Thứ sáu 06/11/2026 21:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.

Abstract: The development of electronic contracts in the context of profound and widespread digital transformation poses many challenges to the field of international private law. This is because current legislation is designed to regulate traditional contracts in determining jurisdiction and applicable law; however, electronic contracts have unique legal characteristics. This leads to difficulties in resolving conflicts of law and jurisdiction, affecting the effectiveness of protecting the legitimate rights and interests of the parties, especially the weaker party. This study analyzes the current situation and compares relevant regulations under Vietnamese law with those of the European Union (EU), and proposes several recommendations to contribute to the improvement of the law.

Đặt vấn đề

Luật Giao dịch điện tử năm 2023 với tư cách luật chuyên ngành điều chỉnh các giao dịch điện tử trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, trong khi các vấn đề giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền đối với hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài được áp dụng trên cơ sở Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2019, 2020, 2022, 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Tuy nhiên, quy định về thỏa thuận của các bên cùng các tiêu chí xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng dựa trên yếu tố lãnh thổ hữu hình như nơi cư trú, trụ sở của bị đơn; nơi xác lập hay thực hiện hợp đồng dần mờ nhạt và kém hiệu quả trong môi trường số. Nguyên nhân bởi hợp đồng điện tử chưa có điều khoản lựa chọn luật rõ ràng, việc thực hiện diễn ra tự động ngay khi hợp đồng được giao kết và có thể trải rộng qua nhiều quốc gia mà không có mối liên hệ vật lý cụ thể[1]. Vì vậy, nghiên cứu phân tích các vấn đề pháp lý của hợp đồng điện tử trong tư pháp quốc tế, đánh giá tính khả thi của các quy định hiện hành; từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trên cơ sở tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của EU.

1. Một số vấn đề về hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài trong tư pháp quốc tế

1.1. Quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử

Khoản 16 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 quy định: “hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu”. Cách tiếp cận này cho thấy, nhà làm luật không xây dựng một loại hợp đồng mới về nội dung mà chỉ ghi nhận một phương thức xác lập hợp đồng trong môi trường điện tử. Theo đó, Luật Giao dịch điện tử năm 2023 chủ yếu điều chỉnh phương thức thực hiện giao dịch bằng phương tiện điện tử, các vấn đề liên quan đến nội dung cũng như thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng vẫn thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đối chiếu với hợp đồng truyền thống cho thấy, hợp đồng điện tử có những đặc trưng pháp lý riêng biệt. Cụ thể:

Thứ nhất, về số lượng chủ thể tham gia. Nếu hợp đồng truyền thống chỉ cần sự tham gia của hai bên để giao kết hợp đồng thì đối với hợp đồng điện tử, có thể phát sinh vai trò của chủ thể trung gian như nhà cung cấp dịch vụ mạng, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử[2].

Thứ hai, về hình thức giao kết. Trong hợp đồng điện tử, hoạt động giao kết chủ yếu được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu. Trong khi, đối với hợp đồng truyền thống, hình thức giao dịch có thể bằng lời nói, văn bản, hành vi cụ thể hoặc hình thức khác do các bên thỏa thuận. Mặc dù, khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản, song, việc sử dụng chữ ký điện tử trong hợp đồng điện tử tạo nên khác biệt đáng kể so với chữ ký tay trong hợp đồng truyền thống.

Thứ ba, về quy trình giao kết. Đối với hợp đồng điện tử, các bên không cần gặp mặt trực tiếp như hợp đồng truyền thống, mà có thể tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết thông qua quá trình gửi và nhận thông điệp dữ liệu.

1.2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài và những vấn đề đặt ra đối với tư pháp quốc tế

Đối với hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài, hiện, pháp luật chưa quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật chính thức. Do đó, việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng điện tử về cơ bản dựa trên các tiêu chí chung tại khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm tiêu chí về chủ thể, sự kiện pháp lý hoặc đối tượng của hợp đồng. Tuy nhiên, về phương diện chủ thể, phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được mở rộng hơn so với Bộ luật Dân sự năm 2015 khi áp dụng cho cả tổ chức nước ngoài, tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài và không đòi hỏi có tư cách pháp nhân. Xuất phát từ đặc thù phi lãnh thổ, hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài thường liên quan đến hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau và cùng có thể được áp dụng để giải quyết một vấn đề cụ thể do nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng chủ quyền giữa các quốc gia. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật tại các quốc gia trên thế giới phản ánh chí ý quyền lực nhà nước, chủ quyền riêng biệt của quốc gia ban hành pháp luật. Chính vì sự khác biệt trong bản chất, nội dung của các hệ thống pháp luật quốc gia khác nhau dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật[3]. Đồng thời, các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài đặt ra vấn đề xung đột thẩm quyền giữa các cơ quan tài phán của các quốc gia liên quan.

Đặc biệt, hợp đồng điện tử có bản chất pháp lý đặc thù và quy trình giao kết hoàn toàn trong môi trường điện tử làm mờ các tiêu chí lãnh thổ truyền thống được sử dụng để xác định thẩm quyền và pháp luật áp dụng. Trong khi đó, pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên nền tảng quan hệ hợp đồng truyền thống, chưa phản ánh đầy đủ những đặc thù của hợp đồng điện tử như sự tham gia của các chủ thể trung gian, hình thức giao kết thông qua thông điệp dữ liệu, cũng như việc xác định địa điểm giao kết và thực hiện hợp đồng. Ví dụ, trong giao dịch mua bán hàng hóa xuyên biên giới trên các sàn thương mại điện tử như Amazon, khi người tiêu dùng tại Việt Nam đặt mua hàng hóa từ người bán tại Trung Quốc thông qua hợp đồng điện tử được thiết lập sẵn bởi nền tảng, quan hệ này liên quan đồng thời đến nhiều quốc gia: nơi cư trú của các bên, nơi đặt máy chủ… Hợp đồng được xác lập dưới hình thức “nhấp chọn”, trong khi nền tảng không có chi nhánh tại Việt Nam, dù website có giao diện tiếng Việt và chấp nhận thanh toán bằng tiền Việt Nam. Nếu phát sinh tranh chấp, chẳng hạn do hàng hóa không phù hợp hoặc có hành vi gian lận, người tiêu dùng sẽ gặp khó khăn trong việc xác định nơi cư trú của bị đơn khi không có hiện diện vật lý tại Việt Nam, nơi xác lập hợp đồng là Việt Nam hay quốc gia nơi đặt máy chủ để tiến hành khởi kiện. Vì vậy, việc hoàn thiện quy định về giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền đối với hợp đồng điện tử là cần thiết nhằm bảo đảm hiệu quả điều chỉnh pháp luật, tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên và thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế.

2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về xác định pháp luật áp dụng và thẩm quyền tài phán

2.1. Về xác định pháp luật áp dụng

Tại Việt Nam, pháp luật ghi nhận quyền tự do thỏa thuận chọn luật của các bên là một nguyên tắc nền tảng, được ưu tiên áp dụng trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài[4]. Theo đó, đối với hợp đồng điện tử, các bên có quyền thỏa thuận pháp luật điều chỉnh, ngoại trừ các trường hợp bị giới hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, thỏa thuận chọn luật của các bên phải tuân thủ năm điều kiện chọn luật theo quy định của pháp luật.

Trường hợp các bên không có thỏa thuận pháp luật điều chỉnh nội dung của hợp đồng, pháp luật của quốc gia có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng sẽ được áp dụng[5]. Để xác định “pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất”, khoản 2 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 liệt kê cách xác định đối với bốn loại hợp đồng cơ bản. Nhìn chung, đối với hợp đồng truyền thống, “mối liên hệ gắn bó nhất” thường xác định dựa vào nơi cá nhân cư trú hoặc nơi pháp nhân thành lập… Tuy nhiên, các tiêu chí này chỉ mang tính chất dự đoán, không dựa trên chuẩn mực tuyệt đối, dẫn đến việc xác định luật áp dụng mang tính đánh giá chủ quan, tiềm ẩn sự không thống nhất và rủi ro lớn về mặt pháp lý[6]. Đặc biệt, đối với hợp đồng điện tử mang tính phi vật chất, các tiêu chí xác định truyền thống trở nên kém hiệu quả. Việc các bên giao kết hoàn toàn qua môi trường trực tuyến, không gặp mặt trực tiếp, dẫn đến nguy cơ chủ thể cố tình giả mạo thông tin về nơi cư trú hay nơi thành lập pháp nhân, gây khó khăn trong quá trình xác định luật có liên hệ gắn bó nhất. Mặc dù khoản 3 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 (điều khoản loại trừ quy định tại khoản 2) cho phép áp dụng pháp luật của quốc gia khác nếu chứng minh được mối liên hệ gắn bó hơn với hợp đồng, song, nhiều vấn đề cần phải đặt ra như chủ thể nào có nghĩa vụ phải chứng minh, tính chất “gắn bó hơn” được hiểu như thế nào. Việc quy định khái quát làm suy giảm khả năng viện dẫn điều khoản này trên thực tế và khó có khả năng áp dụng trong thực tiễn xét xử[7]. Ngoài ra, cách quy định liệt kê theo khoản 2 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa bao hàm hết các loại hợp đồng điện tử tồn tại trên thực tế. Đối với những loại hợp đồng điện tử không thuộc trường hợp được liệt kê, việc xác định yếu tố “mối liên hệ gắn bó nhất” phụ thuộc vào ý chí của cơ quan giải quyết tranh chấp. Điều này có thể dẫn đến sự thiếu thống nhất, tạo khoảng trống và bất cập trong cơ chế xác định pháp luật áp dụng.

2.2. Về xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam

Đối với thẩm quyền chung, khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đưa ra năm dấu hiệu xác định. Nhìn chung, cơ sở xác định thẩm quyền chủ yếu được xây dựng dựa trên những tiêu chí gắn với yếu tố lãnh thổ như nơi cư trú, trụ sở của bị đơn, nơi xác lập hoặc thực hiện hợp đồng…

Trong môi trường số, các bên có thể thông qua địa chỉ IP hoặc địa chỉ email như dấu hiệu tham chiếu để nhận diện bên còn lại[8] và thực hiện giao kết hợp đồng hoàn toàn trực tuyến mà không cần gặp mặt trực tiếp. Trên thực tế, địa chỉ IP có thể bị che giấu hoặc thay đổi thông qua các proxy ẩn danh[9]; máy chủ, nền tảng trung gian và các bên tham gia hợp đồng có thể đồng thời tồn tại nhiều quốc gia khác nhau[10]. Trong nhiều trường hợp, việc xác định nơi cư trú, nơi có trụ sở của các bên trong hợp đồng; nơi xác lập, thay đổi, chấm dứt hợp đồng là rất phức tạp, đặc biệt, đối với các chủ thể yếu thế như người tiêu dùng khi khả năng tiếp cận thông tin của họ bị hạn chế hơn. Về phía Tòa án Việt Nam, trong điều kiện thiếu các căn cứ rõ ràng để xác định thẩm quyền, cơ quan xét xử cũng thận trọng trong thụ lý đơn khởi kiện nhằm tránh nguy cơ vượt quá thẩm quyền được pháp luật quy định. Mặt khác, giá trị của các giao dịch hợp đồng điện tử tiêu dùng thường không lớn[11] nên việc khởi kiện tại quốc gia khác có thể dẫn đến chi phí tố tụng vượt quá lợi ích tranh chấp, đồng thời, đòi hỏi kiến thức và kỹ năng pháp lý mà bên yếu thế khó có thể đáp ứng. Do đó, các tiêu chí xác định thẩm quyền chung quy định tại khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bộc lộ những hạn chế nhất định khi áp dụng cho một số giao dịch hợp đồng điện tử, điển hình là hợp đồng tiêu dùng. Thực tiễn này gây khó khăn cho các chủ thể yếu thế trong xác định cơ quan tài phán có thẩm quyền, gia tăng rào cản tiếp cận công lý và làm suy giảm hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong các giao dịch hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài.

Về thẩm quyền riêng biệt, khoản 1 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận 02 trường hợp: (i) hợp đồng điện tử liên quan đến quyền tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam; (ii) các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam. Quy định trên thường được giải thích là nhằm bảo vệ an ninh, chủ quyền trật tự của quốc gia hay nhằm mục đích bảo vệ cá nhân, pháp nhân hoặc một lĩnh vực ngành nghề nào đó trong nước[12]. Khi một vụ việc thuộc trường hợp thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, Tòa án nước ngoài sẽ “không có thẩm quyền” giải quyết. Thuật ngữ “không có thẩm quyền” nên được hiểu dưới góc độ là cơ sở cho việc công nhận và cho thi hành, chứ không phải là sự khẳng định Tòa án nước ngoài không được giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Việt Nam[13]. Điều này nghĩa, khi Tòa án nước ngoài thụ lý và giải quyết tranh chấp hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, thì bản án đó sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Vấn đề đặt ra, trong trường hợp hợp đồng điện tử không liên quan đến quyền tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam chỉ phát sinh khi thỏa mãn 02 điều kiện tại điểm c khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, trong các giao dịch điện tử, đề nghị lựa chọn Tòa án có thể được đưa ra bởi một bên, bên còn lại không có quyền đàm phán mà chỉ có thể chấp nhận hoặc từ chối dưới dạng click-wrap (nhấn vào biểu tượng “Tôi đồng ý”) hoặc browse-wrap (mặc định đồng ý khi tiếp tục sử dụng)[14]. Vấn đề đặt ra, các hình thức thỏa thuận được xác lập thông qua phương tiện điện tử như trên có được coi là thỏa thuận lựa chọn Tòa án hợp pháp hay không. Đặc biệt, trong trường hợp quan hệ hợp đồng có sự tham gia của bên yếu thế, khả năng tiếp cận và nhận thức nội dung thỏa thuận thường bị hạn chế, từ đó, họ buộc phải chấp nhận lựa chọn Tòa án nước ngoài mà không có sự tự do định đoạt thực sự. Hệ quả là, nếu thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài được công nhận thì Tòa án Việt Nam phải trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 472 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều này làm suy giảm mức độ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong các tranh chấp hợp đồng điện tử. Vì vậy, việc giới hạn hợp lý phạm vi, mức độ tự do của quyền tự định đoạt liên quan đến thỏa thuận lựa chọn Tòa án trong hợp đồng điện tử là yêu cầu cần thiết, nhằm bảo đảm cân bằng giữa quyền tự do thỏa thuận trong hợp đồng, bảo vệ chủ thể yếu thế và thực thi hiệu quả quyền tài phán của Việt Nam.

3. Kinh nghiệm của EU và đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phát triển về xác định luật áp dụng và thẩm quyền giải quyết, nhất là EU, để có thể tiếp thu có chọn lọc phù hợp với thực tế nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là cần thiết.

3.1. Kinh nghiệm của EU về xác định pháp luật áp dụng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định (EU) số 593/2008 (Rome I), bên cạnh liệt kê một loạt nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng cho từng loại hợp đồng cụ thể, khoản 2 Điều 4 đóng vai trò như một điều khoản “quét”. Cụ thể, khoản 2 Điều 4 quy định: “Trong trường hợp hợp đồng không được quy định tại khoản 1 hoặc trong trường hợp các yếu tố trong hợp đồng phù hợp với nhiều căn cứ quy định tại khoản 1, thì hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật của quốc gia nơi bên thực hiện nghĩa vụ đặc trưng có nơi cư trú thường xuyên”. Cách tiếp cận dựa trên “nghĩa vụ đặc trưng” phản ánh bản chất thực tế của giao dịch, đặc biệt, phù hợp với hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài, giúp hạn chế tính chủ quan khi xác định luật áp dụng. Ngoài ra, khoản 3 và khoản 4 Điều 4 Rome I tiếp tục quy định thêm hai cơ chế xác định luật áp dụng, cụ thể: “Trong trường hợp rõ ràng từ mọi tình tiết của vụ việc rằng hợp đồng có mối liên hệ chặt chẽ hơn với một quốc gia khác ngoài quốc gia được chỉ ra trong khoản 1 hoặc 2, thì luật của quốc gia khác đó sẽ được áp dụng” và “nếu không xác định được luật áp dụng theo khoản 1 và khoản 2, hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật của quốc gia mà hợp đồng có mối liên hệ chặt chẽ nhất”. Như vậy, có ba trường hợp xác định mối liên hệ gắn bó đối với hợp đồng theo Rome I, gồm: (i) xác định mối liên hệ gắn bó nhất theo từng loại hợp đồng và nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ đặc trưng của hợp đồng tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4; (ii) nếu không xác định được pháp luật nào có mối liên hệ gắn với hợp đồng thì xác định theo pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất tại khoản 4 Điều 4; (iii) nếu xác định được pháp luật có mối liên hệ gắn bó rõ ràng hơn so với khoản 1 và khoản 2 thì áp dụng pháp luật đó tại khoản 3 Điều 4[15].

3.2. Kinh nghiệm của EU về xác định thẩm quyền tài phán

Theo khoản 1 Điều 4 Quy định (EU) số 1215/2012 (Brussels I (recast)), tiêu chí chung để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án trong các vấn đề về dân sự và thương mại là Tòa án nơi cư trú của bị đơn, bất kể họ mang quốc tịch nào. Tuy nhiên, bên cạnh nguyên tắc chung, Brussels I (recast) còn thiết lập những tiêu chí đặc thù mang tính ngoại lệ đối với hợp đồng tiêu dùng. Cụ thể, đối với hợp đồng tiêu dùng, EU đưa ra tiêu chí “nơi hướng đến”(“direct to”) của hành vi. Một chủ thể được coi là đang “hướng” hoạt động đến một quốc gia nếu họ thể hiện rõ ý định muốn thiết lập quan hệ hợp đồng với người tiêu dùng tại quốc gia đó[16]. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét hoạt động có những đặc điểm dành riêng cho thị trường mục tiêu không bằng cách đánh giá tổng hòa nhiều tiêu chí như ngôn ngữ, đơn vị tiền tệ, tên miền quốc gia cụ thể[17]. Khi chủ thể này thực hiện các hoạt động thương mại hoặc nghề nghiệp “hướng” đến quốc gia nơi người tiêu dùng cư trú, theo khoản 1 Điều 18 Brussels I (recast), người tiêu dùng có quyền lựa chọn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc Tòa án nơi người tiêu dùng cư trú. Ngược lại, doanh nghiệp bị hạn chế quyền lựa chọn, chỉ có thể khởi kiện người tiêu dùng tại Tòa án nơi người tiêu dùng cư trú[18]. Cơ chế này giúp tăng cường bảo vệ bên yếu thế trong hợp đồng là người tiêu dùng, khắc phục tình trạng không cân xứng thông tin giữa các bên, giảm thiểu chi phí và rào cản về địa lý, ngôn ngữ trong quá trình giải quyết tranh chấp. Ngoài ra, thẩm quyền vẫn có thể bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 19 Brussels I (recast), gồm: (i) có thỏa thuận được ký kết sau khi tranh chấp đã phát sinh: (ii) thỏa thuận cho phép người tiêu dùng khởi kiện tại các Tòa án khác ngoài những Tòa án được quy định; (iii) các bên thỏa thuận trao quyền tài phán cho Tòa án nơi cả hai bên đều có nơi cư trú hoặc thường trú tại thời điểm giao kết hợp đồng.

3.3. Đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Bên cạnh những quy định của pháp luật hiện hành, Việt Nam có thể nghiên cứu, tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của EU để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài.

Một là, xác định pháp luật áp dụng. Việt Nam có thể xây dựng thêm hai điều khoản có nội hàm tương tự khoản 2 và khoản 4 Điều 4 Rome I, lần lượt như sau: “Trong trường hợp không xác định được pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất theo từng loại hợp đồng điện tử đã liệt kê hoặc trường hợp các yếu tố trong hợp đồng điện tử phù hợp với nhiều căn cứ quy định tại khoản này thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi bên thực hiện nghĩa vụ đặc trưng của hợp đồng điện tử cư trú thường xuyên” và “trong trường hợp không thể xác định được luật áp dụng theo từng loại hợp đồng điện tử đã liệt kê hoặc theo nguyên tắc nghĩa vụ đặc trưng thì luật điều chỉnh là luật của quốc gia mà hợp đồng điện tử đó có mối liên hệ chặt chẽ nhất”. Ngoài ra, để bảo đảm khoản 3 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 được thực thi hiệu quả trên thực tế, cần phải ban hành văn bản hướng dẫn làm rõ các tiêu chí xác định “mối liên hệ gắn bó hơn”, qua đó, giúp cơ quan xét xử đưa ra phán quyết nhanh chóng, thống nhất và công bằng cho các bên.

Hai là, xác định thẩm quyền của Tòa án.

- Đối với thẩm quyền chung, có thể thiết kế thêm điều khoản dựa trên tinh thần của khoản 1 Điều 18 Brussels I (recast). Theo đó, người tiêu dùng được quyền lựa chọn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc tại Tòa án nơi người tiêu dùng cư trú. Về cơ bản, tiêu chí “nơi hướng đến” không tập trung vào việc hợp đồng được xác lập hay thực hiện tại quốc gia nào mà tập trung xác định liệu doanh nghiệp có muốn thiết lập quan hệ hợp đồng với người tiêu dùng tại quốc gia nơi người tiêu dùng cư trú hay không. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hợp đồng điện tử mà người tiêu dùng thường ở vị thế yếu thế hơn cả về thông tin, nguồn lực tài chính lẫn khả năng tiếp cận công lý, nhất là trong các tranh chấp xuyên biên giới.

- Nếu tồn tại điều khoản lựa chọn quyền tài phán trao thẩm quyền cho Tòa án nước ngoài mà không tồn tại mối liên hệ mật thiết với người tiêu dùng (chẳng hạn như người tiêu dùng không có nơi cư trú tại quốc gia đó), đồng thời, không thể hiện sự tự nguyện thực sự tại thời điểm giao kết hợp đồng, có thể bị coi là vô hiệu. Trong trường hợp này, người tiêu dùng có quyền lựa chọn lại sau khi tranh chấp phát sinh, có thể chấp nhận hoặc từ chối thỏa thuận ban đầu. Khi người tiêu dùng từ chối, Tòa án Việt Nam sẽ có thẩm quyền chung để giải quyết tranh chấp. Cách tiếp cận này xuất phát từ bản chất của hợp đồng là sự thống nhất ý chí tự nguyện của các bên. Những điều khoản mang tính áp đặt, đặc biệt, phổ biến trong môi trường trực tuyến và thường được áp dụng đối với bên yếu thế hạn chế khả năng tiếp cận thông tin, càng làm nổi bật nhu cầu thiết lập các ngoại lệ nhằm bảo vệ hiệu quả hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Việt Nam.

- Cần xem xét ban hành nghị quyết hay nghị định hướng dẫn chi tiết việc áp dụng Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 469, Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đối với hợp đồng điện tử. Điều này xuất phát từ việc hợp đồng điện tử mang những đặc thù riêng biệt, tiềm ẩn mức độ rủi ro pháp lý và có nhiều khác biệt so với hợp đồng truyền thống như đã phân tích ở trên. Do đó, việc tiếp tục áp dụng một cách cứng nhắc các tiêu chí xác định pháp luật áp dụng và thẩm quyền tài phán vốn được xây dựng cho hợp đồng truyền thống đối với hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài là chưa thực sự phù hợp.

Kết luận

Sự phát triển mạnh mẽ của hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện cơ chế giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch. Qua phân tích pháp luật Việt Nam và so sánh với pháp luật EU cho thấy, khung pháp luật hiện hành của Việt Nam còn nhiều điểm chưa phù hợp với những đặc thù của giao dịch điện tử xuyên biên giới. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, bảo đảm cân bằng giữa quyền tự do thỏa thuận trong hợp đồng và bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên, đặc biệt là bên yếu thế.

Nguyễn Thị Quỳnh Như

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Attia Suleiman Khalifa, Nashwan Salah Samad (2025), Smart Contracts and the Challenges of Conflict of Laws in Digital Space, Indonesian Journal of Law and Economics Review, Volume 20, No 4(2025), tr.7.

[2]. Ngô Kim Hoàng Nguyên (2023), Hợp đồng điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị sửa đổi Luật Giao dịch điện tử, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số 374, tháng 2/2023.

[3]. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2024), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.156.

[4]. Phùng Hồng Thanh (2019), Cách xác định luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của Liên minh châu Âu - So sánh với pháp luật Việt Nam, Tạp chí Công Thương.

[5]. Khoản 1 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6]. BBIAC (2025), Xử lý tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế khi không có điều khoản chọn luật, https://bbiac.com/xu-ly-tranh-chap-hop-dong-thuong-mai-quoc-te-khi-khong-co-dieu-khoan-chon-luat/, truy cập ngày 02/02/2026.

[7]. Phan Hoài Nam và các tác giả (2025), Học thuyết mối liên hệ gắn bó nhất và vấn đề xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo pháp luật EU, Hoa Kỳ và Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.140.

[8]. Institute for Research on Internet and Society, Jurisdiction And Conflicts Of Law In The Digital Age: Regulatory Framework Of Internet Regulation, https://irisbh.com.br/wp-content/uploads/2017/08/Jurisdiction-and-conflicts-of-law-in-the-digital-age-IRIS, truy cập ngày 02/02/2026.

[9]. Shane Miller, Kevin Curran, Tom Lunney (2021), Identifying the Use of Anonymising Proxies to Conceal Source IP Addresses, International Journal of Digital Crime and Forensics, Volume 13, Issue 6, tháng 1/2021.

[10]. Attia Suleiman Khalifa, Nashwan Salah Samad (2025), tlđd, tr.9.

[11]. Ecommerce Industry Statistics (2025), https://wifitalents.com/ecommerce-industry-statistics/?, truy cập ngày 02/02/2026.

[12]. Nguyễn Bá Bình (2008), Xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và tính hợp pháp của việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2008.

[13]. Võ Hưng Đạt (2025), Khả năng công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 09(193), tr.80.

[14]. Nancy S. Kim (2013), Wrap contracts: foundations and ramifications, Oxford University Press, tr.41.

[15]. Phan Hoài Nam và các tác giả (2025), tlđd, tr.141.

[16]. Zhen Chen (2022), Jurisdiction and choice of law rules over electronic consumer contracts: The nexus between the concluded contract and the targeting activity, Maastricht Journal of European and Comparative Law, tr.11.

[17]. Norel Rosner (2001), Jurisdictional issues in international e-commerce contracts, Tijdschrift voor onderneming en strafrecht, tr.11.

[18]. Khoản 2 Điều 18 Brussels I (recast).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Attia Suleiman Khalifa, Nashwan Salah Samad (2025), Smart Contracts and the Challenges of Conflict of Laws in Digital Space, Indonesian Journal of Law and Economics Review, Volume 20, No 4(2025).

2. BBIAC (2025), Xử lý tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế khi không có điều khoản chọn luật, https://bbiac.com/xu-ly-tranh-chap-hop-dong-thuong-mai-quoc-te-khi-khong-co-dieu-khoan-chon-luat/, truy cập ngày 02/02/2026.

3. Institute for Research on Internet and Society, Jurisdiction And Conflicts Of Law In The Digital Age: Regulatory Framework Of Internet Regulation, https://irisbh.com.br/wp-content/uploads/2017/08/Jurisdiction-and-conflicts-of-law-in-the-digital-age-IRIS.

4. Nancy S. Kim (2013), Wrap contracts: foundations and ramifications, Oxford University Press.

5. Ngô Kim Hoàng Nguyên (2023), Hợp đồng điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị sửa đổi Luật Giao dịch điện tử, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số 374, tháng 2/2023.

6. Nguyễn Bá Bình (2008), Xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và tính hợp pháp của việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2008.

7. Norel Rosner (2001), Jurisdictional issues in international e-commerce contracts, Tijdschrift voor onderneming en strafrecht.

8. Phan Hoài Nam và các tác giả (2025), Học thuyết mối liên hệ gắn bó nhất và vấn đề xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo pháp luật EU, Hoa Kỳ và Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

9. Phùng Hồng Thanh (2019), Cách xác định luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của Liên minh châu Âu - So sánh với pháp luật Việt Nam, Tạp chí Công Thương.

10. Shane Miller, Kevin Curran, Tom Lunney (2021), Identifying the Use of Anonymising Proxies to Conceal Source IP Addresses, International Journal of Digital Crime and Forensics, Volume 13, Issue 6, tháng 1/2021.

11. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2024), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

12. Võ Hưng Đạt (2025), Khả năng công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 09(193).

13. Zhen Chen (2022), Jurisdiction and choice of law rules over electronic consumer contracts: The nexus between the concluded contract and the targeting activity, Maastricht Journal of European and Comparative Law.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (448) tháng 3/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Tóm tắt: Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính là một trong những nội dung quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[I] và các văn bản quy định chi tiết. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính còn một số bất cập, gồm: thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật; thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay chưa được quy định đầy đủ; quy định về giao quyền xử phạt còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu phân tích những bất cập này, từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.
Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, thường gọi là “bỏ cọc”, đang được xử lý chủ yếu bằng cách tăng mức tiền đặt trước và áp dụng chế tài cấm tham gia đấu giá. Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án, nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của khoản tiền đặt trước; tiêu chí phân định tranh chấp dân sự và hành chính; căn cứ xem xét quyết định hủy quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá; yêu cầu kiểm soát tư pháp đối với quyết định cấm tham gia đấu giá và trách nhiệm tài sản của các bên. Trên cơ sở đánh giá dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (dự thảo Luật), nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án theo hướng chế tài được áp dụng thống nhất và chịu sự kiểm soát của Tòa án.
Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 lần đầu định danh hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất nhưng chưa thiết lập cơ chế điều chỉnh tương ứng. Nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của quan hệ này; từ đó, chỉ ra 04 hạn chế của pháp luật hiện hành: (i) quyền hợp tác chưa rõ ràng, minh bạch cho cá nhân sử dụng đất; (ii) chưa xác định rõ phạm vi quyền sử dụng đất được đưa vào hợp tác; (iii) chưa có điều kiện thực hiện riêng; (iv) chưa xác định đầy đủ hệ quả pháp lý. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) (dự thảo Luật) đã có một số điều chỉnh, nhưng chưa khắc phục triệt để những bất cập này. Nghiên cứu đề xuất ghi nhận hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất thành quyền độc lập kèm theo tiêu chí xác định quan hệ theo bản chất, xác định rõ nhóm người sử dụng đất được thực hiện quyền, bổ sung điều kiện thực hiện phù hợp với đặc điểm không làm chuyển dịch quyền sử dụng đất, thiết lập cơ chế đăng ký, công khai quan hệ hợp tác gắn với việc xác định hiệu lực đối với người thứ ba và nguyên tắc bảo vệ các quyền có liên quan.
Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Tóm tắt: Quyền bề mặt được Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận là quyền khác đối với tài sản, cho phép chủ thể khai thác mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của chủ thể khác. Đây là thiết chế có tiềm năng phân tách quyền khai thác không gian khỏi quyền sử dụng đất, huy động vốn đầu tư và phát triển bất động sản theo chiều cao, chiều sâu và đa công năng. Tuy nhiên, hiện, các quy định pháp luật chủ yếu dừng ở mức khái quát, chưa hình thành cơ chế pháp lý đồng bộ về xác lập, đăng ký, công khai hóa, hiệu lực đối kháng, giao dịch, thế chấp, định giá, bảo vệ quyền và xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt. Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn đã tạo nền tảng mới về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai, nhưng chưa trực tiếp thiết lập thủ tục đăng ký quyền bề mặt. Nghiên cứu phân tích bản chất và vai trò của quyền bề mặt, đánh giá những khoảng trống của pháp luật Việt Nam, tham chiếu kinh nghiệm của một số quốc gia và đề xuất mô hình hoàn thiện theo hướng: thừa nhận đầy đủ tính chất vật quyền; kiến nghị sửa đổi Điều 269 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng lấy đăng ký làm điều kiện đối kháng, kèm theo quy định chuyển tiếp; mô tả đối tượng theo không gian ba chiều; bảo đảm khả năng chuyển giao, thế chấp và tài trợ dự án; đồng thời, cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất, chủ thể quyền bề mặt, nhà đầu tư và người thứ ba.
Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tóm tắt: Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, tạo cơ hội tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành án. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn một số bất cập, chồng chéo giữa các đạo luật về thẩm quyền, thủ tục, khiếu nại và kỹ thuật lập pháp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng phân định rõ phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của pháp luật. Nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng; từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế định này trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Tóm tắt: Dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật[1] (dự thảo Luật) tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng chính sách, trong đó, chú trọng xác định vấn đề, mục tiêu, giải pháp, đánh giá tác động chính sách và bổ sung cơ chế đánh giá kết quả thực hiện sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích Chính sách 3 về đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật[2], đánh giá khả năng điều chỉnh kịp thời các quy định pháp luật trước những thay đổi của thực tiễn và việc sử dụng kết quả thi hành pháp luật để tiếp tục hoàn thiện chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao tính linh hoạt và hiệu quả của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, cơ chế theo dõi, đánh giá và tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn thi hành chưa được quy định đầy đủ; bên cạnh đó, một số quy định còn thiếu thống nhất về phạm vi điều chỉnh, thuật ngữ và thẩm quyền. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng và đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm việc sửa đổi, bổ sung pháp luật được thực hiện kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn mà không làm gia tăng thủ tục.
Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu phòng, chống tham nhũng hiện nay, việc nghiên cứu di sản lập pháp truyền thống mang ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu phân tích Điều luật[I] “Quan lại nhận tiền của” thuộc Chương IX (Nhận hối lộ) trong Hoàng Việt luật lệ[II] nhằm làm rõ tư duy lập pháp và giá trị lịch sử của Điều luật. Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích Điều luật “Quan lại nhận tiền của”, đồng thời, so sánh với Quốc triều Hình luật, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và Bộ luật Hình sự năm 2015[III]. Nghiên cứu sử dụng phương pháp sử liệu học để thu thập tư liệu cổ luật; các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ các yếu tố cấu thành, giá trị, giới hạn lịch sử, đồng thời, so sánh Điều luật này với các quy định có liên quan. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.
Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: