Thứ tư 06/05/2026 17:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.

Abstract: The development of electronic contracts in the context of profound and widespread digital transformation poses many challenges to the field of international private law. This is because current legislation is designed to regulate traditional contracts in determining jurisdiction and applicable law; however, electronic contracts have unique legal characteristics. This leads to difficulties in resolving conflicts of law and jurisdiction, affecting the effectiveness of protecting the legitimate rights and interests of the parties, especially the weaker party. This study analyzes the current situation and compares relevant regulations under Vietnamese law with those of the European Union (EU), and proposes several recommendations to contribute to the improvement of the law.

Đặt vấn đề

Luật Giao dịch điện tử năm 2023 với tư cách luật chuyên ngành điều chỉnh các giao dịch điện tử trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, trong khi các vấn đề giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền đối với hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài được áp dụng trên cơ sở Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2019, 2020, 2022, 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Tuy nhiên, quy định về thỏa thuận của các bên cùng các tiêu chí xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng dựa trên yếu tố lãnh thổ hữu hình như nơi cư trú, trụ sở của bị đơn; nơi xác lập hay thực hiện hợp đồng dần mờ nhạt và kém hiệu quả trong môi trường số. Nguyên nhân bởi hợp đồng điện tử chưa có điều khoản lựa chọn luật rõ ràng, việc thực hiện diễn ra tự động ngay khi hợp đồng được giao kết và có thể trải rộng qua nhiều quốc gia mà không có mối liên hệ vật lý cụ thể[1]. Vì vậy, nghiên cứu phân tích các vấn đề pháp lý của hợp đồng điện tử trong tư pháp quốc tế, đánh giá tính khả thi của các quy định hiện hành; từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trên cơ sở tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của EU.

1. Một số vấn đề về hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài trong tư pháp quốc tế

1.1. Quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử

Khoản 16 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 quy định: “hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu”. Cách tiếp cận này cho thấy, nhà làm luật không xây dựng một loại hợp đồng mới về nội dung mà chỉ ghi nhận một phương thức xác lập hợp đồng trong môi trường điện tử. Theo đó, Luật Giao dịch điện tử năm 2023 chủ yếu điều chỉnh phương thức thực hiện giao dịch bằng phương tiện điện tử, các vấn đề liên quan đến nội dung cũng như thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng vẫn thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đối chiếu với hợp đồng truyền thống cho thấy, hợp đồng điện tử có những đặc trưng pháp lý riêng biệt. Cụ thể:

Thứ nhất, về số lượng chủ thể tham gia. Nếu hợp đồng truyền thống chỉ cần sự tham gia của hai bên để giao kết hợp đồng thì đối với hợp đồng điện tử, có thể phát sinh vai trò của chủ thể trung gian như nhà cung cấp dịch vụ mạng, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử[2].

Thứ hai, về hình thức giao kết. Trong hợp đồng điện tử, hoạt động giao kết chủ yếu được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu. Trong khi, đối với hợp đồng truyền thống, hình thức giao dịch có thể bằng lời nói, văn bản, hành vi cụ thể hoặc hình thức khác do các bên thỏa thuận. Mặc dù, khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản, song, việc sử dụng chữ ký điện tử trong hợp đồng điện tử tạo nên khác biệt đáng kể so với chữ ký tay trong hợp đồng truyền thống.

Thứ ba, về quy trình giao kết. Đối với hợp đồng điện tử, các bên không cần gặp mặt trực tiếp như hợp đồng truyền thống, mà có thể tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết thông qua quá trình gửi và nhận thông điệp dữ liệu.

1.2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài và những vấn đề đặt ra đối với tư pháp quốc tế

Đối với hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài, hiện, pháp luật chưa quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật chính thức. Do đó, việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng điện tử về cơ bản dựa trên các tiêu chí chung tại khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm tiêu chí về chủ thể, sự kiện pháp lý hoặc đối tượng của hợp đồng. Tuy nhiên, về phương diện chủ thể, phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được mở rộng hơn so với Bộ luật Dân sự năm 2015 khi áp dụng cho cả tổ chức nước ngoài, tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài và không đòi hỏi có tư cách pháp nhân. Xuất phát từ đặc thù phi lãnh thổ, hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài thường liên quan đến hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau và cùng có thể được áp dụng để giải quyết một vấn đề cụ thể do nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng chủ quyền giữa các quốc gia. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật tại các quốc gia trên thế giới phản ánh chí ý quyền lực nhà nước, chủ quyền riêng biệt của quốc gia ban hành pháp luật. Chính vì sự khác biệt trong bản chất, nội dung của các hệ thống pháp luật quốc gia khác nhau dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật[3]. Đồng thời, các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài đặt ra vấn đề xung đột thẩm quyền giữa các cơ quan tài phán của các quốc gia liên quan.

Đặc biệt, hợp đồng điện tử có bản chất pháp lý đặc thù và quy trình giao kết hoàn toàn trong môi trường điện tử làm mờ các tiêu chí lãnh thổ truyền thống được sử dụng để xác định thẩm quyền và pháp luật áp dụng. Trong khi đó, pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên nền tảng quan hệ hợp đồng truyền thống, chưa phản ánh đầy đủ những đặc thù của hợp đồng điện tử như sự tham gia của các chủ thể trung gian, hình thức giao kết thông qua thông điệp dữ liệu, cũng như việc xác định địa điểm giao kết và thực hiện hợp đồng. Ví dụ, trong giao dịch mua bán hàng hóa xuyên biên giới trên các sàn thương mại điện tử như Amazon, khi người tiêu dùng tại Việt Nam đặt mua hàng hóa từ người bán tại Trung Quốc thông qua hợp đồng điện tử được thiết lập sẵn bởi nền tảng, quan hệ này liên quan đồng thời đến nhiều quốc gia: nơi cư trú của các bên, nơi đặt máy chủ… Hợp đồng được xác lập dưới hình thức “nhấp chọn”, trong khi nền tảng không có chi nhánh tại Việt Nam, dù website có giao diện tiếng Việt và chấp nhận thanh toán bằng tiền Việt Nam. Nếu phát sinh tranh chấp, chẳng hạn do hàng hóa không phù hợp hoặc có hành vi gian lận, người tiêu dùng sẽ gặp khó khăn trong việc xác định nơi cư trú của bị đơn khi không có hiện diện vật lý tại Việt Nam, nơi xác lập hợp đồng là Việt Nam hay quốc gia nơi đặt máy chủ để tiến hành khởi kiện. Vì vậy, việc hoàn thiện quy định về giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền đối với hợp đồng điện tử là cần thiết nhằm bảo đảm hiệu quả điều chỉnh pháp luật, tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên và thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế.

2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về xác định pháp luật áp dụng và thẩm quyền tài phán

2.1. Về xác định pháp luật áp dụng

Tại Việt Nam, pháp luật ghi nhận quyền tự do thỏa thuận chọn luật của các bên là một nguyên tắc nền tảng, được ưu tiên áp dụng trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài[4]. Theo đó, đối với hợp đồng điện tử, các bên có quyền thỏa thuận pháp luật điều chỉnh, ngoại trừ các trường hợp bị giới hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, thỏa thuận chọn luật của các bên phải tuân thủ năm điều kiện chọn luật theo quy định của pháp luật.

Trường hợp các bên không có thỏa thuận pháp luật điều chỉnh nội dung của hợp đồng, pháp luật của quốc gia có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng sẽ được áp dụng[5]. Để xác định “pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất”, khoản 2 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 liệt kê cách xác định đối với bốn loại hợp đồng cơ bản. Nhìn chung, đối với hợp đồng truyền thống, “mối liên hệ gắn bó nhất” thường xác định dựa vào nơi cá nhân cư trú hoặc nơi pháp nhân thành lập… Tuy nhiên, các tiêu chí này chỉ mang tính chất dự đoán, không dựa trên chuẩn mực tuyệt đối, dẫn đến việc xác định luật áp dụng mang tính đánh giá chủ quan, tiềm ẩn sự không thống nhất và rủi ro lớn về mặt pháp lý[6]. Đặc biệt, đối với hợp đồng điện tử mang tính phi vật chất, các tiêu chí xác định truyền thống trở nên kém hiệu quả. Việc các bên giao kết hoàn toàn qua môi trường trực tuyến, không gặp mặt trực tiếp, dẫn đến nguy cơ chủ thể cố tình giả mạo thông tin về nơi cư trú hay nơi thành lập pháp nhân, gây khó khăn trong quá trình xác định luật có liên hệ gắn bó nhất. Mặc dù khoản 3 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 (điều khoản loại trừ quy định tại khoản 2) cho phép áp dụng pháp luật của quốc gia khác nếu chứng minh được mối liên hệ gắn bó hơn với hợp đồng, song, nhiều vấn đề cần phải đặt ra như chủ thể nào có nghĩa vụ phải chứng minh, tính chất “gắn bó hơn” được hiểu như thế nào. Việc quy định khái quát làm suy giảm khả năng viện dẫn điều khoản này trên thực tế và khó có khả năng áp dụng trong thực tiễn xét xử[7]. Ngoài ra, cách quy định liệt kê theo khoản 2 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa bao hàm hết các loại hợp đồng điện tử tồn tại trên thực tế. Đối với những loại hợp đồng điện tử không thuộc trường hợp được liệt kê, việc xác định yếu tố “mối liên hệ gắn bó nhất” phụ thuộc vào ý chí của cơ quan giải quyết tranh chấp. Điều này có thể dẫn đến sự thiếu thống nhất, tạo khoảng trống và bất cập trong cơ chế xác định pháp luật áp dụng.

2.2. Về xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam

Đối với thẩm quyền chung, khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đưa ra năm dấu hiệu xác định. Nhìn chung, cơ sở xác định thẩm quyền chủ yếu được xây dựng dựa trên những tiêu chí gắn với yếu tố lãnh thổ như nơi cư trú, trụ sở của bị đơn, nơi xác lập hoặc thực hiện hợp đồng…

Trong môi trường số, các bên có thể thông qua địa chỉ IP hoặc địa chỉ email như dấu hiệu tham chiếu để nhận diện bên còn lại[8] và thực hiện giao kết hợp đồng hoàn toàn trực tuyến mà không cần gặp mặt trực tiếp. Trên thực tế, địa chỉ IP có thể bị che giấu hoặc thay đổi thông qua các proxy ẩn danh[9]; máy chủ, nền tảng trung gian và các bên tham gia hợp đồng có thể đồng thời tồn tại nhiều quốc gia khác nhau[10]. Trong nhiều trường hợp, việc xác định nơi cư trú, nơi có trụ sở của các bên trong hợp đồng; nơi xác lập, thay đổi, chấm dứt hợp đồng là rất phức tạp, đặc biệt, đối với các chủ thể yếu thế như người tiêu dùng khi khả năng tiếp cận thông tin của họ bị hạn chế hơn. Về phía Tòa án Việt Nam, trong điều kiện thiếu các căn cứ rõ ràng để xác định thẩm quyền, cơ quan xét xử cũng thận trọng trong thụ lý đơn khởi kiện nhằm tránh nguy cơ vượt quá thẩm quyền được pháp luật quy định. Mặt khác, giá trị của các giao dịch hợp đồng điện tử tiêu dùng thường không lớn[11] nên việc khởi kiện tại quốc gia khác có thể dẫn đến chi phí tố tụng vượt quá lợi ích tranh chấp, đồng thời, đòi hỏi kiến thức và kỹ năng pháp lý mà bên yếu thế khó có thể đáp ứng. Do đó, các tiêu chí xác định thẩm quyền chung quy định tại khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bộc lộ những hạn chế nhất định khi áp dụng cho một số giao dịch hợp đồng điện tử, điển hình là hợp đồng tiêu dùng. Thực tiễn này gây khó khăn cho các chủ thể yếu thế trong xác định cơ quan tài phán có thẩm quyền, gia tăng rào cản tiếp cận công lý và làm suy giảm hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong các giao dịch hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài.

Về thẩm quyền riêng biệt, khoản 1 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận 02 trường hợp: (i) hợp đồng điện tử liên quan đến quyền tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam; (ii) các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam. Quy định trên thường được giải thích là nhằm bảo vệ an ninh, chủ quyền trật tự của quốc gia hay nhằm mục đích bảo vệ cá nhân, pháp nhân hoặc một lĩnh vực ngành nghề nào đó trong nước[12]. Khi một vụ việc thuộc trường hợp thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, Tòa án nước ngoài sẽ “không có thẩm quyền” giải quyết. Thuật ngữ “không có thẩm quyền” nên được hiểu dưới góc độ là cơ sở cho việc công nhận và cho thi hành, chứ không phải là sự khẳng định Tòa án nước ngoài không được giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Việt Nam[13]. Điều này nghĩa, khi Tòa án nước ngoài thụ lý và giải quyết tranh chấp hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, thì bản án đó sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Vấn đề đặt ra, trong trường hợp hợp đồng điện tử không liên quan đến quyền tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam chỉ phát sinh khi thỏa mãn 02 điều kiện tại điểm c khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, trong các giao dịch điện tử, đề nghị lựa chọn Tòa án có thể được đưa ra bởi một bên, bên còn lại không có quyền đàm phán mà chỉ có thể chấp nhận hoặc từ chối dưới dạng click-wrap (nhấn vào biểu tượng “Tôi đồng ý”) hoặc browse-wrap (mặc định đồng ý khi tiếp tục sử dụng)[14]. Vấn đề đặt ra, các hình thức thỏa thuận được xác lập thông qua phương tiện điện tử như trên có được coi là thỏa thuận lựa chọn Tòa án hợp pháp hay không. Đặc biệt, trong trường hợp quan hệ hợp đồng có sự tham gia của bên yếu thế, khả năng tiếp cận và nhận thức nội dung thỏa thuận thường bị hạn chế, từ đó, họ buộc phải chấp nhận lựa chọn Tòa án nước ngoài mà không có sự tự do định đoạt thực sự. Hệ quả là, nếu thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài được công nhận thì Tòa án Việt Nam phải trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 472 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều này làm suy giảm mức độ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong các tranh chấp hợp đồng điện tử. Vì vậy, việc giới hạn hợp lý phạm vi, mức độ tự do của quyền tự định đoạt liên quan đến thỏa thuận lựa chọn Tòa án trong hợp đồng điện tử là yêu cầu cần thiết, nhằm bảo đảm cân bằng giữa quyền tự do thỏa thuận trong hợp đồng, bảo vệ chủ thể yếu thế và thực thi hiệu quả quyền tài phán của Việt Nam.

3. Kinh nghiệm của EU và đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phát triển về xác định luật áp dụng và thẩm quyền giải quyết, nhất là EU, để có thể tiếp thu có chọn lọc phù hợp với thực tế nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là cần thiết.

3.1. Kinh nghiệm của EU về xác định pháp luật áp dụng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định (EU) số 593/2008 (Rome I), bên cạnh liệt kê một loạt nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng cho từng loại hợp đồng cụ thể, khoản 2 Điều 4 đóng vai trò như một điều khoản “quét”. Cụ thể, khoản 2 Điều 4 quy định: “Trong trường hợp hợp đồng không được quy định tại khoản 1 hoặc trong trường hợp các yếu tố trong hợp đồng phù hợp với nhiều căn cứ quy định tại khoản 1, thì hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật của quốc gia nơi bên thực hiện nghĩa vụ đặc trưng có nơi cư trú thường xuyên”. Cách tiếp cận dựa trên “nghĩa vụ đặc trưng” phản ánh bản chất thực tế của giao dịch, đặc biệt, phù hợp với hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài, giúp hạn chế tính chủ quan khi xác định luật áp dụng. Ngoài ra, khoản 3 và khoản 4 Điều 4 Rome I tiếp tục quy định thêm hai cơ chế xác định luật áp dụng, cụ thể: “Trong trường hợp rõ ràng từ mọi tình tiết của vụ việc rằng hợp đồng có mối liên hệ chặt chẽ hơn với một quốc gia khác ngoài quốc gia được chỉ ra trong khoản 1 hoặc 2, thì luật của quốc gia khác đó sẽ được áp dụng” và “nếu không xác định được luật áp dụng theo khoản 1 và khoản 2, hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật của quốc gia mà hợp đồng có mối liên hệ chặt chẽ nhất”. Như vậy, có ba trường hợp xác định mối liên hệ gắn bó đối với hợp đồng theo Rome I, gồm: (i) xác định mối liên hệ gắn bó nhất theo từng loại hợp đồng và nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ đặc trưng của hợp đồng tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4; (ii) nếu không xác định được pháp luật nào có mối liên hệ gắn với hợp đồng thì xác định theo pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất tại khoản 4 Điều 4; (iii) nếu xác định được pháp luật có mối liên hệ gắn bó rõ ràng hơn so với khoản 1 và khoản 2 thì áp dụng pháp luật đó tại khoản 3 Điều 4[15].

3.2. Kinh nghiệm của EU về xác định thẩm quyền tài phán

Theo khoản 1 Điều 4 Quy định (EU) số 1215/2012 (Brussels I (recast)), tiêu chí chung để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án trong các vấn đề về dân sự và thương mại là Tòa án nơi cư trú của bị đơn, bất kể họ mang quốc tịch nào. Tuy nhiên, bên cạnh nguyên tắc chung, Brussels I (recast) còn thiết lập những tiêu chí đặc thù mang tính ngoại lệ đối với hợp đồng tiêu dùng. Cụ thể, đối với hợp đồng tiêu dùng, EU đưa ra tiêu chí “nơi hướng đến”(“direct to”) của hành vi. Một chủ thể được coi là đang “hướng” hoạt động đến một quốc gia nếu họ thể hiện rõ ý định muốn thiết lập quan hệ hợp đồng với người tiêu dùng tại quốc gia đó[16]. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét hoạt động có những đặc điểm dành riêng cho thị trường mục tiêu không bằng cách đánh giá tổng hòa nhiều tiêu chí như ngôn ngữ, đơn vị tiền tệ, tên miền quốc gia cụ thể[17]. Khi chủ thể này thực hiện các hoạt động thương mại hoặc nghề nghiệp “hướng” đến quốc gia nơi người tiêu dùng cư trú, theo khoản 1 Điều 18 Brussels I (recast), người tiêu dùng có quyền lựa chọn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc Tòa án nơi người tiêu dùng cư trú. Ngược lại, doanh nghiệp bị hạn chế quyền lựa chọn, chỉ có thể khởi kiện người tiêu dùng tại Tòa án nơi người tiêu dùng cư trú[18]. Cơ chế này giúp tăng cường bảo vệ bên yếu thế trong hợp đồng là người tiêu dùng, khắc phục tình trạng không cân xứng thông tin giữa các bên, giảm thiểu chi phí và rào cản về địa lý, ngôn ngữ trong quá trình giải quyết tranh chấp. Ngoài ra, thẩm quyền vẫn có thể bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 19 Brussels I (recast), gồm: (i) có thỏa thuận được ký kết sau khi tranh chấp đã phát sinh: (ii) thỏa thuận cho phép người tiêu dùng khởi kiện tại các Tòa án khác ngoài những Tòa án được quy định; (iii) các bên thỏa thuận trao quyền tài phán cho Tòa án nơi cả hai bên đều có nơi cư trú hoặc thường trú tại thời điểm giao kết hợp đồng.

3.3. Đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Bên cạnh những quy định của pháp luật hiện hành, Việt Nam có thể nghiên cứu, tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của EU để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài.

Một là, xác định pháp luật áp dụng. Việt Nam có thể xây dựng thêm hai điều khoản có nội hàm tương tự khoản 2 và khoản 4 Điều 4 Rome I, lần lượt như sau: “Trong trường hợp không xác định được pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất theo từng loại hợp đồng điện tử đã liệt kê hoặc trường hợp các yếu tố trong hợp đồng điện tử phù hợp với nhiều căn cứ quy định tại khoản này thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi bên thực hiện nghĩa vụ đặc trưng của hợp đồng điện tử cư trú thường xuyên” và “trong trường hợp không thể xác định được luật áp dụng theo từng loại hợp đồng điện tử đã liệt kê hoặc theo nguyên tắc nghĩa vụ đặc trưng thì luật điều chỉnh là luật của quốc gia mà hợp đồng điện tử đó có mối liên hệ chặt chẽ nhất”. Ngoài ra, để bảo đảm khoản 3 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 được thực thi hiệu quả trên thực tế, cần phải ban hành văn bản hướng dẫn làm rõ các tiêu chí xác định “mối liên hệ gắn bó hơn”, qua đó, giúp cơ quan xét xử đưa ra phán quyết nhanh chóng, thống nhất và công bằng cho các bên.

Hai là, xác định thẩm quyền của Tòa án.

- Đối với thẩm quyền chung, có thể thiết kế thêm điều khoản dựa trên tinh thần của khoản 1 Điều 18 Brussels I (recast). Theo đó, người tiêu dùng được quyền lựa chọn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc tại Tòa án nơi người tiêu dùng cư trú. Về cơ bản, tiêu chí “nơi hướng đến” không tập trung vào việc hợp đồng được xác lập hay thực hiện tại quốc gia nào mà tập trung xác định liệu doanh nghiệp có muốn thiết lập quan hệ hợp đồng với người tiêu dùng tại quốc gia nơi người tiêu dùng cư trú hay không. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hợp đồng điện tử mà người tiêu dùng thường ở vị thế yếu thế hơn cả về thông tin, nguồn lực tài chính lẫn khả năng tiếp cận công lý, nhất là trong các tranh chấp xuyên biên giới.

- Nếu tồn tại điều khoản lựa chọn quyền tài phán trao thẩm quyền cho Tòa án nước ngoài mà không tồn tại mối liên hệ mật thiết với người tiêu dùng (chẳng hạn như người tiêu dùng không có nơi cư trú tại quốc gia đó), đồng thời, không thể hiện sự tự nguyện thực sự tại thời điểm giao kết hợp đồng, có thể bị coi là vô hiệu. Trong trường hợp này, người tiêu dùng có quyền lựa chọn lại sau khi tranh chấp phát sinh, có thể chấp nhận hoặc từ chối thỏa thuận ban đầu. Khi người tiêu dùng từ chối, Tòa án Việt Nam sẽ có thẩm quyền chung để giải quyết tranh chấp. Cách tiếp cận này xuất phát từ bản chất của hợp đồng là sự thống nhất ý chí tự nguyện của các bên. Những điều khoản mang tính áp đặt, đặc biệt, phổ biến trong môi trường trực tuyến và thường được áp dụng đối với bên yếu thế hạn chế khả năng tiếp cận thông tin, càng làm nổi bật nhu cầu thiết lập các ngoại lệ nhằm bảo vệ hiệu quả hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Việt Nam.

- Cần xem xét ban hành nghị quyết hay nghị định hướng dẫn chi tiết việc áp dụng Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 469, Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đối với hợp đồng điện tử. Điều này xuất phát từ việc hợp đồng điện tử mang những đặc thù riêng biệt, tiềm ẩn mức độ rủi ro pháp lý và có nhiều khác biệt so với hợp đồng truyền thống như đã phân tích ở trên. Do đó, việc tiếp tục áp dụng một cách cứng nhắc các tiêu chí xác định pháp luật áp dụng và thẩm quyền tài phán vốn được xây dựng cho hợp đồng truyền thống đối với hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài là chưa thực sự phù hợp.

Kết luận

Sự phát triển mạnh mẽ của hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện cơ chế giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch. Qua phân tích pháp luật Việt Nam và so sánh với pháp luật EU cho thấy, khung pháp luật hiện hành của Việt Nam còn nhiều điểm chưa phù hợp với những đặc thù của giao dịch điện tử xuyên biên giới. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, bảo đảm cân bằng giữa quyền tự do thỏa thuận trong hợp đồng và bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên, đặc biệt là bên yếu thế.

Nguyễn Thị Quỳnh Như

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Attia Suleiman Khalifa, Nashwan Salah Samad (2025), Smart Contracts and the Challenges of Conflict of Laws in Digital Space, Indonesian Journal of Law and Economics Review, Volume 20, No 4(2025), tr.7.

[2]. Ngô Kim Hoàng Nguyên (2023), Hợp đồng điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị sửa đổi Luật Giao dịch điện tử, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số 374, tháng 2/2023.

[3]. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2024), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.156.

[4]. Phùng Hồng Thanh (2019), Cách xác định luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của Liên minh châu Âu - So sánh với pháp luật Việt Nam, Tạp chí Công Thương.

[5]. Khoản 1 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6]. BBIAC (2025), Xử lý tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế khi không có điều khoản chọn luật, https://bbiac.com/xu-ly-tranh-chap-hop-dong-thuong-mai-quoc-te-khi-khong-co-dieu-khoan-chon-luat/, truy cập ngày 02/02/2026.

[7]. Phan Hoài Nam và các tác giả (2025), Học thuyết mối liên hệ gắn bó nhất và vấn đề xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo pháp luật EU, Hoa Kỳ và Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.140.

[8]. Institute for Research on Internet and Society, Jurisdiction And Conflicts Of Law In The Digital Age: Regulatory Framework Of Internet Regulation, https://irisbh.com.br/wp-content/uploads/2017/08/Jurisdiction-and-conflicts-of-law-in-the-digital-age-IRIS, truy cập ngày 02/02/2026.

[9]. Shane Miller, Kevin Curran, Tom Lunney (2021), Identifying the Use of Anonymising Proxies to Conceal Source IP Addresses, International Journal of Digital Crime and Forensics, Volume 13, Issue 6, tháng 1/2021.

[10]. Attia Suleiman Khalifa, Nashwan Salah Samad (2025), tlđd, tr.9.

[11]. Ecommerce Industry Statistics (2025), https://wifitalents.com/ecommerce-industry-statistics/?, truy cập ngày 02/02/2026.

[12]. Nguyễn Bá Bình (2008), Xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và tính hợp pháp của việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2008.

[13]. Võ Hưng Đạt (2025), Khả năng công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 09(193), tr.80.

[14]. Nancy S. Kim (2013), Wrap contracts: foundations and ramifications, Oxford University Press, tr.41.

[15]. Phan Hoài Nam và các tác giả (2025), tlđd, tr.141.

[16]. Zhen Chen (2022), Jurisdiction and choice of law rules over electronic consumer contracts: The nexus between the concluded contract and the targeting activity, Maastricht Journal of European and Comparative Law, tr.11.

[17]. Norel Rosner (2001), Jurisdictional issues in international e-commerce contracts, Tijdschrift voor onderneming en strafrecht, tr.11.

[18]. Khoản 2 Điều 18 Brussels I (recast).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Attia Suleiman Khalifa, Nashwan Salah Samad (2025), Smart Contracts and the Challenges of Conflict of Laws in Digital Space, Indonesian Journal of Law and Economics Review, Volume 20, No 4(2025).

2. BBIAC (2025), Xử lý tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế khi không có điều khoản chọn luật, https://bbiac.com/xu-ly-tranh-chap-hop-dong-thuong-mai-quoc-te-khi-khong-co-dieu-khoan-chon-luat/, truy cập ngày 02/02/2026.

3. Institute for Research on Internet and Society, Jurisdiction And Conflicts Of Law In The Digital Age: Regulatory Framework Of Internet Regulation, https://irisbh.com.br/wp-content/uploads/2017/08/Jurisdiction-and-conflicts-of-law-in-the-digital-age-IRIS.

4. Nancy S. Kim (2013), Wrap contracts: foundations and ramifications, Oxford University Press.

5. Ngô Kim Hoàng Nguyên (2023), Hợp đồng điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị sửa đổi Luật Giao dịch điện tử, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số 374, tháng 2/2023.

6. Nguyễn Bá Bình (2008), Xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và tính hợp pháp của việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2008.

7. Norel Rosner (2001), Jurisdictional issues in international e-commerce contracts, Tijdschrift voor onderneming en strafrecht.

8. Phan Hoài Nam và các tác giả (2025), Học thuyết mối liên hệ gắn bó nhất và vấn đề xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo pháp luật EU, Hoa Kỳ và Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

9. Phùng Hồng Thanh (2019), Cách xác định luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của Liên minh châu Âu - So sánh với pháp luật Việt Nam, Tạp chí Công Thương.

10. Shane Miller, Kevin Curran, Tom Lunney (2021), Identifying the Use of Anonymising Proxies to Conceal Source IP Addresses, International Journal of Digital Crime and Forensics, Volume 13, Issue 6, tháng 1/2021.

11. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2024), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

12. Võ Hưng Đạt (2025), Khả năng công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 09(193).

13. Zhen Chen (2022), Jurisdiction and choice of law rules over electronic consumer contracts: The nexus between the concluded contract and the targeting activity, Maastricht Journal of European and Comparative Law.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (448) tháng 3/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.

Theo dõi chúng tôi trên: