sự - một chế định lớn của luật dân sự. Chính vì thế, các Bộ luật Dân sự của Việt Nam nói riêng và pháp luật dân sự của các nước trên thế giới không thể thiếu các quy định về NVDS, trong đó có quy định về chuyển giao NVDS.

2. Pháp luật về chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ dân sự và kiến nghị hoàn thiện

2.1. Quy định của pháp luật về quyền yêu cầu, nghĩa vụ dân sự và kiến nghị hoàn thiện

Quyền yêu cầu là một thuật ngữ có phạm vi rất rộng, xuất phát từ nhiều vấn đề khác nhau trong đời sống xã hội nên pháp luật khó có thể tổng hợp, liệt kê được hết QYC là những quyền gì, xuất phát từ đâu. Chính vì vậy, Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005 và 2015 đã không đưa ra khái niệm, nội hàm khái niệm hay bất kỳ sự giải thích nào về QYC, tuy nhiên, có đưa ra khái niệm về nghĩa vụ, NVDS. Điều 274 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”.

Điều 274 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sử dụng thuật ngữ “nghĩa vụ” để thay thế thuật ngữ “nghĩa vụ dân sự” được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995 (Điều 285) và Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 280). Về cơ bản, nội hàm khái niệm “nghĩa vụ” trong Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn giống khái niệm “nghĩa vụ dân sự” trong Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005 và 2015 đều chưa làm rõ được ngoại diên của khái niệm “nghĩa vụ dân sự”; chưa làm rõ được tính chất của nghĩa vụ là một vấn đề của sản nghiệp - một trong những đối tượng điều chỉnh quan trọng của pháp luật dân sự. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng về mặt logic tới việc xác định QYC trong quan hệ nghĩa vụ là một quyền tài sản để có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự. Trong khi đó, khái niệm tài sản tại Điều 105 và quyền tài sản tại Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa làm rõ được QYC hay trái quyền có phải là quyền tài sản hay không[7].

Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005 và 2015 đã đưa ra định nghĩa về tài sản nhưng theo phương thức liệt kê tài sản. Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 khẳng định tài sản chỉ bao gồm 04 loại đã được liệt kê trong Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005 và làm rõ thêm quyền sử dụng đất trong các quyền tài sản nhưng chưa làm rõ QYC trong quan hệ NVDS có phải là một loại quyền tài sản hay không. Trên thực tế, các chủ thể mang quyền vẫn thực hiện chuyển QYC và thu được tiền hoặc những lợi ích kinh tế nhất định. Cho nên, Bộ luật Dân sự năm 2015 cần sửa đổi và quy định rõ QYC trong quan hệ NVDS là quyền tài sản.

Hiện nay, hầu hết các Bộ luật Dân sự trên thế giới không đưa ra định nghĩa về tài sản vì tài sản là một khái niệm rất rộng, biến động và luôn được bổ sung, mở rộng thêm trên cơ sở nhận thức của con người, như một số nước đã thừa nhận thông tin dữ liệu, tiền ảo, tiền số... là tài sản. Thông tin được hiểu là những dữ liệu về người, về đối tượng, sự kiện, hiện tượng và quy trình không phụ thuộc vào hình thức thể hiện của chúng. Cho nên thông tin dữ liệu được coi là tài sản hay quyền tài sản và có thể tham gia các giao dịch dân sự, trở thành đối tượng của các quan hệ công, luật dân sự và các quan hệ pháp luật khác. Tuy nhiên, ở Việt Nam, thông tin dữ liệu chưa được quy định là tài sản hay quyền tài sản nhưng trên thực tế, các giao dịch liên quan đến việc mua bán thông tin vẫn được thực hiện. Đồng thời, một số nước trên thế giới đã có những quy định và thừa nhận tiền ảo, tài sản ảo là tài sản nhưng ở Việt Nam chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về tiền ảo, tài sản ảo. Vì vậy, Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 cần sửa đổi quy định về tài sản theo hướng mở. Tài sản là bất cứ thứ gì mà có thể định giá được bằng tiền mà không theo quy định liệt kê như hiện nay để phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội và thông lệ quốc tế.

2.2. Quy định của pháp luật về chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ dân sự và kiến nghị hoàn thiện

Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005 và 2015 đều có những quy định về việc chuyển giao QYC và chuyển giao nghĩa vụ (Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định từ Điều 315 đến Điều 323; Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định từ Điều 309 đến Điều 387; Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định từ Điều 365 đến Điều 384).

- Về chuyển giao QYC: Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, bên có QYC thực hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao QYC đó cho người thế quyền theo thỏa thuận, trừ trường hợp: (i) QYC cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín; (ii) Bên có quyền và bên có nghĩa vụ có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về việc không được chuyển giao QYC. Sau khi chuyển giao, người nhận chuyển giao sẽ thay thế người chuyển giao có QYC và người chuyển giao sẽ chấm dứt QYC. Người chuyển giao QYC phải cung cấp các thông tin cần thiết, các giấy tờ có liên quan đến QYC cho người được chuyển giao; trường hợp QYC thực hiện nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm thì việc chuyển giao QYC sẽ bao gồm cả biện pháp bảo đảm. Sau khi chuyển giao, người chuyển giao QYC không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của nhận chuyển giao QYC, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Việc chuyển giao QYC không cần phải có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên có nghĩa vụ biết về việc chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Trường hợp các bên chuyển giao QYC không thông báo về việc chuyển giao và bên nhận chuyển giao QYC không chứng minh được về việc QYC thực hiện NVDS đã được chuyển giao thì bên có nghĩa vụ có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ cho bên nhận chuyển giao; đồng thời, nếu bên chuyển giao QYC không thông báo việc chuyển giao mà phát sinh chi phí cho bên có nghĩa vụ thì bên chuyển giao QYC phải thanh toán chi phí này hoặc bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ cho bên chuyển giao rồi thì bên nhận chuyển giao không được QYC bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ cho mình nữa.

- Về việc chuyển giao NVDS: Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật quy định không được chuyển giao nghĩa vụ. Trường hợp nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đó chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Sau khi được chuyển giao nghĩa vụ, bên nhận chuyển giao trở thành bên có nghĩa vụ, bên chuyển giao chấm dứt nghĩa vụ và không phải thực hiện nghĩa vụ.

Quy định của pháp luật về chuyển giao QYC, chuyển giao NVDS đã tạo điều kiện, thúc đẩy giao dịch dân sự, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội nước ta. Trên thực tế, nhiều giao dịch liên quan đến việc chuyển giao QYC và chuyển giao NVDS đã được thực hiện như việc mua bán nợ của các ngân hàng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, một số quy định của pháp luật về chuyển giao QYC và chuyển giao NVDS còn tồn tại bất cập như sau:

Thứ nhất, Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa có điều khoản nào quy định cụ thể về hình thức của việc chuyển giao QYC, chuyển giao NVDS, điều này phần nào gây khó khăn cho việc thực hiện và chưa thực sự bảo đảm an toàn cho các bên tham gia giao dịch trên thực tế. Khoản 1 Điều 450 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trong trường hợp mua bán quyền tài sản thì bên bán phải chuyển giấy tờ cho bên mua. Giấy tờ chuyển giao ở đây là các giấy tờ chứng minh quyền tài sản. Trên nhiều phương diện, QYC và NVDS là thứ vô hình, khó xác định nên để bảo đảm an toàn cho các chủ thể tham gia giao dịch, Bộ luật Dân sự năm 2015 cần quy định việc chuyển giao QYC và chuyển giao NVDS phải được thể hiện bằng văn bản. Trường hợp QYC và NVDS liên quan đến tài sản mà pháp luật quy định giao dịch phải được công chứng, chứng thực thì việc chuyển giao QYC và chuyển giao NVDS cũng phải được công chứng, chứng thực theo đúng quy định.

Thứ hai, Điều 370 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc chuyển giao NVDS chỉ cần bên có quyền đồng ý mà không quy định rõ có bắt buộc phải được sự chấp thuận đồng ý của cả bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao NVDS hay không. Điều này gây khó khăn cho việc áp dụng trong thực tế. Chẳng hạn, trong trường hợp người con vay tiền nhưng đến hạn không trả nợ được tiền vay nên bố mẹ đã viết giấy cam kết và ký xác nhận về việc sẽ chịu trách nhiệm trả tiền thay cho người con. Tuy nhiên, đến thời hạn cam kết, bố mẹ của người vay tiền cũng không trả tiền cho người cho vay tiền. Vậy, trong trường hợp này, giấy cam kết của bố mẹ về việc trả nợ thay cho người con có hiệu lực pháp luật hay không và người cho vay tiền có quyền căn cứ vào giấy cam kết để khởi kiện ra Tòa án buộc bố mẹ của người vay tiền phải trả nợ thay cho người con hay không. Trường hợp này có hai quan điểm:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, bên cho vay tiền là người có quyền đã đồng ý cho bố mẹ của người vay tiền được trả nợ thay cho người con, vì thế, bố mẹ của người vay tiền là người thế nghĩa vụ của người vay tiền; đồng thời, bố mẹ của người vay tiền hoàn toàn tự nguyện, chấp thuận đồng ý viết giấy cam kết sẽ trả nợ tiền vay thay cho người con, tức là bố mẹ đã thế nghĩa vụ trả tiền cho người con nên giấy cam kết của bố mẹ về việc trả tiền thay cho người con có hiệu lực pháp luật và bên cho vay hoàn toàn có quyền căn cứ vào giấy cam kết để khởi kiện yêu cầu bố mẹ của người vay tiền phải thực hiện nghĩa vụ thay cho người con.

- Quan điểm thứ hai cho rằng, người vay tiền chưa chấp thuận đồng ý về việc chuyển giao nghĩa vụ trả nợ tiền vay cho bố mẹ nên giấy cam kết của bố mẹ người vay tiền về việc trả nợ tiền vay thay cho người con không có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, bên cho vay tiền không thể căn cứ vào giấy cam kết của bố mẹ người vay tiền để khởi kiện ra Tòa án yêu cầu bố mẹ của người vay tiền phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay thay cho người con được.

Vì vậy, Điều 370 Bộ luật Dân sự năm 2015 cần sửa đổi và quy định cụ thể việc chuyển giao NVDS phải được sự chấp thuận đồng ý của các bên, kể cả bên có quyền, bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao.

Thứ ba, Điều 371 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, nếu nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm thì khi chuyển giao nghĩa vụ, biện pháp đó chấm dứt, trừ khi có thỏa thuận khác. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có mục đích bảo vệ quyền lợi cho bên có quyền là nghĩa vụ sẽ được thực hiện. Vì thế, trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ thì bên bảo đảm có trách nhiệm thực hiện thay nghĩa vụ. Vì vậy, Điều 371 cần quy định theo hướng, nếu nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm thì khi chuyển giao nghĩa vụ sẽ chuyển giao cả biện pháp bảo đảm đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Quy định như vậy, khi chuyển giao nghĩa vụ thì đương nhiên chuyển giao cả biện pháp bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận việc chuyển giao nghĩa vụ không bao gồm chuyển giao biện pháp bảo đảm./.

Đào Khánh Linh

Ban Tôn giáo Chính phủ

[1]. Hoàng Phê, Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng, tr. 815.

[2]. Hoàng Phê, Viện Ngôn ngữ học (2002), tlđd, tr. 679.

[3]. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Nxb. Tư pháp, tr. 648.

[4]. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), tlđd, tr. 560.

[5]. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), tlđd, tr. 562.

[6]. Ngô Huy Cương (2023), Giáo trình luật dân sự 1- Phần chung, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 52 - 57.

[7]. Ngô Huy Cương (2023), Bài giảng điện tử về luật nghĩa vụ, Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: