Việc ban hành Quy chế được đặt trên nền tảng các chủ trương, định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định, chỉ đạo có liên quan về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu và xây dựng mô hình quản trị dựa trên dữ liệu[1]. Đây là cơ sở quan trọng để Bộ Tư pháp từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng dữ liệu, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Vị trí, vai trò và mục đích của Hệ thống IOC
Nền tảng tổng hợp phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (gọi tắt là Hệ thống IOC) là hệ thống thông tin thực hiện thu thập, tích hợp, xử lý, tổng hợp, phân tích và trực quan hóa dữ liệu từ các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, nền tảng số nhằm phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Bộ Tư pháp. Địa chỉ truy cập trực tuyến chính thức của hệ thống là: https://ioc.moj.gov.vn.
Hệ thống IOC đóng vai trò là thành phần phục vụ tổng hợp, phân tích và trực quan hóa dữ liệu trong Kiến trúc số của Bộ Tư pháp, hỗ trợ Lãnh đạo Bộ và lãnh đạo các đơn vị chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu. Mục đích khai thác và sử dụng hệ thống[2], bao gồm:
Thứ nhất, theo dõi tình hình thực hiện nhiệm vụ, bộ chỉ số chỉ đạo, điều hành và kết quả hoạt động.
Thứ hai, phát hiện các xu hướng, bất thường, nguy cơ chậm tiến độ.
Thứ ba, phục vụ các cuộc họp, giao ban, báo cáo, kiểm tra, đôn đốc và hỗ trợ ra quyết định.
Thứ tư, tăng cường sử dụng dữ liệu sẵn có, hạn chế việc tổng hợp báo cáo thủ công, nhập lại dữ liệu hoặc yêu cầu báo cáo trùng lặp giữa các đơn vị.
Hệ thống IOC không thay thế hệ thống nguồn, hồ sơ, tài liệu hoặc văn bản chính thức. Dữ liệu trên hệ thống chỉ được sử dụng làm căn cứ chính thức khi đã được xác nhận, phê duyệt hoặc đồng bộ từ hệ thống nguồn và không có cảnh báo sai lệch.
Các nguyên tắc quản lý, vận hành cốt lõi
Quy chế đề ra các nguyên tắc vận hành chặt chẽ đối với dữ liệu và hệ thống[3]:
Thứ nhất, dữ liệu phải xác định rõ nguồn, đơn vị chịu trách nhiệm, thời điểm cập nhật, trạng thái xác nhận; bảo đảm nguyên tắc “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung” và tuân thủ thỏa thuận mức dịch vụ (SLA).
Thứ hai, dữ liệu được cập nhật theo các phương thức kết nối tự động, đồng bộ qua API/tệp dữ liệu hoặc nhập trực tiếp. Tần suất cập nhật tương ứng là dữ liệu thời gian thực (real-time) - truyền nhận và hiển thị ngay sau khi phát sinh tại hệ thống nguồn, hoặc dữ liệu gần thời gian thực (near real-time) - hiển thị sau khi phát sinh với độ trễ được xác định.
Thứ ba, không cập nhật, tích hợp, lưu trữ, xử lý hoặc hiển thị thông tin, tài liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước trên Hệ thống IOC. Việc xử lý, khai thác dữ liệu phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng.
Các hành vi bị nghiêm cấm
Điều 4 của Quy chế quy định rõ 5 nhóm hành vi bị nghiêm cấm để bảo đảm an toàn hệ thống và kỷ cương dữ liệu:
Thứ nhất, truy cập trái phép; cố ý thay đổi, phá hoại cấu trúc, phần mềm, cấu hình hoặc dữ liệu của Hệ thống IOC.
Thứ hai, sử dụng Hệ thống IOC ngoài phạm vi công vụ; cung cấp, tiết lộ, chia sẻ dữ liệu cho tổ chức, cá nhân không có thẩm quyền hoặc sử dụng vì mục đích cá nhân, thương mại.
Thứ ba, cập nhật, xác nhận thông tin sai lệch, không trung thực; tự ý sửa, xóa dữ liệu đã được xác nhận hoặc dữ liệu từ hệ thống nguồn.
Thứ tư, cho mượn, chia sẻ, để lộ tài khoản; không thực hiện yêu cầu bảo mật, xác thực hoặc có hành vi gây mất an ninh thông tin, rò rỉ dữ liệu do lỗi chủ quan.
Thứ năm, không chấp hành hoặc không phối hợp thực hiện yêu cầu kiểm tra, giám sát, xử lý sự cố, khắc phục vi phạm; cản trở việc cung cấp thông tin, dữ liệu cần thiết phục vụ quản lý, vận hành Hệ thống IOC.
Cơ chế phối hợp và phân định trách nhiệm
Để vận hành hiệu quả Hệ thống IOC, Quy chế phân định rõ trách nhiệm của các đơn vị[4]:
Cục Công nghệ thông tin: Chủ trì quản lý, vận hành kỹ thuật hệ thống; bảo đảm hạ tầng, kết nối, an toàn thông tin và an ninh mạng; cấp phát, quản lý tài khoản và phân quyền kỹ thuật; phối hợp xử lý lỗi kỹ thuật, kết nối và đồng bộ dữ liệu.
Văn phòng Bộ: Là đầu mối nghiệp vụ khai thác, sử dụng Hệ thống IOC phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ và các cuộc họp, giao ban của Bộ; chủ trì đề xuất, rà soát, quản lý bộ chỉ số, bảng điều khiển và nội dung hiển thị.
Các đơn vị thuộc Bộ và đơn vị quản lý dữ liệu: Chịu trách nhiệm rà soát, xác định dữ liệu, hệ thống nguồn, cập nhật và quản lý dữ liệu nghiệp vụ tại hệ thống nguồn để kết nối với Hệ thống IOC. Thủ trưởng đơn vị chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng và trước pháp luật về dữ liệu thuộc phạm vi quản lý. Khi phát hiện dữ liệu sai lệch, đơn vị quản lý dữ liệu phải xác minh và xử lý hiệu chỉnh tại hệ thống nguồn trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được cảnh báo hoặc yêu cầu.
Việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp là cơ sở pháp lý và kỹ thuật quan trọng nhằm chuẩn hóa công tác dữ liệu số của ngành. Thực thi nghiêm túc các quy định của Quy chế sẽ giúp chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành của Bộ sang môi trường điện tử dựa trên dữ liệu số, hướng tới xây dựng nền quản trị tư pháp công khai, hiện đại và hiệu quả
[1] Luật An ninh mạng năm 2025; Luật Chuyển đổi số năm 2025; Luật Dữ liệu năm 2024; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Quyết định số 05-QĐ/BCĐTW ngày 27/8/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về Mô hình liên thông số thống nhất, hiệu quả và quản trị dựa trên dữ liệu trong hệ thống chính trị; Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ; Nghị định số 278/2025/NĐ-CP ngày 22/10/2025 của Chính phủ; Nghị định số 09/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ; Quyết định số 1012/QĐ-TTg ngày 20/9/2024 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1210/QĐ-BTP ngày 07/5/2026 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
[2] Điều 3 Quy chế
[3] Điều 5 Quy chế
[4] Chương IV Quy chế