Từ khóa: Ủy ban nhân dân cấp xã; phổ biến pháp luật, giáo dục pháp luật.
Đặt vấn đề
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với trọng tâm hoàn thiện thể chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Quá trình đổi mới góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hệ thống pháp luật, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả của hệ thống pháp luật không chỉ phụ thuộc vào văn bản quy phạm pháp luật, mà còn ở khả năng đưa pháp luật vào cuộc sống. Thực tiễn cho thấy, nhiều hành vi vi phạm pháp luật tại cơ sở xuất phát từ việc người dân chưa được tiếp cận đầy đủ, chính xác các quy định của pháp luật hoặc bị tác động bởi những thông tin sai lệch trên không gian mạng. Trong khi đó, ở nhiều khu vực nông thôn, miền núi, nhận thức pháp luật của người dân còn hạn chế, làm giảm hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật và khả năng thụ hưởng các chính sách của Nhà nước. Vì vậy, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Với vị trí là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tổ chức thi hành pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã giữ vai trò trung tâm trong công tác này. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các giải pháp phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
1. Một số vấn đề về phổ biến, giáo dục pháp luật và vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Là cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp tổ chức thi hành pháp luật tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã không chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, mà còn có trách nhiệm tổ chức đưa các quy định của pháp luật đến với người dân. Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao trực tiếp cho cấp xã thực hiện. Vì vậy, việc xác định đầy đủ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo đảm pháp luật được truyền đạt thống nhất, tổ chức thực hiện hiệu quả và đi vào cuộc sống.
1.1. Vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Trong khoa học pháp lý, phổ biến, giáo dục pháp luật được nhìn nhận là một bộ phận quan trọng của quá trình tổ chức thi hành pháp luật, giữ vai trò kết nối giữa hoạt động xây dựng pháp luật với việc đưa pháp luật vào cuộc sống. Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định, hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những tiêu chí phản ánh chất lượng tổ chức thi hành pháp luật và mức độ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam[1]. Trên cơ sở đó, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có những vai trò cơ bản sau:
Thứ nhất, đưa pháp luật đến với mọi tầng lớp Nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xã hội thượng tôn pháp luật. Phổ biến, giáo dục pháp luật là cầu nối giữa pháp luật với đời sống xã hội, bảo đảm các quy định của pháp luật được truyền tải kịp thời đến mọi người dân. Nghị quyết số 27-NQ/TW[2] xác định yêu cầu bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, coi đây là chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó, Nhà nước giữ vai trò quản lý và huy động sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội cùng các chủ thể có liên quan.
Thứ hai, góp phần hình thành ý thức pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ cung cấp thông tin pháp lý, mà còn góp phần hình thành ý thức thượng tôn pháp luật, giúp người dân nhận thức đầy đủ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Khi có kiến thức pháp luật, người dân sẽ chủ động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, đồng thời, tham gia giám sát và đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật. Qua đó, văn hóa tuân thủ pháp luật từng bước được hình thành, tạo nền tảng cho việc xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật.
Thứ ba, là kênh truyền thông chính sách, tạo đồng thuận xã hội và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật. Thông qua hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước được truyền tải đầy đủ đến người dân, giúp họ hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích của mình, từ đó, nâng cao sự đồng thuận và khuyến khích tham gia tích cực vào quá trình thực hiện chính sách, pháp luật. Đồng thời, hoạt động này góp phần định hướng dư luận xã hội, hạn chế thông tin sai lệch và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật trong thực tiễn.
1.2. Vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Về phương diện pháp lý, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[3] (dự thảo Luật) tiếp tục hoàn thiện trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, tăng cường phân cấp, phân quyền, đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm các điều kiện thực hiện. Đặc biệt, Điều 24 dự thảo Luật tiếp tục quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; từ Điều 33 đến Điều 37 tiếp tục hoàn thiện các quy định về đội ngũ tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, điều kiện bảo đảm và đánh giá hiệu quả công tác này.
Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định, chính quyền cấp xã là chủ thể trực tiếp đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần hình thành văn hóa thượng tôn pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật ở cơ sở[4].
Do đó, vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau:
Thứ nhất, Ủy ban nhân dân cấp xã là chủ thể trực tiếp tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn. Thông qua hoạt động tiếp công dân, giải quyết thủ tục hành chính, hòa giải ở cơ sở, đối thoại, giải quyết khiếu nại, tố cáo và các hoạt động quản lý nhà nước khác, chính quyền cấp xã có điều kiện trực tiếp phổ biến, giải thích và hướng dẫn người dân thực hiện đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật; huy động công chức tư pháp - hộ tịch, hòa giải viên, tuyên truyền viên pháp luật và các lực lượng có liên quan tham gia thực hiện; bảo đảm các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai thống nhất, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Nội dung này được tiếp tục thể chế hóa tại Điều 24 dự thảo Luật.
Thứ hai, Ủy ban nhân dân cấp xã là cầu nối đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, đồng thời, có trách nhiệm lồng ghép công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với hoạt động quản lý nhà nước. Thông qua việc giải quyết thủ tục hành chính, quản lý đất đai, hộ tịch, hôn nhân và gia đình, bảo vệ môi trường, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và các nhiệm vụ quản lý khác, chính quyền cấp xã vừa hướng dẫn, giải thích pháp luật, vừa tiếp nhận những phản ánh từ thực tiễn để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện chính sách, pháp luật.
Thứ ba, Ủy ban nhân dân cấp xã giữ vai trò trung tâm trong việc phối hợp các lực lượng xã hội tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và huy động các nguồn lực phục vụ hoạt động này. Theo định hướng của Điều 33, Điều 34 và Điều 35 dự thảo Luật, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức và đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tiếp tục được hoàn thiện theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả và phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Thứ tư, Ủy ban nhân dân cấp xã giữ vai trò nòng cốt trong đổi mới phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với chuyển đổi số, đồng thời, có trách nhiệm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo trong tổ chức thực hiện. Bên cạnh các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật truyền thống, nhiều địa phương đã từng bước ứng dụng cổng thông tin điện tử, mạng xã hội và các nền tảng số để truyền tải thông tin pháp luật nhanh chóng, thuận tiện và phù hợp với nhu cầu tiếp cận của người dân.
Thứ năm, Ủy ban nhân dân cấp xã giữ vai trò bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân, định hướng dư luận xã hội và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật ở cơ sở. Trong những tình huống phát sinh ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, thông tin chính thống từ chính quyền cấp xã có ý nghĩa quan trọng trong việc giải thích chính sách, định hướng nhận thức, hạn chế thông tin sai lệch và tạo sự đồng thuận xã hội. Mục tiêu cuối cùng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ dừng ở truyền đạt các quy định của pháp luật, mà còn hướng tới nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, phòng ngừa vi phạm, bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
2. Thực tiễn thực hiện trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Việc triển khai trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả, tạo cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
2.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã đã đạt được nhiều kết quả tích cực, từng bước khẳng định vai trò trung tâm của chính quyền cơ sở trong tổ chức thi hành pháp luật.
Những năm gần đây, nhận thức của cấp ủy, chính quyền cấp xã về vị trí, vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều chính quyền cấp xã xác định đây là nhiệm vụ thường xuyên gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân cấp xã chủ động xây dựng kế hoạch hằng năm, lồng ghép nội dung phổ biến pháp luật với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tạo điều kiện nâng cao tính chủ động của cấp xã trong tổ chức công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Theo Quyết định số 26/2025/QĐ-TTg[5], việc thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã không còn là yêu cầu bắt buộc mà được giao cho địa phương quyết định phù hợp với điều kiện thực tế. Cơ chế này vừa mở rộng quyền chủ động của chính quyền cơ sở, vừa đặt ra yêu cầu cao hơn về trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Thực tiễn cho thấy, nhiều địa phương đã chủ động thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, mặc dù pháp luật hiện hành chưa bắt buộc. Hiện, cả nước có 1.293/3.321 đơn vị cấp xã thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, chiếm gần 40% tổng số đơn vị cấp xã[6]. Nhiều địa phương như Đồng Nai, Cà Mau, Lạng Sơn, Lào Cai, Sơn La, Nghệ An và Quảng Trị đã thành lập Hội đồng tại 100% đơn vị cấp xã. Thực tiễn này cho thấy, nhu cầu kiện toàn cơ chế phối hợp trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã là rất rõ nét, là cơ sở quan trọng để cơ quan soạn thảo nghiên cứu hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật. Đồng thời, 33/34 địa phương đề nghị bổ sung quy định về Hội đồng cấp xã trong dự thảo Luật[7]. Những số liệu này phản ánh sự chuyển biến về nhận thức cũng như quyết tâm nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật ở cơ sở.
Thứ hai, nội dung và phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật từng bước được đổi mới theo hướng bám sát thực tiễn.
Nhiều địa phương đã chuyển từ phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật từ hành chính sang lấy người dân làm trung tâm, lựa chọn nội dung phù hợp với đặc điểm từng địa bàn và từng nhóm đối tượng. Nhiều mô hình hiệu quả đã được hình thành, tiêu biểu như mô hình “Nông dân với pháp luật” tại xã Tân Hiệp B (tỉnh An Giang), góp phần giảm số vụ vi phạm pháp luật hành chính từ 25 vụ năm 2022 xuống còn 14 vụ năm 2023, đồng thời, được nhân rộng thông qua các câu lạc bộ pháp luật tại cơ sở. Bên cạnh đó, còn có các mô hình Tổ tư vấn pháp luật, Tổ tuyên truyền pháp luật lưu động và nhiều cách làm sáng tạo khác được triển khai ở nhiều địa phương[8].
Cùng với đổi mới mô hình tổ chức, nội dung phổ biến pháp luật tập trung vào các lĩnh vực gắn trực tiếp với đời sống như đất đai, hộ tịch, hôn nhân và gia đình, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông, chuyển đổi số, dịch vụ công trực tuyến, định danh điện tử và các chính sách an sinh xã hội. Nội dung phổ biến pháp luật được điều chỉnh linh hoạt theo đặc điểm từng địa bàn; đồng thời, hình thức thực hiện được mở rộng thông qua hệ thống truyền thanh cơ sở, sinh hoạt cộng đồng, mạng xã hội, nhóm zalo, pa nô, áp phích, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật và nhiều hình thức trực quan khác. Việc gắn quy định pháp luật với các tình huống thực tiễn góp phần nâng cao khả năng tiếp cận, ghi nhớ và chấp hành pháp luật của người dân[9].
2.2. Tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tiễn thực hiện vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Những hạn chế này xuất phát từ cả nguyên nhân thể chế và nguyên nhân tổ chức thực hiện, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở. Đồng thời, đây là những vấn đề được Bộ Tư pháp tổng kết trong quá trình đánh giá thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và là căn cứ quan trọng để xây dựng dự thảo Luật.
Thứ nhất, các quy định về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần tiếp tục được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của mô hình chính quyền địa phương hai cấp và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Mặc dù trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp đã được quy định trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, song một số quy định còn mang tính nguyên tắc, chưa phân định rõ trách nhiệm của từng cấp chính quyền, chưa theo kịp yêu cầu phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản trị địa phương. Những hạn chế này làm giảm tính chủ động, linh hoạt của chính quyền cơ sở trong tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây là một trong những căn cứ để Điều 24 dự thảo Luật tiếp tục hoàn thiện quy định về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp theo hướng rõ chủ thể, rõ nhiệm vụ và rõ trách nhiệm trong tổ chức thực hiện[10].
Thứ hai, chất lượng và tính bền vững của đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã chưa đồng đều. Đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch, tuyên truyền viên pháp luật, hòa giải viên ở cơ sở và các lực lượng tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật mặc dù đã có nhiều đóng góp tích cực nhưng còn những hạn chế về trình độ chuyên môn, kỹ năng truyền thông pháp luật, khả năng ứng dụng công nghệ số và phương pháp tiếp cận các nhóm đối tượng đặc thù. Một số địa phương còn thiếu cơ chế bồi dưỡng thường xuyên, chế độ động viên, khuyến khích chưa tương xứng nên chưa phát huy đầy đủ vai trò của lực lượng này. Thực tiễn đó là cơ sở để dự thảo Luật tiếp tục hoàn thiện các quy định về đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế phối hợp tại các điều 33, 34 và 35, hướng tới xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp, ổn định và đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới[11].
Thứ ba, nguồn lực và các điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã còn nhiều khó khăn. Ở một số địa phương, kinh phí dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động này chưa đáp ứng yêu cầu; việc huy động nguồn lực xã hội hóa chưa thực sự hiệu quả. Những khó khăn này ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, chất lượng và tính thường xuyên của các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Từ thực tiễn đó, Điều 36 dự thảo Luật đã tiếp tục hoàn thiện các quy định về điều kiện bảo đảm thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng tăng cường trách nhiệm của Nhà nước và khuyến khích huy động các nguồn lực hợp pháp từ xã hội.
Thứ tư, việc ứng dụng công nghệ số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã còn chưa đồng đều. Mặc dù nhiều địa phương đã từng bước ứng dụng cổng thông tin điện tử, mạng xã hội, nền tảng số và các hình thức truyền thông trực tuyến trong phổ biến, giáo dục pháp luật, song hiệu quả triển khai giữa các địa phương còn có sự khác biệt. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số địa phương còn hạn chế; nội dung trên các nền tảng số chưa được cập nhật thường xuyên, chưa khai thác hiệu quả các phương thức truyền thông mới và chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiếp cận thông tin pháp luật của người dân[12]. Thực trạng này làm giảm hiệu quả truyền thông pháp luật, đồng thời, tạo khoảng trống để thông tin pháp lý không chính thống tác động đến nhận thức và hành vi chấp hành pháp luật của người dân. Đây là một trong những căn cứ thực tiễn để dự thảo Luật bổ sung các quy định về ứng dụng công nghệ số tại Điều 11, hướng tới đổi mới phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật trong môi trường số.
Thứ năm, cơ chế theo dõi, đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thực sự toàn diện và chưa phản ánh đầy đủ chất lượng tổ chức thực hiện. Việc đánh giá kết quả phổ biến, giáo dục pháp luật ở nhiều địa phương chủ yếu dựa trên số lượng hoạt động, số lượng người tham gia hoặc số lượng tài liệu được phát hành, mà chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ thay đổi nhận thức, hành vi chấp hành pháp luật và hiệu quả tác động đối với quản lý nhà nước ở cơ sở. Điều này làm cho việc đánh giá chất lượng phổ biến, giáo dục pháp luật chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả thực chất hoạt động này. Vì vậy, Điều 37 dự thảo Luật đã bổ sung các quy định về đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng xây dựng hệ thống tiêu chí cụ thể, bảo đảm việc đánh giá được thực hiện khách quan, thực chất và gắn với kết quả tổ chức thi hành pháp luật.
2.3. Nguyên nhân
Những hạn chế, bất cập trên không xuất phát từ một nguyên nhân đơn lẻ mà là kết quả của nhiều yếu tố tác động đan xen, gồm cả những hạn chế trong quy định pháp luật, tổ chức thực hiện, nguồn nhân lực, điều kiện bảo đảm và quá trình chuyển đổi số ở cơ sở. Việc phân tích đầy đủ các nguyên nhân của những tồn tại này không chỉ giúp đánh giá khách quan thực trạng, mà còn tạo cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp hoàn thiện dự thảo Luật, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới.
Một là, hệ thống pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật còn phân tán; các quy định về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã chủ yếu mang tính nguyên tắc, chưa quy định cụ thể về tiêu chí đánh giá, cơ chế kiểm tra, giám sát và điều kiện bảo đảm thực hiện. Bên cạnh đó, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp làm gia tăng khối lượng công việc của cấp xã, trong khi nguồn nhân lực, kinh phí và cơ sở vật chất chưa được bổ sung kịp thời và tương xứng. Đồng thời, sự phát triển nhanh của công nghệ số, chênh lệch về điều kiện kinh tế - xã hội và trình độ dân trí giữa các địa phương tạo ra khó khăn trong bảo đảm hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Hai là, tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã còn một số hạn chế. Nhận thức của một bộ phận cán bộ, người đứng đầu địa phương về vai trò của công tác này chưa đầy đủ, dẫn đến sự chủ động trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện chưa cao. Đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, trong khi kỹ năng truyền thông, ứng dụng công nghệ số và khả năng xác định nhu cầu pháp luật của người dân còn hạn chế. Bên cạnh đó, việc đổi mới phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, huy động các nguồn lực xã hội và nhân rộng các mô hình hiệu quả ở một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Từ những kết quả đã đạt được, một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân đã phân tích, có thể thấy, việc nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã không chỉ đòi hỏi đổi mới tổ chức thực hiện, mà còn cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật. Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính và chuyển đổi số quốc gia, việc xác định đầy đủ vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã cần được thể chế hóa bằng các quy định rõ ràng, cụ thể và khả thi.
Dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định quan trọng về trách nhiệm của chính quyền địa phương, ứng dụng công nghệ số, cơ chế phối hợp, điều kiện bảo đảm và đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, nhiều quy định vẫn mang tính khung, cần được cụ thể hóa trong văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành (sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua) (văn bản quy định chi tiết luật). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị sau:
Thứ nhất, hoàn thiện quy định về trách nhiệm và cơ chế tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã.
Cần tiếp tục hoàn thiện Điều 24 dự thảo Luật theo hướng xác định hoặc văn bản quy định chi tiết Luật cần quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo đảm thống nhất với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu phân cấp, phân quyền. Quy định của Luật nên tập trung xác định những trách nhiệm mang tính nguyên tắc của Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; còn những nội dung về trình tự, phương thức tổ chức thực hiện, chế độ kiểm tra, sơ kết, tổng kết, báo cáo và trách nhiệm của các chủ thể liên quan nên giao Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong từng giai đoạn.
Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua, Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết các nội dung được Luật giao tại Điều 24, bảo đảm thống nhất trong tổ chức thực hiện và phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp hướng dẫn nghiệp vụ; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức triển khai thực hiện phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế phối hợp và phát triển nguồn nhân lực làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Tiếp tục hoàn thiện các quy định về cơ chế phối hợp trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã, quy định việc thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp xã nhằm đáp ứng yêu cầu phối hợp liên ngành trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tuy nhiên, để bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 66-NQ/TW[13] về xây dựng pháp luật theo hướng quy định khung, những nội dung về tiêu chí thành lập, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc và cơ chế hoạt động của Hội đồng nên giao Chính phủ quy định chi tiết. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, vừa tạo điều kiện để điều chỉnh linh hoạt phù hợp với đặc điểm của từng địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện.
Nghiên cứu bổ sung các quy định về đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và chuyển đổi số. Chính phủ quy định chi tiết về tiêu chí thành lập, thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp xã; đồng thời, quy định cụ thể về chế độ, chính sách và điều kiện bảo đảm đối với đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Bộ Tư pháp hướng dẫn nghiệp vụ và tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng này.
Thứ ba, hoàn thiện quy định về bảo đảm các điều kiện thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Hoàn thiện Điều 36 dự thảo Luật để cụ thể hóa các quy định về điều kiện bảo đảm thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, phù hợp với quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và các quy định có liên quan. Việc bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng công nghệ thông tin và các điều kiện cần thiết khác cần được thực hiện theo quy định của pháp luật, đồng thời, khuyến khích huy động các nguồn lực hợp pháp từ xã hội để nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Giao Chính phủ quy định chi tiết cơ chế bảo đảm các điều kiện thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; quy định rõ nguyên tắc quản lý, sử dụng kinh phí và cơ chế huy động các nguồn lực hợp pháp nhằm tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan hướng dẫn cụ thể việc quản lý, sử dụng kinh phí, đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng số và các điều kiện bảo đảm khác, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở.
Thứ tư, hoàn thiện quy định về ứng dụng công nghệ số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều 13 dự thảo Luật, đã quy định nguyên tắc ứng dụng công nghệ số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo đảm phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số quốc gia và nâng cao khả năng tiếp cận pháp luật của người dân. Việc khai thác nền tảng số, cơ sở dữ liệu điện tử và các ứng dụng trí tuệ nhân tạo cần được thực hiện trên cơ sở bảo đảm tính chính xác, thống nhất và an toàn của thông tin pháp luật; đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc cung cấp, kiểm chứng và cập nhật nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Để triển khai thống nhất sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua, Chính phủ quy định chi tiết việc ứng dụng công nghệ số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo phạm vi được Luật giao. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp hướng dẫn việc khai thác, sử dụng nền tảng số, cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ số phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của pháp luật.
Thứ năm, hoàn thiện quy định về kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều 37 dự thảo Luật đã quy định nguyên tắc về kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo đảm việc tổ chức thực hiện được theo dõi thường xuyên, khách quan và phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong giai đoạn mới. Vì vậy, cần xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tổ chức kiểm tra, đánh giá theo thẩm quyền, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổ chức thi hành pháp luật và hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Để bảo đảm tính khả thi và phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác xây dựng pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW, Chính phủ quy định chi tiết về tiêu chí đánh giá, chế độ báo cáo, công khai kết quả và trách nhiệm giải trình theo nội dung được Luật giao. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp hướng dẫn nghiệp vụ về kiểm tra, đánh giá và tổ chức thực hiện thống nhất trong phạm vi cả nước.
Kết luận
Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những công cụ quan trọng góp phần bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã giữ vai trò trực tiếp tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, qua đó, đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến với người dân một cách kịp thời, hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã còn bộc lộ một số hạn chế về thể chế, tổ chức thực hiện, nguồn nhân lực, điều kiện bảo đảm và ứng dụng công nghệ số. Những hạn chế này đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng xác định rõ trách nhiệm của chính quyền cấp xã, kiện toàn cơ chế phối hợp, bảo đảm nguồn lực, đẩy mạnh chuyển đổi số và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, đánh giá, trách nhiệm giải trình./.
ThS. Nguyễn Đình Minh
Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi
Ảnh: internet
[1]. Nguyễn Thị Hồi (2024), Trách nhiệm của chính quyền cấp cơ sở trong thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Tạp chí Luật học, số 5/2024, tr.38-47; Lê Hồng Sơn (2023), Đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề năm 2023, tr.12-20.
[2]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[3]. Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) trình Quốc hội kèm theo Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026.
[4]. Nguyễn Thị Hồi (2024), Trách nhiệm của chính quyền cấp cơ sở trong thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Tạp chí Luật học, số 5/2024, tr.38-47; Nguyễn Văn Cương (2024), Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ biến pháp luật ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 10/2024, tr.45-52.
[5]. Quyết định số 26/2025/QĐ-TTg ngày 04/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật.
[6]. Báo cáo số 563/BC-BTP ngày 18/7/2026 của Bộ Tư pháp về tiếp thu, giải trình kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ý kiến thẩm tra sơ bộ của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội đối với dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
[7]. Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 của Bộ Tư pháp tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.
[8]. Phụ lục IV Báo cáo số 400/BC-BTP.
[9]. Báo cáo số 400/BC-BTP.
[10]. Báo cáo số 400/BC-BTP.
[11]. Báo cáo số 400/BC-BTP.
[12]. Báo cáo số 400/BC-BTP.
[13]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Tư pháp (2023), Báo cáo tổng kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2023 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2024.
2. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương (2024), Báo cáo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2024.
4. Lê Hồng Sơn (2023), Đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề năm 2023.
5. Nguyễn Văn Cương (2024), Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ biến pháp luật ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 10/2024.
6. Nguyễn Thị Hồi (2024), Trách nhiệm của chính quyền cấp cơ sở trong thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Tạp chí Luật học, số 5/2024.
(Nguồn: Ấn phẩm chuyên sâu “Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, xuất bản năm 2026)