Abstract: The development of electronic contracts in the context of profound and widespread digital transformation poses many challenges to the field of international private law. This is because current legislation is designed to regulate traditional contracts in determining jurisdiction and applicable law; however, electronic contracts have unique legal characteristics. This leads to difficulties in resolving conflicts of law and jurisdiction, affecting the effectiveness of protecting the legitimate rights and interests of the parties, especially the weaker party. This study analyzes the current situation and compares relevant regulations under Vietnamese law with those of the European Union (EU), and proposes several recommendations to contribute to the improvement of the law.
Đặt vấn đề
Luật Giao dịch điện tử năm 2023 với tư cách luật chuyên ngành điều chỉnh các giao dịch điện tử trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, trong khi các vấn đề giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền đối với hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài được áp dụng trên cơ sở Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2019, 2020, 2022, 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Tuy nhiên, quy định về thỏa thuận của các bên cùng các tiêu chí xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng dựa trên yếu tố lãnh thổ hữu hình như nơi cư trú, trụ sở của bị đơn; nơi xác lập hay thực hiện hợp đồng dần mờ nhạt và kém hiệu quả trong môi trường số. Nguyên nhân bởi hợp đồng điện tử chưa có điều khoản lựa chọn luật rõ ràng, việc thực hiện diễn ra tự động ngay khi hợp đồng được giao kết và có thể trải rộng qua nhiều quốc gia mà không có mối liên hệ vật lý cụ thể[1]. Vì vậy, nghiên cứu phân tích các vấn đề pháp lý của hợp đồng điện tử trong tư pháp quốc tế, đánh giá tính khả thi của các quy định hiện hành; từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trên cơ sở tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của EU.
1. Một số vấn đề về hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài trong tư pháp quốc tế
1.1. Quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử
Khoản 16 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 quy định: “hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu”. Cách tiếp cận này cho thấy, nhà làm luật không xây dựng một loại hợp đồng mới về nội dung mà chỉ ghi nhận một phương thức xác lập hợp đồng trong môi trường điện tử. Theo đó, Luật Giao dịch điện tử năm 2023 chủ yếu điều chỉnh phương thức thực hiện giao dịch bằng phương tiện điện tử, các vấn đề liên quan đến nội dung cũng như thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng vẫn thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đối chiếu với hợp đồng truyền thống cho thấy, hợp đồng điện tử có những đặc trưng pháp lý riêng biệt. Cụ thể:
Thứ nhất, về số lượng chủ thể tham gia. Nếu hợp đồng truyền thống chỉ cần sự tham gia của hai bên để giao kết hợp đồng thì đối với hợp đồng điện tử, có thể phát sinh vai trò của chủ thể trung gian như nhà cung cấp dịch vụ mạng, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử[2].
Thứ hai, về hình thức giao kết. Trong hợp đồng điện tử, hoạt động giao kết chủ yếu được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu. Trong khi, đối với hợp đồng truyền thống, hình thức giao dịch có thể bằng lời nói, văn bản, hành vi cụ thể hoặc hình thức khác do các bên thỏa thuận. Mặc dù, khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản, song, việc sử dụng chữ ký điện tử trong hợp đồng điện tử tạo nên khác biệt đáng kể so với chữ ký tay trong hợp đồng truyền thống.
Thứ ba, về quy trình giao kết. Đối với hợp đồng điện tử, các bên không cần gặp mặt trực tiếp như hợp đồng truyền thống, mà có thể tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết thông qua quá trình gửi và nhận thông điệp dữ liệu.
1.2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài và những vấn đề đặt ra đối với tư pháp quốc tế
Đối với hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài, hiện, pháp luật chưa quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật chính thức. Do đó, việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng điện tử về cơ bản dựa trên các tiêu chí chung tại khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm tiêu chí về chủ thể, sự kiện pháp lý hoặc đối tượng của hợp đồng. Tuy nhiên, về phương diện chủ thể, phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được mở rộng hơn so với Bộ luật Dân sự năm 2015 khi áp dụng cho cả tổ chức nước ngoài, tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài và không đòi hỏi có tư cách pháp nhân. Xuất phát từ đặc thù phi lãnh thổ, hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài thường liên quan đến hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau và cùng có thể được áp dụng để giải quyết một vấn đề cụ thể do nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng chủ quyền giữa các quốc gia. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật tại các quốc gia trên thế giới phản ánh chí ý quyền lực nhà nước, chủ quyền riêng biệt của quốc gia ban hành pháp luật. Chính vì sự khác biệt trong bản chất, nội dung của các hệ thống pháp luật quốc gia khác nhau dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật[3]. Đồng thời, các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài đặt ra vấn đề xung đột thẩm quyền giữa các cơ quan tài phán của các quốc gia liên quan.
Đặc biệt, hợp đồng điện tử có bản chất pháp lý đặc thù và quy trình giao kết hoàn toàn trong môi trường điện tử làm mờ các tiêu chí lãnh thổ truyền thống được sử dụng để xác định thẩm quyền và pháp luật áp dụng. Trong khi đó, pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên nền tảng quan hệ hợp đồng truyền thống, chưa phản ánh đầy đủ những đặc thù của hợp đồng điện tử như sự tham gia của các chủ thể trung gian, hình thức giao kết thông qua thông điệp dữ liệu, cũng như việc xác định địa điểm giao kết và thực hiện hợp đồng. Ví dụ, trong giao dịch mua bán hàng hóa xuyên biên giới trên các sàn thương mại điện tử như Amazon, khi người tiêu dùng tại Việt Nam đặt mua hàng hóa từ người bán tại Trung Quốc thông qua hợp đồng điện tử được thiết lập sẵn bởi nền tảng, quan hệ này liên quan đồng thời đến nhiều quốc gia: nơi cư trú của các bên, nơi đặt máy chủ… Hợp đồng được xác lập dưới hình thức “nhấp chọn”, trong khi nền tảng không có chi nhánh tại Việt Nam, dù website có giao diện tiếng Việt và chấp nhận thanh toán bằng tiền Việt Nam. Nếu phát sinh tranh chấp, chẳng hạn do hàng hóa không phù hợp hoặc có hành vi gian lận, người tiêu dùng sẽ gặp khó khăn trong việc xác định nơi cư trú của bị đơn khi không có hiện diện vật lý tại Việt Nam, nơi xác lập hợp đồng là Việt Nam hay quốc gia nơi đặt máy chủ để tiến hành khởi kiện. Vì vậy, việc hoàn thiện quy định về giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền đối với hợp đồng điện tử là cần thiết nhằm bảo đảm hiệu quả điều chỉnh pháp luật, tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên và thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế.
2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về xác định pháp luật áp dụng và thẩm quyền tài phán
2.1. Về xác định pháp luật áp dụng
Tại Việt Nam, pháp luật ghi nhận quyền tự do thỏa thuận chọn luật của các bên là một nguyên tắc nền tảng, được ưu tiên áp dụng trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài[4]. Theo đó, đối với hợp đồng điện tử, các bên có quyền thỏa thuận pháp luật điều chỉnh, ngoại trừ các trường hợp bị giới hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, thỏa thuận chọn luật của các bên phải tuân thủ năm điều kiện chọn luật theo quy định của pháp luật.
Trường hợp các bên không có thỏa thuận pháp luật điều chỉnh nội dung của hợp đồng, pháp luật của quốc gia có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng sẽ được áp dụng[5]. Để xác định “pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất”, khoản 2 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 liệt kê cách xác định đối với bốn loại hợp đồng cơ bản. Nhìn chung, đối với hợp đồng truyền thống, “mối liên hệ gắn bó nhất” thường xác định dựa vào nơi cá nhân cư trú hoặc nơi pháp nhân thành lập… Tuy nhiên, các tiêu chí này chỉ mang tính chất dự đoán, không dựa trên chuẩn mực tuyệt đối, dẫn đến việc xác định luật áp dụng mang tính đánh giá chủ quan, tiềm ẩn sự không thống nhất và rủi ro lớn về mặt pháp lý[6]. Đặc biệt, đối với hợp đồng điện tử mang tính phi vật chất, các tiêu chí xác định truyền thống trở nên kém hiệu quả. Việc các bên giao kết hoàn toàn qua môi trường trực tuyến, không gặp mặt trực tiếp, dẫn đến nguy cơ chủ thể cố tình giả mạo thông tin về nơi cư trú hay nơi thành lập pháp nhân, gây khó khăn trong quá trình xác định luật có liên hệ gắn bó nhất. Mặc dù khoản 3 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 (điều khoản loại trừ quy định tại khoản 2) cho phép áp dụng pháp luật của quốc gia khác nếu chứng minh được mối liên hệ gắn bó hơn với hợp đồng, song, nhiều vấn đề cần phải đặt ra như chủ thể nào có nghĩa vụ phải chứng minh, tính chất “gắn bó hơn” được hiểu như thế nào. Việc quy định khái quát làm suy giảm khả năng viện dẫn điều khoản này trên thực tế và khó có khả năng áp dụng trong thực tiễn xét xử[7]. Ngoài ra, cách quy định liệt kê theo khoản 2 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa bao hàm hết các loại hợp đồng điện tử tồn tại trên thực tế. Đối với những loại hợp đồng điện tử không thuộc trường hợp được liệt kê, việc xác định yếu tố “mối liên hệ gắn bó nhất” phụ thuộc vào ý chí của cơ quan giải quyết tranh chấp. Điều này có thể dẫn đến sự thiếu thống nhất, tạo khoảng trống và bất cập trong cơ chế xác định pháp luật áp dụng.
2.2. Về xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam
Đối với thẩm quyền chung, khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đưa ra năm dấu hiệu xác định. Nhìn chung, cơ sở xác định thẩm quyền chủ yếu được xây dựng dựa trên những tiêu chí gắn với yếu tố lãnh thổ như nơi cư trú, trụ sở của bị đơn, nơi xác lập hoặc thực hiện hợp đồng…
Trong môi trường số, các bên có thể thông qua địa chỉ IP hoặc địa chỉ email như dấu hiệu tham chiếu để nhận diện bên còn lại[8] và thực hiện giao kết hợp đồng hoàn toàn trực tuyến mà không cần gặp mặt trực tiếp. Trên thực tế, địa chỉ IP có thể bị che giấu hoặc thay đổi thông qua các proxy ẩn danh[9]; máy chủ, nền tảng trung gian và các bên tham gia hợp đồng có thể đồng thời tồn tại nhiều quốc gia khác nhau[10]. Trong nhiều trường hợp, việc xác định nơi cư trú, nơi có trụ sở của các bên trong hợp đồng; nơi xác lập, thay đổi, chấm dứt hợp đồng là rất phức tạp, đặc biệt, đối với các chủ thể yếu thế như người tiêu dùng khi khả năng tiếp cận thông tin của họ bị hạn chế hơn. Về phía Tòa án Việt Nam, trong điều kiện thiếu các căn cứ rõ ràng để xác định thẩm quyền, cơ quan xét xử cũng thận trọng trong thụ lý đơn khởi kiện nhằm tránh nguy cơ vượt quá thẩm quyền được pháp luật quy định. Mặt khác, giá trị của các giao dịch hợp đồng điện tử tiêu dùng thường không lớn[11] nên việc khởi kiện tại quốc gia khác có thể dẫn đến chi phí tố tụng vượt quá lợi ích tranh chấp, đồng thời, đòi hỏi kiến thức và kỹ năng pháp lý mà bên yếu thế khó có thể đáp ứng. Do đó, các tiêu chí xác định thẩm quyền chung quy định tại khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bộc lộ những hạn chế nhất định khi áp dụng cho một số giao dịch hợp đồng điện tử, điển hình là hợp đồng tiêu dùng. Thực tiễn này gây khó khăn cho các chủ thể yếu thế trong xác định cơ quan tài phán có thẩm quyền, gia tăng rào cản tiếp cận công lý và làm suy giảm hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong các giao dịch hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài.
Về thẩm quyền riêng biệt, khoản 1 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận 02 trường hợp: (i) hợp đồng điện tử liên quan đến quyền tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam; (ii) các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam. Quy định trên thường được giải thích là nhằm bảo vệ an ninh, chủ quyền trật tự của quốc gia hay nhằm mục đích bảo vệ cá nhân, pháp nhân hoặc một lĩnh vực ngành nghề nào đó trong nước[12]. Khi một vụ việc thuộc trường hợp thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, Tòa án nước ngoài sẽ “không có thẩm quyền” giải quyết. Thuật ngữ “không có thẩm quyền” nên được hiểu dưới góc độ là cơ sở cho việc công nhận và cho thi hành, chứ không phải là sự khẳng định Tòa án nước ngoài không được giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Việt Nam[13]. Điều này nghĩa, khi Tòa án nước ngoài thụ lý và giải quyết tranh chấp hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, thì bản án đó sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.
Vấn đề đặt ra, trong trường hợp hợp đồng điện tử không liên quan đến quyền tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam chỉ phát sinh khi thỏa mãn 02 điều kiện tại điểm c khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, trong các giao dịch điện tử, đề nghị lựa chọn Tòa án có thể được đưa ra bởi một bên, bên còn lại không có quyền đàm phán mà chỉ có thể chấp nhận hoặc từ chối dưới dạng click-wrap (nhấn vào biểu tượng “Tôi đồng ý”) hoặc browse-wrap (mặc định đồng ý khi tiếp tục sử dụng)[14]. Vấn đề đặt ra, các hình thức thỏa thuận được xác lập thông qua phương tiện điện tử như trên có được coi là thỏa thuận lựa chọn Tòa án hợp pháp hay không. Đặc biệt, trong trường hợp quan hệ hợp đồng có sự tham gia của bên yếu thế, khả năng tiếp cận và nhận thức nội dung thỏa thuận thường bị hạn chế, từ đó, họ buộc phải chấp nhận lựa chọn Tòa án nước ngoài mà không có sự tự do định đoạt thực sự. Hệ quả là, nếu thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài được công nhận thì Tòa án Việt Nam phải trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 472 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều này làm suy giảm mức độ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong các tranh chấp hợp đồng điện tử. Vì vậy, việc giới hạn hợp lý phạm vi, mức độ tự do của quyền tự định đoạt liên quan đến thỏa thuận lựa chọn Tòa án trong hợp đồng điện tử là yêu cầu cần thiết, nhằm bảo đảm cân bằng giữa quyền tự do thỏa thuận trong hợp đồng, bảo vệ chủ thể yếu thế và thực thi hiệu quả quyền tài phán của Việt Nam.
3. Kinh nghiệm của EU và đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phát triển về xác định luật áp dụng và thẩm quyền giải quyết, nhất là EU, để có thể tiếp thu có chọn lọc phù hợp với thực tế nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là cần thiết.
3.1. Kinh nghiệm của EU về xác định pháp luật áp dụng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định (EU) số 593/2008 (Rome I), bên cạnh liệt kê một loạt nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng cho từng loại hợp đồng cụ thể, khoản 2 Điều 4 đóng vai trò như một điều khoản “quét”. Cụ thể, khoản 2 Điều 4 quy định: “Trong trường hợp hợp đồng không được quy định tại khoản 1 hoặc trong trường hợp các yếu tố trong hợp đồng phù hợp với nhiều căn cứ quy định tại khoản 1, thì hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật của quốc gia nơi bên thực hiện nghĩa vụ đặc trưng có nơi cư trú thường xuyên”. Cách tiếp cận dựa trên “nghĩa vụ đặc trưng” phản ánh bản chất thực tế của giao dịch, đặc biệt, phù hợp với hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài, giúp hạn chế tính chủ quan khi xác định luật áp dụng. Ngoài ra, khoản 3 và khoản 4 Điều 4 Rome I tiếp tục quy định thêm hai cơ chế xác định luật áp dụng, cụ thể: “Trong trường hợp rõ ràng từ mọi tình tiết của vụ việc rằng hợp đồng có mối liên hệ chặt chẽ hơn với một quốc gia khác ngoài quốc gia được chỉ ra trong khoản 1 hoặc 2, thì luật của quốc gia khác đó sẽ được áp dụng” và “nếu không xác định được luật áp dụng theo khoản 1 và khoản 2, hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật của quốc gia mà hợp đồng có mối liên hệ chặt chẽ nhất”. Như vậy, có ba trường hợp xác định mối liên hệ gắn bó đối với hợp đồng theo Rome I, gồm: (i) xác định mối liên hệ gắn bó nhất theo từng loại hợp đồng và nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ đặc trưng của hợp đồng tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4; (ii) nếu không xác định được pháp luật nào có mối liên hệ gắn với hợp đồng thì xác định theo pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất tại khoản 4 Điều 4; (iii) nếu xác định được pháp luật có mối liên hệ gắn bó rõ ràng hơn so với khoản 1 và khoản 2 thì áp dụng pháp luật đó tại khoản 3 Điều 4[15].
3.2. Kinh nghiệm của EU về xác định thẩm quyền tài phán
Theo khoản 1 Điều 4 Quy định (EU) số 1215/2012 (Brussels I (recast)), tiêu chí chung để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án trong các vấn đề về dân sự và thương mại là Tòa án nơi cư trú của bị đơn, bất kể họ mang quốc tịch nào. Tuy nhiên, bên cạnh nguyên tắc chung, Brussels I (recast) còn thiết lập những tiêu chí đặc thù mang tính ngoại lệ đối với hợp đồng tiêu dùng. Cụ thể, đối với hợp đồng tiêu dùng, EU đưa ra tiêu chí “nơi hướng đến”(“direct to”) của hành vi. Một chủ thể được coi là đang “hướng” hoạt động đến một quốc gia nếu họ thể hiện rõ ý định muốn thiết lập quan hệ hợp đồng với người tiêu dùng tại quốc gia đó[16]. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét hoạt động có những đặc điểm dành riêng cho thị trường mục tiêu không bằng cách đánh giá tổng hòa nhiều tiêu chí như ngôn ngữ, đơn vị tiền tệ, tên miền quốc gia cụ thể[17]. Khi chủ thể này thực hiện các hoạt động thương mại hoặc nghề nghiệp “hướng” đến quốc gia nơi người tiêu dùng cư trú, theo khoản 1 Điều 18 Brussels I (recast), người tiêu dùng có quyền lựa chọn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc Tòa án nơi người tiêu dùng cư trú. Ngược lại, doanh nghiệp bị hạn chế quyền lựa chọn, chỉ có thể khởi kiện người tiêu dùng tại Tòa án nơi người tiêu dùng cư trú[18]. Cơ chế này giúp tăng cường bảo vệ bên yếu thế trong hợp đồng là người tiêu dùng, khắc phục tình trạng không cân xứng thông tin giữa các bên, giảm thiểu chi phí và rào cản về địa lý, ngôn ngữ trong quá trình giải quyết tranh chấp. Ngoài ra, thẩm quyền vẫn có thể bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 19 Brussels I (recast), gồm: (i) có thỏa thuận được ký kết sau khi tranh chấp đã phát sinh: (ii) thỏa thuận cho phép người tiêu dùng khởi kiện tại các Tòa án khác ngoài những Tòa án được quy định; (iii) các bên thỏa thuận trao quyền tài phán cho Tòa án nơi cả hai bên đều có nơi cư trú hoặc thường trú tại thời điểm giao kết hợp đồng.
3.3. Đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Bên cạnh những quy định của pháp luật hiện hành, Việt Nam có thể nghiên cứu, tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của EU để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài.
Một là, xác định pháp luật áp dụng. Việt Nam có thể xây dựng thêm hai điều khoản có nội hàm tương tự khoản 2 và khoản 4 Điều 4 Rome I, lần lượt như sau: “Trong trường hợp không xác định được pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất theo từng loại hợp đồng điện tử đã liệt kê hoặc trường hợp các yếu tố trong hợp đồng điện tử phù hợp với nhiều căn cứ quy định tại khoản này thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi bên thực hiện nghĩa vụ đặc trưng của hợp đồng điện tử cư trú thường xuyên” và “trong trường hợp không thể xác định được luật áp dụng theo từng loại hợp đồng điện tử đã liệt kê hoặc theo nguyên tắc nghĩa vụ đặc trưng thì luật điều chỉnh là luật của quốc gia mà hợp đồng điện tử đó có mối liên hệ chặt chẽ nhất”. Ngoài ra, để bảo đảm khoản 3 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 được thực thi hiệu quả trên thực tế, cần phải ban hành văn bản hướng dẫn làm rõ các tiêu chí xác định “mối liên hệ gắn bó hơn”, qua đó, giúp cơ quan xét xử đưa ra phán quyết nhanh chóng, thống nhất và công bằng cho các bên.
Hai là, xác định thẩm quyền của Tòa án.
- Đối với thẩm quyền chung, có thể thiết kế thêm điều khoản dựa trên tinh thần của khoản 1 Điều 18 Brussels I (recast). Theo đó, người tiêu dùng được quyền lựa chọn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc tại Tòa án nơi người tiêu dùng cư trú. Về cơ bản, tiêu chí “nơi hướng đến” không tập trung vào việc hợp đồng được xác lập hay thực hiện tại quốc gia nào mà tập trung xác định liệu doanh nghiệp có muốn thiết lập quan hệ hợp đồng với người tiêu dùng tại quốc gia nơi người tiêu dùng cư trú hay không. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hợp đồng điện tử mà người tiêu dùng thường ở vị thế yếu thế hơn cả về thông tin, nguồn lực tài chính lẫn khả năng tiếp cận công lý, nhất là trong các tranh chấp xuyên biên giới.
- Nếu tồn tại điều khoản lựa chọn quyền tài phán trao thẩm quyền cho Tòa án nước ngoài mà không tồn tại mối liên hệ mật thiết với người tiêu dùng (chẳng hạn như người tiêu dùng không có nơi cư trú tại quốc gia đó), đồng thời, không thể hiện sự tự nguyện thực sự tại thời điểm giao kết hợp đồng, có thể bị coi là vô hiệu. Trong trường hợp này, người tiêu dùng có quyền lựa chọn lại sau khi tranh chấp phát sinh, có thể chấp nhận hoặc từ chối thỏa thuận ban đầu. Khi người tiêu dùng từ chối, Tòa án Việt Nam sẽ có thẩm quyền chung để giải quyết tranh chấp. Cách tiếp cận này xuất phát từ bản chất của hợp đồng là sự thống nhất ý chí tự nguyện của các bên. Những điều khoản mang tính áp đặt, đặc biệt, phổ biến trong môi trường trực tuyến và thường được áp dụng đối với bên yếu thế hạn chế khả năng tiếp cận thông tin, càng làm nổi bật nhu cầu thiết lập các ngoại lệ nhằm bảo vệ hiệu quả hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Việt Nam.
- Cần xem xét ban hành nghị quyết hay nghị định hướng dẫn chi tiết việc áp dụng Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 469, Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đối với hợp đồng điện tử. Điều này xuất phát từ việc hợp đồng điện tử mang những đặc thù riêng biệt, tiềm ẩn mức độ rủi ro pháp lý và có nhiều khác biệt so với hợp đồng truyền thống như đã phân tích ở trên. Do đó, việc tiếp tục áp dụng một cách cứng nhắc các tiêu chí xác định pháp luật áp dụng và thẩm quyền tài phán vốn được xây dựng cho hợp đồng truyền thống đối với hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài là chưa thực sự phù hợp.
Kết luận
Sự phát triển mạnh mẽ của hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện cơ chế giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch. Qua phân tích pháp luật Việt Nam và so sánh với pháp luật EU cho thấy, khung pháp luật hiện hành của Việt Nam còn nhiều điểm chưa phù hợp với những đặc thù của giao dịch điện tử xuyên biên giới. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, bảo đảm cân bằng giữa quyền tự do thỏa thuận trong hợp đồng và bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên, đặc biệt là bên yếu thế.
Nguyễn Thị Quỳnh Như
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
[1]. Attia Suleiman Khalifa, Nashwan Salah Samad (2025), Smart Contracts and the Challenges of Conflict of Laws in Digital Space, Indonesian Journal of Law and Economics Review, Volume 20, No 4(2025), tr.7.
[2]. Ngô Kim Hoàng Nguyên (2023), Hợp đồng điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị sửa đổi Luật Giao dịch điện tử, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số 374, tháng 2/2023.
[3]. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2024), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.156.
[4]. Phùng Hồng Thanh (2019), Cách xác định luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của Liên minh châu Âu - So sánh với pháp luật Việt Nam, Tạp chí Công Thương.
[5]. Khoản 1 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[6]. BBIAC (2025), Xử lý tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế khi không có điều khoản chọn luật, https://bbiac.com/xu-ly-tranh-chap-hop-dong-thuong-mai-quoc-te-khi-khong-co-dieu-khoan-chon-luat/, truy cập ngày 02/02/2026.
[7]. Phan Hoài Nam và các tác giả (2025), Học thuyết mối liên hệ gắn bó nhất và vấn đề xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo pháp luật EU, Hoa Kỳ và Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.140.
[8]. Institute for Research on Internet and Society, Jurisdiction And Conflicts Of Law In The Digital Age: Regulatory Framework Of Internet Regulation, https://irisbh.com.br/wp-content/uploads/2017/08/Jurisdiction-and-conflicts-of-law-in-the-digital-age-IRIS, truy cập ngày 02/02/2026.
[9]. Shane Miller, Kevin Curran, Tom Lunney (2021), Identifying the Use of Anonymising Proxies to Conceal Source IP Addresses, International Journal of Digital Crime and Forensics, Volume 13, Issue 6, tháng 1/2021.
[10]. Attia Suleiman Khalifa, Nashwan Salah Samad (2025), tlđd, tr.9.
[11]. Ecommerce Industry Statistics (2025), https://wifitalents.com/ecommerce-industry-statistics/?, truy cập ngày 02/02/2026.
[12]. Nguyễn Bá Bình (2008), Xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và tính hợp pháp của việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2008.
[13]. Võ Hưng Đạt (2025), Khả năng công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 09(193), tr.80.
[14]. Nancy S. Kim (2013), Wrap contracts: foundations and ramifications, Oxford University Press, tr.41.
[15]. Phan Hoài Nam và các tác giả (2025), tlđd, tr.141.
[16]. Zhen Chen (2022), Jurisdiction and choice of law rules over electronic consumer contracts: The nexus between the concluded contract and the targeting activity, Maastricht Journal of European and Comparative Law, tr.11.
[17]. Norel Rosner (2001), Jurisdictional issues in international e-commerce contracts, Tijdschrift voor onderneming en strafrecht, tr.11.
[18]. Khoản 2 Điều 18 Brussels I (recast).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Attia Suleiman Khalifa, Nashwan Salah Samad (2025), Smart Contracts and the Challenges of Conflict of Laws in Digital Space, Indonesian Journal of Law and Economics Review, Volume 20, No 4(2025).
2. BBIAC (2025), Xử lý tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế khi không có điều khoản chọn luật, https://bbiac.com/xu-ly-tranh-chap-hop-dong-thuong-mai-quoc-te-khi-khong-co-dieu-khoan-chon-luat/, truy cập ngày 02/02/2026.
3. Institute for Research on Internet and Society, Jurisdiction And Conflicts Of Law In The Digital Age: Regulatory Framework Of Internet Regulation, https://irisbh.com.br/wp-content/uploads/2017/08/Jurisdiction-and-conflicts-of-law-in-the-digital-age-IRIS.
4. Nancy S. Kim (2013), Wrap contracts: foundations and ramifications, Oxford University Press.
5. Ngô Kim Hoàng Nguyên (2023), Hợp đồng điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị sửa đổi Luật Giao dịch điện tử, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số 374, tháng 2/2023.
6. Nguyễn Bá Bình (2008), Xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và tính hợp pháp của việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2008.
7. Norel Rosner (2001), Jurisdictional issues in international e-commerce contracts, Tijdschrift voor onderneming en strafrecht.
8. Phan Hoài Nam và các tác giả (2025), Học thuyết mối liên hệ gắn bó nhất và vấn đề xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo pháp luật EU, Hoa Kỳ và Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
9. Phùng Hồng Thanh (2019), Cách xác định luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của Liên minh châu Âu - So sánh với pháp luật Việt Nam, Tạp chí Công Thương.
10. Shane Miller, Kevin Curran, Tom Lunney (2021), Identifying the Use of Anonymising Proxies to Conceal Source IP Addresses, International Journal of Digital Crime and Forensics, Volume 13, Issue 6, tháng 1/2021.
11. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2024), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
12. Võ Hưng Đạt (2025), Khả năng công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 09(193).
13. Zhen Chen (2022), Jurisdiction and choice of law rules over electronic consumer contracts: The nexus between the concluded contract and the targeting activity, Maastricht Journal of European and Comparative Law.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (448) tháng 3/2026)