Thứ tư 22/04/2026 10:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.

Từ khóa: quyền tiếp cận thông tin; quyền con người; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; chuyển đổi số.

THE RIGHT TO ACCESS INFORMATION IN VIETNAMESE LAW - CURRENT SITUATION AND DIRECTION FOR IMPROVEMENT

Abstract: The 2016 Law on Access to Information has created an important legal framework to ensure transparency and accountability of state agencies. However, in the face of digital transformation and data protection requirements, many current regulations reveal limitations. This article analyzes some shortcomings regarding the scope of information providers, mechanisms for restricting rights, and the lack of synchronization with data laws; it also compares the law with international standards. Based on this, it proposes improvements to the law based on the principles of maximum transparency, the application of harm control mechanisms and benefit balancing, the expansion of transparency obligations, and increased digitalization, in order to ensure the substantive implementation of the right to access information in a rule-of-law state.

Keywords: Right to access information; human rights; 2016 Law on Access to Information; digital transformation.

Đặt vấn đề

Quyền tiếp cận thông tin là quyền cơ bản của con người, được ghi nhận tại Điều 19 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (UDHR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và được quy định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013). Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã thiết lập khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số và gia tăng yêu cầu bảo vệ dữ liệu, các quy định hiện hành đã bộc lộ một số hạn chế như phạm vi chủ thể cung cấp thông tin còn hẹp, căn cứ hạn chế quyền thiếu tiêu chí kiểm soát chặt chẽ, cơ chế cân bằng lợi ích công cộng chưa rõ ràng và thiếu đồng bộ với các luật về dữ liệu.

1. Khung pháp lý về quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin trở thành “từ khóa” trung tâm của thế kỷ XXI, trong bối cảnh dữ liệu được các Chính phủ và doanh nghiệp tư nhân thu thập với quy mô ngày càng lớn, qua đó, gia tăng đáng kể quyền lực của chủ thể nắm giữ thông tin trong việc tác động và định hình các lợi ích quốc gia[1]. Một Nhà nước, đặc biệt là Nhà nước dân chủ, không thể thiết lập tính chính danh dựa trên sự thiếu minh bạch, sự bóp méo pháp luật hay xem nhẹ các quyền con người. Theo Điều 19 UDHR, bảo đảm cho mọi người “quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin và ý tưởng bằng bất kỳ phương tiện nào”, qua đó, xác lập khuôn khổ pháp lý rộng, bao trùm thông tin, tri thức và ý tưởng có ý nghĩa công cộng. Tăng cường khả năng tiếp cận thông tin công trở thành vấn đề chiến lược trong chương trình nghị sự của nhiều quốc gia. Với tư cách là quyền phổ quát, cơ bản và mang tính hiến định, quyền tiếp cận thông tin công thường được định vị như “ôxy của nền dân chủ”[2]. Quyền này có mối liên hệ hữu cơ với việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và chính trị, đồng thời, tạo điều kiện để cá nhân đưa ra các quyết định dựa trên thông tin đầy đủ. Thông qua bảo đảm khả năng tiếp cận các tài liệu, thông tin do Nhà nước nắm giữ và trong một số trường hợp là các chủ thể ngoài Nhà nước thực hiện chức năng công, quyền tiếp cận thông tin trở thành công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và hạn chế quản lý yếu kém. Công khai thông tin làm gia tăng niềm tin của người dân vào Chính phủ, nếu che giấu sẽ tạo hiệu ứng ngược lại. Niềm tin của Nhân dân là yếu tố then chốt tạo sự ổn định chính trị, nên công khai thông tin cần được coi là sự ưu tiên của Chính phủ[3]. Đồng thời, đây là tiêu chí cốt lõi để đánh giá mức độ quản trị dân chủ, sự cởi mở của xã hội đối với việc tham gia của công dân, qua đó, đặt nền tảng cho không gian tranh luận công khai, có hiểu biết, dựa trên các nguyên tắc minh bạch, tôn trọng quyền con người và trách nhiệm giải trình[4].

Dưới góc độ nghiên cứu, quyền tiếp cận thông tin là quyền của mọi công dân được tiếp cận các thông tin được ban hành và lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức công quyền[5] và là một bộ phận cấu thành trung tâm của quyền tự do ngôn luận[6]. Quyền này vừa bao hàm quyền chung của công chúng được tiếp cận thông tin vì lợi ích công cộng từ nhiều nguồn khác nhau, vừa gồm quyền của các cơ quan truyền thông trong việc tiếp cận thông tin[7]. Quyền tiếp cận thông tin không chỉ được ghi nhận như quyền tự thân của công dân, mà còn được định vị là cơ chế hiến định bảo đảm thực thi dân chủ và kiểm soát quyền lực nhà nước. So với quy định tại Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2000), Hiến pháp năm 2013 đã có bước tiến quan trọng khi chuyển từ quy định công dân “có quyền được thông tin” (Điều 69) sang “có quyền tiếp cận thông tin” (Điều 25). Sự thay đổi này thể hiện cách tiếp cận tiến bộ, nhấn mạnh tính chủ động của công dân trong việc tìm kiếm, yêu cầu và khai thác thông tin từ cơ quan nhà nước, thay vì chỉ thụ động tiếp nhận thông tin được cung cấp. Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý cho việc ban hành các văn bản pháp luật nhằm bảo đảm minh bạch và tăng cường trách nhiệm giải trình của Nhà nước.

Thứ nhất, trên cơ sở hiến định, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã thiết lập khuôn khổ pháp lý tương đối toàn diện nhằm cụ thể hóa trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước. Cách tiếp cận nổi bật của Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 là xây dựng cơ chế phân loại thông tin theo hướng cân bằng giữa nguyên tắc minh bạch hóa tối đa và yêu cầu bảo vệ các lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia và quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan. Nghị định số 13/2018/NĐ-CP ngày 23/01/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật tiếp cận thông tin (Nghị định số 13/2018/NĐ-CP), góp phần chuẩn hóa quy trình, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực thi quyền này trên thực tế. Theo khoản 1 Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, “thông tin” được hiểu là dữ liệu, tin tức do cơ quan nhà nước tạo ra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Trên cơ sở đó, khoản 1 Điều 4 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 khẳng định nguyên tắc chung: công dân có quyền tiếp cận thông tin, trừ trường hợp thông tin thuộc phạm vi không được tiếp cận hoặc tiếp cận có điều kiện theo quy định của luật. Cách tiếp cận này về mặt hình thức phù hợp với Điều 19 Công ước ICCPR, theo đó, quyền tự do tìm kiếm và tiếp cận thông tin chỉ có thể bị hạn chế bằng luật và vì những mục tiêu chính đáng.

Thứ hai, trách nhiệm cung cấp thông tin thuộc các cơ quan nhà nước[8]. Trong hệ thống hành pháp, nghĩa vụ minh bạch hóa thông tin thuộc về các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp. Đồng thời, phạm vi trách nhiệm này cũng bao quát toàn diện các cơ quan lập pháp, tư pháp và các định chế hiến định độc lập khác, gồm: Quốc hội, Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp… Để bảo đảm quy trình vận hành thực tế được thông suốt, pháp luật thiết lập cơ chế thông qua các đầu mối cung cấp thông tin chuyên trách. Theo đó, các cơ quan trực thuộc như Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ… đóng vai trò là bộ phận nòng cốt, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giúp các cơ quan chủ quản cung cấp thông tin cho công dân một cách kịp thời và có hệ thống. Cơ cấu tổ chức này nhằm mục tiêu xác định rõ ranh giới trách nhiệm giải trình giữa cơ quan tạo lập thông tin và bộ phận đầu mối tiếp nhận, xử lý yêu cầu.

Thứ ba, đối với nhóm thông tin phải được công khai, Điều 5 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thể hiện rõ nguyên tắc “công khai tối đa” (maximum disclosure). Nguyên tắc này khẳng định, mọi thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ mặc nhiên phải được tiếp cận và chỉ bị từ chối trong những trường hợp hết sức hạn chế. Bên cạnh đó, mọi người, không chỉ công dân, đều được thụ hưởng quyền này; người yêu cầu cung cấp thông tin không cần chứng minh bất kỳ lợi ích cụ thể nào liên quan đến thông tin đó cũng như không phải giải thích lý do yêu cầu[9]. Theo Điều 17 và Điều 23, thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra trong quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ phải được công khai chủ động hoặc cung cấp theo yêu cầu của công dân, trừ trường hợp thuộc diện hạn chế theo luật định.

Nghị định số 13/2018/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa hình thức, thời điểm và phương thức công khai, qua đó, làm rõ nghĩa vụ chủ động của cơ quan nhà nước, thay vì chỉ phản ứng thụ động trước yêu cầu của người dân tại Điều 3 và Điều 4. Quy định này phản ánh tư duy “Chính phủ mở” (Open Government), coi thông tin công là một dạng tài sản công, việc tiếp cận rộng rãi không chỉ phục vụ quyền cá nhân mà còn thúc đẩy hiệu quả quản trị, tăng cường niềm tin xã hội và trách nhiệm giải trình của bộ máy công quyền[10]. Mục 16 Đạo luật Tự do thông tin năm 2000 (Freedom of Information Act 2000 - FOIA năm 2000) cũng đặt ra nghĩa vụ tương tự và hơn thế coi việc công khai chủ động là nguyên tắc trung tâm và yêu cầu cơ quan công quyền phải hỗ trợ người yêu cầu thông tin (duty to assist), thay vì chỉ đáp ứng một cách thụ động.

Thứ tư, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 xác định nguyên tắc chung, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật và trong những trường hợp cần thiết. Trên cơ sở nguyên tắc hiến định này, Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thiết lập các giới hạn cụ thể đối với quyền tiếp cận thông tin thông qua việc loại trừ các thông tin thuộc bí mật nhà nước và những thông tin mà việc công khai có thể gây phương hại nghiêm trọng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc quan hệ quốc tế. Quy định này phản ánh nguyên tắc hạn chế quyền trong xã hội dân chủ, theo đó, quyền con người, dù mang tính cơ bản, vẫn có thể bị giới hạn nhằm bảo vệ các lợi ích tối cao của quốc gia và cộng đồng.

Thứ năm, nhóm thông tin được tiếp cận có điều kiện phản ánh nỗ lực dung hòa giữa quyền tiếp cận thông tin với yêu cầu bảo vệ quyền riêng tư, bí mật cá nhân và lợi ích kinh tế hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Cụ thể, khoản 1 Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định công dân chỉ được tiếp cận thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh khi có sự đồng ý của chủ thể sở hữu bí mật đó; khoản 2 Điều 7 áp dụng nguyên tắc tương tự đối với thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình. Theo đó, trong những trường hợp nhất định, người đứng đầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể quyết định cung cấp hoặc công khai thông tin thuộc bí mật cá nhân hoặc bí mật kinh doanh nếu việc công khai đó nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng, an toàn xã hội hoặc lợi ích công cộng rộng lớn hơn, mà không cần sự đồng ý của chủ thể thông tin. Cơ chế này cho thấy, xu hướng tiếp cận tiến bộ, tiệm cận với các hệ thống pháp luật hiện đại, song cũng đặt ra yêu cầu cao về tiêu chí đánh giá, thẩm quyền và trách nhiệm giải trình nhằm tránh nguy cơ lạm dụng hoặc xâm phạm quyền riêng tư. Cách tiếp cận này tương đồng với Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (GDPR), khi đặt quyền riêng tư và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân như những giới hạn chính đáng đối với quyền tiếp cận thông tin.

Pháp luật Việt Nam thừa nhận cơ chế ưu tiên lợi ích công cộng đối với bí mật cá nhân và bí mật kinh doanh. Cụ thể, theo khoản 3 Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, trong trường hợp vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, sức khỏe cộng đồng hoặc phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, người đứng đầu cơ quan nhà nước có thể quyết định cung cấp thông tin mà không cần sự đồng ý của chủ thể liên quan. Cơ chế này về bản chất tiệm cận với nguyên tắc ưu tiên lợi ích công cộng (public interest override) trong pháp luật Anh, theo đó, ngay cả những thông tin thuộc diện miễn trừ vẫn có thể được công khai nếu lợi ích công cộng của việc tiết lộ lớn hơn lợi ích của việc giữ bí mật. Đây là việc kiểm tra lợi ích công cộng (Public Interest Test - PIT)[11].

2. Một số bất cập của quy định hiện hành về tiếp cận thông tin

Sau gần 10 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã bộc lộ một số hạn chế về phạm vi điều chỉnh, chuẩn mực hạn chế quyền và mức độ thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số, đặt ra yêu cầu cần được rà soát và hoàn thiện.

Một là, về phạm vi chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 tiếp cận theo hướng giới hạn đối tượng điều chỉnh chủ yếu ở các cơ quan nhà nước. Cách tiếp cận này chưa theo kịp xu hướng mở rộng chủ thể thực hiện quyền lực công trong quản trị hiện đại, nơi chức năng, quyền lực công không chỉ được thực thi bởi các cơ quan hành chính thuần túy mà còn bởi các đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước. Trên thực tế, các chủ thể này đang nắm giữ lượng lớn thông tin có ý nghĩa thiết yếu đối với đời sống người dân, từ dữ liệu khám chữa bệnh, giáo dục - đào tạo cho đến thông tin môi trường, đất đai và dịch vụ hạ tầng. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 không đặt ra nghĩa vụ minh bạch hóa tương xứng đối với các thực thể này, đã hình thành “khoảng trống minh bạch”, làm suy giảm hiệu lực thực chất của quyền tiếp cận thông tin. Dưới góc độ quản trị công, minh bạch không gắn với hình thức tổ chức mà gắn với chức năng công và việc sử dụng nguồn lực công[12]. Do đó, việc tiếp tục duy trì ranh giới giữa cơ quan nhà nước và các chủ thể cung ứng dịch vụ công đang đi ngược lại yêu cầu bảo đảm quyền con người trong điều kiện Nhà nước chuyển dần từ mô hình “quản lý” sang “kiến tạo và phục vụ”.

Hai là, các quy định về thông tin không được tiếp cận tại Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 bộc lộ bất cập về mặt chuẩn mực pháp lý. Các khái niệm như “gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước”, “ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh” hay “bí mật công tác” mang tính định tính cao, thiếu tiêu chí nhận diện cụ thể và cơ chế kiểm soát độc lập. Điều này có thể dẫn đến việc mở rộng tùy nghi phạm vi thông tin thuộc diện miễn trừ, làm suy yếu nguyên tắc công khai tối đa vốn được coi là “linh hồn” của pháp luật tiếp cận thông tin[13]. Cách tiếp cận này còn thiếu cơ chế “kiểm tra tính cần thiết và tương xứng” (necessity and proportionality test), vốn được Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc nhấn mạnh trong Bình luận chung số 34, theo đó, việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải chứng minh được mối liên hệ trực tiếp giữa việc tiết lộ thông tin và nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích được bảo vệ[14]. Nhiều quốc gia đã áp dụng nguyên tắc “kiểm tra tác hại” (harm test) kết hợp với PIT, theo đó, cơ quan nhà nước không chỉ viện dẫn lý do bảo mật mà còn phải chứng minh được nguy cơ thiệt hại cụ thể, nghiêm trọng và có khả năng xảy ra nếu thông tin bị tiết lộ. Việc Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 chưa nội luật hóa đầy đủ các tiêu chuẩn này làm cho quyền tiếp cận thông tin có thể bị thu hẹp trên thực tế, đồng thời, làm gia tăng sự bất cân xứng quyền lực giữa cơ quan cung cấp và người yêu cầu thông tin.

Ba là, thiếu đồng bộ giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với các đạo luật về dữ liệu và lưu trữ đang đặt ra thách thức về tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Lưu trữ năm 2024 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 được ban hành đã thiết lập các nguyên tắc và cơ chế pháp lý mới trong xử lý, chia sẻ và bảo mật dữ liệu trên môi trường số. Tuy nhiên, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 vẫn vận hành theo logic “tiếp cận theo yêu cầu” và “công khai phân tán”, thiếu cơ chế liên thông dữ liệu bắt buộc và thiếu sự phân định rõ ràng giữa thông tin công khai, dữ liệu cá nhân và dữ liệu nhạy cảm[15]. Hệ quả là thông tin được công bố rời rạc, khó truy cập, khó tái sử dụng. Đồng thời, sự chồng chéo về thẩm quyền và quy trình bảo mật giữa các luật đặt cơ quan nhà nước vào tình thế rủi ro pháp lý: hoặc quá thận trọng dẫn đến từ chối cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin nhưng tiềm ẩn nguy cơ vi phạm nghĩa vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Bốn là, trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển của kinh tế dữ liệu, việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hệ thống pháp luật. Thông tin của cơ quan nhà nước hiện nay được tạo lập và lưu trữ dưới dạng thông điệp dữ liệu, đòi hỏi pháp luật phải mở rộng cách hiểu về thông tin và thúc đẩy cơ chế công khai chủ động thông qua dữ liệu mở (Open Data) trên môi trường mạng. Đồng thời, quá trình cung cấp thông tin cần được số hóa toàn diện, bảo đảm kết nối và chia sẻ dữ liệu liên thông giữa các cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin phải hài hòa với yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng, đặc biệt, trong bối cảnh các đạo luật về dữ liệu và an ninh thông tin mới được ban hành[16]. Ngoài ra, quá trình số hóa cũng đặt ra yêu cầu bảo đảm tiếp cận công bằng cho các nhóm yếu thế và minh bạch hóa chi phí cung cấp thông tin.

3. Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về tiếp cận thông tin

Từ những hạn chế, bất cập như đã phân tích, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin như sau:

Một là, mở rộng phạm vi chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin. Trong các hệ thống pháp luật tiên tiến như Anh, Hà Lan hay bang Hamburg (Đức), nghĩa vụ minh bạch gắn với việc chủ thể đó có đang thực hiện quyền lực công hoặc sử dụng nguồn lực công hay không[17]. Cách tiếp cận này phản ánh sự dịch chuyển từ mô hình nhà nước quản lý truyền thống sang mô hình quản trị đa trung tâm, nơi nhiều thực thể khác nhau cùng tham gia cung ứng dịch vụ công. Trong bối cảnh Việt Nam, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 chỉ giới hạn nghĩa vụ cung cấp thông tin ở cơ quan nhà nước, đã bỏ sót các đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước. Vì thế, việc mở rộng phạm vi điều chỉnh theo tiêu chí chức năng công phù hợp với xu hướng tiếp cận dữ liệu công như một dạng tài sản công cần được quản trị vì lợi ích chung[18].

Hai là, việc chuyển đổi từ cách tiếp cận định tính sang cơ chế “kiểm tra tác hại” (harm test) kết hợp với “cân bằng lợi ích” (balancing test) cần được coi là trọng tâm trong sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Kinh nghiệm của Anh và Ấn Độ cho thấy, thông tin không đương nhiên được coi là bí mật chỉ vì thuộc một danh mục nhạy cảm được liệt kê trong luật[19]. Ngược lại, chủ thể có nghĩa vụ chứng minh việc tiết lộ thông tin đó sẽ gây ra nguy cơ thiệt hại cụ thể, có thể dự báo được và đạt đến mức độ nghiêm trọng nhất định đối với các lợi ích được bảo vệ. Đồng thời, ngay cả khi tồn tại nguy cơ tác hại, cơ quan có thẩm quyền vẫn phải tiến hành so sánh, cân nhắc giữa mức độ thiệt hại tiềm tàng và lợi ích công cộng mà việc công khai thông tin mang lại. Cách tiếp cận này không chỉ thúc đẩy nguyên tắc “công khai tối đa”, chuyển dịch từ “văn hóa bí mật” sang “văn hóa minh bạch”, mà còn cho phép bóc tách hợp lý phần thông tin cần bảo vệ để công khai phần còn lại khi lợi ích xã hội, sức khỏe và an toàn cộng đồng vượt trội. Quan trọng hơn, “harm test” góp phần tăng cường trách nhiệm giải trình, tạo cơ sở cho người dân thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện, qua đó, củng cố niềm tin xã hội và bảo đảm sự tương thích của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế. Việc sửa đổi điều luật này theo hướng thiết lập các tiêu chí pháp lý rõ ràng về mức độ nguy hại, phạm vi bảo vệ và nghĩa vụ chứng minh của cơ quan cung cấp là điều kiện cần thiết để bảo đảm tính dự báo và khả năng kiểm soát của pháp luật.

Ba là, cần thiết kế cơ chế áp dụng các trường hợp “thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện” theo quy trình hai bước bắt buộc trên cơ sở tham khảo FOIA năm 2000: (i) cơ quan nhà nước phải xác định và chứng minh “thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện” với thông tin được yêu cầu; (ii) phải tiến hành PIT, cân nhắc liệu việc duy trì bảo mật hay công khai thông tin phục vụ lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng tốt hơn. Chỉ khi lợi ích của việc giữ bí mật lớn hơn mới được từ chối cung cấp hoặc từ chối xác nhận, phủ nhận việc nắm giữ thông tin, còn nếu hai bên ngang nhau hoặc lợi ích công khai lớn hơn thì bắt buộc phải công bố[20]. Đồng thời, cần nghiên cứu quy định các tiêu chí đánh giá như mức độ và khả năng xảy ra thiệt hại, tính nghiêm trọng của thiệt hại, tuổi đời của thông tin, mức độ đóng góp vào giám sát công chúng và tình trạng công khai trước đó, nhằm bảo đảm tính thống nhất và hạn chế tùy nghi mở rộng ngoại lệ. Cuối cùng, cần thiết lập cơ chế giám sát độc lập đối với việc áp dụng “thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện” và PIT, qua đó, củng cố nguyên tắc công khai tối đa.

Bốn là, trong bối cảnh chuyển đổi số và sự gia tăng nhanh của dữ liệu điện tử, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin cần theo hướng thích ứng với môi trường dữ liệu số, đồng thời, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu minh bạch và bảo vệ quyền riêng tư. Trước hết, cần tái định nghĩa khái niệm “thông tin” theo hướng mở rộng, bao quát cả thư điện tử, tin nhắn điện thoại, dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu điện tử và cả thông tin do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra. Cùng với đó, trọng tâm của hoạt động công khai thông tin cần được chuyển dịch từ các hình thức niêm yết truyền thống sang các nền tảng số như cổng dữ liệu mở và các ứng dụng trực tuyến, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong tiếp cận, khai thác và tái sử dụng dữ liệu công[21].

Trong quá trình này, về phương diện kỹ thuật pháp lý và nghiệp vụ hành chính, việc chuẩn hóa cơ chế bóc tách thông tin (redaction), ẩn danh hóa và phân loại dữ liệu giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cân bằng giữa quyền tiếp cận thông tin và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân[22]. Do đó, việc ban hành các hướng dẫn kỹ thuật chi tiết về bóc tách, ẩn danh hóa và phân loại dữ liệu là cần thiết để bảo đảm Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 vận hành hài hòa với pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Qua đó, cho phép công khai những phần thông tin phục vụ lợi ích công cộng mà không xâm phạm đến quyền riêng tư của cá nhân.

Bên cạnh đó, pháp luật cũng cần thúc đẩy số hóa toàn bộ quy trình tiếp nhận, xử lý và cung cấp thông tin, gắn với hệ thống quản lý điện tử và cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu liên thông giữa các cơ quan nhà nước, qua đó, hình thành cơ chế tiếp cận thông tin “một cửa” trên môi trường mạng. Đồng thời, việc chuyển đổi sang mô hình tiếp cận thông tin dựa trên nền tảng số cần bảo đảm tính bao quát, thông qua cung cấp các định dạng thông tin phù hợp cho người khuyết tật, hỗ trợ ngôn ngữ cho người dân tộc thiểu số và duy trì kết hợp linh hoạt giữa phương thức truyền thống và phương thức số. Cách tiếp cận này góp phần bảo đảm mọi công dân, không phân biệt điều kiện xã hội hay khả năng tiếp cận công nghệ, đều có cơ hội tiếp cận thông tin một cách bình đẳng và hiệu quả.

Kết luận

Qua phân tích khung pháp lý quốc tế và pháp luật Việt Nam, đặc biệt, các quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cho thấy, Việt Nam đã bước đầu xây dựng được nền tảng pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền này. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số và sự gia tăng mạnh mẽ của việc thu thập, xử lý dữ liệu, pháp luật hiện hành bộc lộ một số hạn chế như phạm vi ngoại lệ tiếp cận thông tin còn rộng, tiêu chí xác định thông tin không được tiếp cận chưa rõ ràng và cơ chế bảo đảm thực thi còn thiếu hiệu quả. Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng minh bạch, thu hẹp các ngoại lệ, đồng thời, tăng cường cơ chế công khai và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm thực chất quyền tiếp cận thông tin trong bối cảnh quản trị nhà nước hiện đại và môi trường số./.

NCS. ThS. Trần Nguyễn Quang Hạ

Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

(Ảnh: Internet)

[1]. Didier Yangonzela Liambomba (2023), The Right of Access to Public Information: Human Rights Issues, Transparency and Good Governance, Constitutionale, số 4(1), https://doi.org/10.25041/constitutionale.v4i1.2601.

[2]. Didier Yangonzela Liambomba (2023), tlđd.

[3]. Dương Thị Bình (2009), Thực trạng quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17(154), tháng 9/2009.

[4]. Didier Yangonzela Liambomba (2023), tlđd.

[5]. Hoàng Minh Sơn (2016), Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201602/bao-dam-quyen-tiep-can-thong-tin-theo-tinh-than-cua-hien-phap-nam-2013-299953/, truy cập ngày 24/02/2026.

[6]. The Office of the High Commissioner for Human Rights, Access to information, https://www.ohchr.org/sites/default/files/Documents/Issues/Expression/Factsheet_5.pdf, truy cập ngày 24/02/2026.

[7]. The Office of the High Commissioner for Human Rights, tlđd.

[8]. Điều 9 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

[9]. TRANSPARENCY (2012), International standards: Right to information, https://www.article19.org/resources/international-standards-right-information/, truy cập ngày 27/02/2026.

[10]. Khuyến nghị của Hội đồng về Chính phủ mở của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD’s Recommendation of the Council on Open Government).

[11]. ICO, The public interest test, https://ico.org.uk/for-organisations/foi/freedom-of-information-and-environmental-information-regulations/the-public-interest-test/, truy cập ngày 27/02/2026.

[12]. Nguyễn Quốc Sửu (2026), Đổi mới quản trị công ở Việt Nam theo hướng minh bạch, công bằng và hiệu quả trong kỷ nguyên mới, https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/01/28/doi-moi-quan-tri-cong-o-viet-nam-theo-huong-minh-bach-cong-bang-va-hieu-qua-trong-ky-nguyen-moi/, truy cập ngày 28/02/2026.

[13]. Báo cáo số 757/BC-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp về đánh giá tác động chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).

[14]. Bình luận chung số 34 của Ủy ban nhân quyền, Kỳ họp 102, ngày 11 - 29/7/2011 tại Geneve, Thụy Sỹ được thông qua để thay thế cho Bình luận chung số 10 về Điều 19 ICCPR.

[15]. Báo cáo số 757/BC-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp về đánh giá tác động chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).

[16]. Juliane Müller (2025), Rights in the Digital Age, Stockholm, https://doi.org/10.31752/idea.2025.33, p. 42 - 43.

[17]. Báo cáo ngày 24/11/2025 của Bộ Tư pháp về nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật nước ngoài về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin.

[18]. Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp (2025), Sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2806, truy cập ngày 09/02/2026.

[19]. Báo cáo ngày 24/11/2025 của Bộ Tư pháp về nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật nước ngoài về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin.

[20]. ICO, tlđd.

[21]. Renato Berrino (2023), ODC’s contribution to the Global Digital Compact - Open Data and the Right to Privacy in a global digital strategy, https://odc.pubpub.org/pub/ggt0ptuu, truy cập ngày 10/02/2026.

[22]. Yik Chan Chin (2024), Right to data access in the digital era: the case of China, Epistemic Rights in the Era of Digital Disruption, Minna Aslama Horowitz, Hannu Nieminen, Katja Lehtisaari, Alessandro D’Arma, Nxb. Palgrave Macmillan, Cham, p. 192, 196.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bình luận chung số 34 của Ủy ban nhân quyền, Kỳ họp 102, ngày 11 - 29/7/2011 tại Geneve, Thụy Sỹ được thông qua để thay thế cho Bình luận chung số 10 về Điều 19 ICCPR.

2. Didier Yangonzela Liambomba (2023), The Right of Access to Public Information: Human Rights Issues, Transparency and Good Governance, Constitutionale, số 4(1), https://doi.org/10.25041/constitutionale.v4i1.2601.

3. Dương Thị Bình (2009), Thực trạng quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17(154), tháng 9/2009.

4. Hoàng Minh Sơn (2014), Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201602/bao-dam-quyen-tiep-can-thong-tin-theo-tinh-than-cua-hien-phap-nam-2013-299953/, truy cập ngày 24/02/2026.

5. ICO, The public interest test, https://ico.org.uk/for-organisations/foi/freedom-of-information-and-environmental-information-regulations/the-public-interest-test/, truy cập ngày 27/02/2026.

6. Juliane Müller (2025), Rights in the Digital Age, Stockholm, https://doi.org/10.31752/idea.2025.33.

7. Nguyễn Quốc Sửu (2026), Đổi mới quản trị công ở Việt Nam theo hướng minh bạch, công bằng và hiệu quả trong kỷ nguyên mới, https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/01/28/doi-moi-quan-tri-cong-o-viet-nam-theo-huong-minh-bach-cong-bang-va-hieu-qua-trong-ky-nguyen-moi/, truy cập ngày 28/02/2026.

8. Renato Berrino (2023), ODC’s contribution to the Global Digital Compact - Open Data and the Right to Privacy in a global digital strategy, https://odc.pubpub.org/pub/ggt0ptuu, truy cập ngày 10/02/2026.

9. The Office of the High Commissioner for Human Rights, Access to information, https://www.ohchr.org/sites/default/files/Documents/Issues/Expression/Factsheet_5.pdf, truy cập ngày 24/02/2026.

10. TRANSPARENCY (2012), International standards: Right to information, https://www.article19.org/resources/international-standards-right-information/, truy cập ngày 27/02/2026.

11. Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp (2025), Sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2806, truy cập ngày 09/02/2026.

12. Yik Chan Chin (2024), “Right to data access in the digital era: the case of China”, Epistemic Rights in the Era of Digital Disruption, Minna Aslama Horowitz, Hannu Nieminen, Katja Lehtisaari, Alessandro D’Arma, Nxb. Palgrave Macmillan, Cham.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (450) tháng 4/2026)

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghip ln thtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, s nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.

Theo dõi chúng tôi trên: