Từ khóa: sử dụng đất kết hợp đa mục đích; điện mặt trời; Điều 218 Luật Đất đai năm 2024; bất cập pháp lý; hoàn thiện thể chế.
MULTI-PURPOSE LAND USE FOR SOLAR POWER DEVELOPMENT IN VIETNAM: SHORTCOMINGS AND RECOMMENDATIONS FOR LAW COMPLETION
Abstract: Resolution No. 70-NQ/TW identifies renewable energy as a strategic priority in the national energy transition. Given that solar power projects require significant land or water surface areas, the mechanism for multi-purpose land use-stipulated in Article 218 of the 2024 Land Law-is expected to facilitate the efficient utilization of land resources. This study evaluates the coherence, feasibility, and predictability of the current land legal framework in relation to regulations on construction, the environment, and the electricity sector as they pertain to this model. Through a combination of normative analysis and interdisciplinary institutional analysis, the study clarifies the operationalization of the requirements set forth in Points a and b, Clause 2, Article 218 of the 2024 Land Law for commercial power generation projects with multi-decadal lifespans. It identifies four categories of shortcomings-spanning both legal provisions and implementation practices-and proposes a roadmap for institutional refinement, structured into short-term, medium-term, and long-term phases.
Keywords: Multi-purpose land use; solar power; Article 218 of the 2024 Land Law; legal shortcomings; institutional completion.
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia theo Nghị quyết số 70-NQ/TW, điện mặt trời là một trong những hướng phát triển tiềm năng đối với các dự án quy mô lớn, đòi hỏi diện tích đất hoặc mặt nước lớn. Luật Đất đai năm 2024 đã thiết lập tương đối đầy đủ cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích, trong đó, điểm g khoản 1 Điều 218 quy định việc sử dụng các loại đất thuộc khoản 2 và khoản 3 Điều 9 để kết hợp với mục đích điện mặt trời, gồm đất thuộc nhóm đất nông nghiệp và nhóm đất phi nông nghiệp, song việc triển khai trên thực tế còn bất cập do thiếu đồng bộ giữa các lĩnh vực pháp luật liên quan[2].
Vấn đề này đã được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Hướng kỹ thuật - năng lượng hệ thống hóa tiềm năng của điện mặt trời nổi và mô hình kết hợp nông nghiệp[3] nhưng gần như không phân tích khung pháp lý về sử dụng đất. Hướng đất đai - quy hoạch chỉ ra những hạn chế về tiêu chí định lượng và khoảng trống trong đăng ký địa chính[4] song chưa gắn với đặc thù dự án năng lượng. Hướng chính sách năng lượng đánh giá tác động của Quy hoạch điện VIII và tiềm năng kỹ thuật theo vùng[5] nhưng chưa đi sâu vào quan hệ đất đai, tài sản và đăng ký.
Các nghiên cứu pháp lý trực tiếp về Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đã bước đầu chỉ ra những vấn đề liên quan đến tiêu chí định lượng, đăng ký địa chính và cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích trong một số loại hình bất động sản, dự án đầu tư[6]. Ở cấp độ thực thi, đã ghi nhận kiến nghị sửa Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 theo hướng làm rõ khái niệm, quy định riêng cho từng loại đất và thống nhất tiêu chí thẩm định, nghĩa vụ tài chính, trình tự phê duyệt; đồng thời, phản ánh khó khăn của chính quyền cơ sở khi xác định tỷ lệ diện tích kết hợp[7]. Điểm chung của các nghiên cứu trên là chưa công trình nào đặt Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 vào bối cảnh riêng của điện mặt trời - loại dự án vòng đời dài, chiếm dụng không gian lớn và phụ thuộc hạ tầng lưới điện. Vì vậy, nghiên cứu phân tích điều kiện áp dụng các yêu cầu tại khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án thương mại.
Về lý thuyết, nghiên cứu tham chiếu hướng tiếp cận quản trị tài nguyên theo không gian, theo đó, đất đai được quản lý theo chức năng không gian có thể được tổ chức theo các lớp chức năng thay vì theo mục đích đơn lẻ và tham chiếu nhận định về hiệu quả quản trị tài nguyên chung phụ thuộc vào sự rõ ràng của ranh giới quyền lợi, quy tắc khai thác, cơ chế giám sát và chế tài[8]. Từ đó, ba tiêu chí đánh giá được xác định về nội hàm như sau: (i) tính đồng bộ là mức độ tương thích về nội dung và thủ tục giữa pháp luật đất đai với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực, với chỉ báo là cùng một vấn đề nhưng khác thẩm quyền, khác thủ tục hoặc khác điều kiện giữa các văn bản; (ii) tính khả thi là khả năng áp dụng thực tế trong thẩm định hồ sơ, đăng ký biến động, cấp phép xây dựng và xác định nghĩa vụ tài chính, với chỉ báo là thiếu biểu mẫu, thiếu dữ liệu nền hoặc thiếu ngưỡng kỹ thuật đo lường được; (iii) khả năng dự báo là mức độ nhà đầu tư có thể dự đoán trước thủ tục, thời hạn, tiêu chí kỹ thuật, nghĩa vụ tài chính và đầu mối chịu trách nhiệm. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, dựa trên dữ liệu thứ cấp; các kết luận về tác động thị trường và hành vi nhà đầu tư cần được kiểm chứng bằng nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo.
1. Khái quát về sử dụng đất kết hợp đa mục đích trong đầu tư điện mặt trời theo Luật Đất đai năm 2024
Trước khi nhận diện bất cập, cần làm rõ nhu cầu thực tiễn đặt ra đối với mô hình này và cấu trúc pháp lý mà Luật Đất đai năm 2024 thiết lập để điều chỉnh.
1.1. Bối cảnh, nhu cầu và tiềm năng
Nhu cầu sử dụng đất kết hợp bắt nguồn từ tốc độ mở rộng của năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện. Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến cuối năm 2025, tổng công suất nguồn điện toàn hệ thống (không tính nhập khẩu) đạt khoảng 87.600 MW, tăng gần 6.400 MW so với năm 2024, trong đó, nguồn năng lượng tái tạo khoảng 24.453 MW, chiếm 27,9%; hai nhà máy điện mặt trời Phước Thái 2 và Phước Thái 3, có tổng công suất 150 MWp, đã hòa lưới và phát điện năm 2025[9]. Sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng toàn hệ thống đạt 171,54 tỷ kWh, tăng 9,85% so cùng kỳ; năng lượng tái tạo đóng góp 22,12 tỷ kWh, chiếm 12,9%, riêng điện mặt trời đạt 14,59 tỷ kWh, chiếm gần hai phần ba sản lượng năng lượng tái tạo. Cả năm 2026, dự kiến đạt 358,6 tỷ kWh, tăng 11,1%[10].
Các số liệu trên cho thấy, năng lượng tái tạo, trong đó có điện mặt trời, đang giữ tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu nguồn điện và tiếp tục có dư địa phát triển. Tuy nhiên, điện mặt trời có đặc điểm phụ thuộc vào điều kiện bức xạ và có hệ số công suất thấp hơn so với nhiều loại nguồn điện truyền thống, nên để đạt sản lượng điện nhất định thường phải bố trí công suất lắp đặt lớn và diện tích mặt bằng tương ứng. Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nhu cầu sử dụng không gian đất, mặt nước cho phát triển điện mặt trời và đặt ra yêu cầu khai thác hiệu quả quỹ đất thông qua các mô hình sử dụng kết hợp đa mục đích.
Khảo sát tại 08 công trình cấp nước ở Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, việc khai thác tiềm năng điện mặt trời tại các công trình hạ tầng hiện có có thể đạt tổng công suất lắp đặt khả thi khoảng 3.652 kWp, giảm chi phí vận hành từ 15% đến 25% và rút ngắn thời gian hoàn vốn còn 5,2 đến 6,8 năm[11]. Kết quả này cho thấy, việc kết hợp phát triển điện mặt trời với hoạt động của các công trình hiện hữu có tiềm năng mang lại hiệu quả kinh tế, đồng thời, đặt ra yêu cầu phải xác định rõ điều kiện sử dụng đất, mặt nước để triển khai mô hình này mà không làm ảnh hưởng đến mục đích sử dụng chính của công trình. Bên cạnh đó, điện mặt trời nổi còn có khả năng giảm thất thoát nước do bay hơi và hạn chế nhu cầu chuyển mục đích. Song tiềm năng kỹ thuật chỉ có thể chuyển hóa thành hiệu quả kinh tế khi khung pháp lý đủ rõ ràng; tuy nhiên, sự thiếu thống nhất trong hướng dẫn làm cho việc áp dụng không đồng bộ giữa các địa phương[12].
1.2. Cơ sở pháp lý và phân loại đối tượng điều chỉnh
Cấu trúc pháp lý của mô hình này được xác lập bởi Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 và Điều 99 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP[13]. Theo điểm g khoản 1 Điều 218, đất thuộc nhóm đất nông nghiệp và nhóm đất phi nông nghiệp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 9 Luật này được sử dụng kết hợp với mục đích điện mặt trời; điểm đ khoản 1 Điều này quy định chế độ riêng đối với đất có mặt nước. Khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đặt ra các yêu cầu đối với việc sử dụng đất kết hợp đa mục đích, trong đó, hai yêu cầu có ý nghĩa nền tảng là không làm thay đổi loại đất theo phân loại tại khoản 2 và khoản 3 Điều 9 Luật Đất đai năm 2024 và không làm mất đi điều kiện cần thiết để trở lại sử dụng đất vào mục đích chính[14]. Điều 99 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP cụ thể hóa các điều kiện: việc kết hợp không thuộc trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất theo Điều 121 Luật Đất đai năm 2024; diện tích kết hợp không quá 50% diện tích sử dụng vào mục đích chính, trừ đất ở; công trình trên đất nông nghiệp phải có quy mô, tính chất phù hợp và dễ dàng tháo dỡ; đất có mặt nước không được san lấp làm thay đổi dòng chảy, diện tích bề mặt nước và chiều sâu tầng nước; thời gian kết hợp không vượt quá thời hạn sử dụng đất còn lại của mục đích chính[15].
Một điểm dễ gây nhầm lẫn trong tranh luận học thuật là xu hướng “gom” quyền sử dụng đất, mặt nước, công trình xây dựng và tài sản gắn liền với đất vào cùng một khung phân tích, trong khi mỗi đối tượng chịu một chế độ pháp lý riêng. Mặt nước còn chịu sự điều chỉnh của Luật Tài nguyên nước năm 2023 và Luật Thủy lợi năm 2017 nên điện mặt trời nổi phải đáp ứng các yêu cầu pháp lý có liên quan đến việc sử dụng, khai thác mặt nước và bảo vệ môi trường. Công trình trên đất kết hợp chịu điều kiện về xây dựng và an toàn công trình theo pháp luật xây dựng; việc xác định loại công trình, yêu cầu kỹ thuật và chế độ quản lý đối với từng dạng công trình điện mặt trời phải căn cứ vào đặc điểm, quy mô và phương án xây dựng cụ thể. Với hệ thống pin và kết cấu đỡ, tư cách bất động sản không suy ra đương nhiên từ dấu hiệu gắn liền với đất. Điểm c khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015 xếp “tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng” vào nhóm bất động sản nhưng áp dụng cho một hệ thống cụ thể còn phụ thuộc vào đặc điểm và mức độ gắn liền của tài sản với đất đai, nhà ở hoặc công trình xây dựng. Việc pháp luật yêu cầu công trình xây dựng trên đất nông nghiệp phục vụ mục đích kết hợp phải “dễ dàng tháo dỡ” không đồng nghĩa với việc tài sản đó đương nhiên là động sản; đây là yêu cầu về tính chất, phương thức sử dụng công trình trong cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích. Pháp luật đất đai quy định việc đăng ký, chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo điều kiện và trình tự luật định nên khả năng sử dụng hệ thống điện mặt trời làm tài sản bảo đảm cần được xem xét trên cơ sở tư cách tài sản, quyền sở hữu và khả năng đăng ký, xử lý tài sản theo pháp luật có liên quan, không phát sinh đương nhiên từ việc lắp đặt. Ba mô hình phổ biến, gồm: điện mặt trời kết hợp nông nghiệp, điện mặt trời nổi và điện mặt trời mái nhà, đều liên quan đến một hoặc nhiều đối tượng trên.
2. Một số bất cập của pháp luật và tổ chức thi hành về sử dụng đất kết hợp đa mục đích trong đầu tư điện mặt trời tại Việt Nam
Trên nền tảng đó, các bất cập được xem xét ở hai cấp độ: (i) cấp quy phạm, với những hạn chế về ngưỡng xác định và tính tương thích giữa các quy định pháp luật có liên quan; (ii) cấp tổ chức thi hành, với những hạn chế về hạ tầng dữ liệu, phân định thẩm quyền và cơ chế hậu kiểm.
2.1. Bất cập của pháp luật hiện hành
Ở cấp quy phạm, những bất cập chủ yếu tập trung ở ba vấn đề: (i) các yêu cầu tiên quyết của Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 chưa được chuyển hóa thành tiêu chí, ngưỡng đo lường cụ thể; (ii) phương án sử dụng đất kết hợp đã được chấp thuận nhưng chưa được ghi nhận đầy đủ trong hồ sơ địa chính; (iii) pháp luật đất đai chưa bảo đảm tương thích với pháp luật xây dựng, môi trường và điện lực.
2.1.1. Hai yêu cầu tiên quyết tại khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 chưa được cụ thể hóa cho dự án điện mặt trời quy mô thương mại
Điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 quy định hai yêu cầu đối với việc sử dụng đất kết hợp đa mục đích. Tuy nhiên, hai yêu cầu này được thiết kế theo chuẩn mực chung, trong khi phạm vi áp dụng trải rộng trên những tình huống khác nhau về bản chất, xét theo cả nhóm đất (nông nghiệp, phi nông nghiệp, đất có mặt nước) và mục đích tiêu thụ điện (tự sản xuất, tự tiêu thụ hoặc phát điện thương mại). Một hệ thống 20 kWp lắp trên mái trại chăn nuôi để tự dùng và một dự án 50 MW trải rộng trên hàng chục héc-ta đất nông nghiệp, bán điện lên lưới, vận hành liên tục 20 đến 25 năm về nguyên tắc đều phải tuân thủ các yêu cầu của pháp luật về sử dụng đất kết hợp đa mục đích[16]. Chính ở tình huống thứ hai, hai yêu cầu trên bộc lộ ba khoảng trống.
Thứ nhất, yêu cầu “không làm thay đổi loại đất” chưa được cụ thể hóa thành các tiêu chí phản ánh mức độ và tính chất của việc sử dụng đất kết hợp.
Điểm a khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 chỉ dẫn chiếu phân loại đất theo Điều 9 và giấy tờ theo Điều 10, tức chủ yếu xác định việc không thay đổi loại đất trên phương diện pháp lý. Điểm a khoản 2 Điều 99 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP bổ sung điều kiện việc sử dụng đất kết hợp không thuộc trường hợp chuyển mục đích theo Điều 121 Luật Đất đai năm 2024. Hệ quả là khi một dự án phát điện thương mại chiếm tới 50% diện tích thửa đất nông nghiệp trong hai thập niên và tạo doanh thu vượt trội so với việc canh tác sản xuất nông nghiệp, loại đất trên giấy chứng nhận là đất nông nghiệp trong khi mục đích của dự án là sản xuất điện. Khoảng trống pháp lý có thể dẫn đến nguy cơ khó phân định ranh giới giữa sử dụng đất kết hợp đa mục đích và chuyển mục đích sử dụng đất trên thực tế. Đồng thời, điều này có thể ảnh hưởng đến việc áp dụng cơ chế kiểm soát chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo Điều 121 và Điều 122 Luật Đất đai năm 2024, cũng như bảo đảm chế độ sử dụng đối với đất trồng lúa, đất lâm nghiệp theo pháp luật chuyên ngành. Đặc biệt, pháp luật chưa thiết lập ngưỡng định lượng riêng đối với điện mặt trời để xác định khi nào việc sử dụng kết hợp không bảo đảm tính chất của mục đích sử dụng đất chính.
Về nghĩa vụ tài chính, không thể kết luận quy định hiện hành tất yếu dẫn đến thất thu. Khoản 5 Điều 99 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định diện tích đất sử dụng kết hợp vào mục đích điện mặt trời phải nộp tiền thuê đất hằng năm; giá đất để tính tiền thuê đất theo bảng giá do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định; trường hợp đất sử dụng vào mục đích chính đã nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì chỉ phải nộp phần chênh lệch giữa mục đích sử dụng đất chính và mục đích kết hợp. Vấn đề đặt ra, cơ chế này phụ thuộc vào việc xác định chính xác diện tích đất sử dụng vào mục đích kết hợp và căn cứ xác định giá đất tương ứng; trong khi cách xác định diện tích sử dụng vào mục đích kết hợp đối với điện mặt trời chưa được quy định cụ thể, thống nhất.
Đặc biệt, pháp luật chưa quy định rõ cách xác định “diện tích đất sử dụng vào mục đích kết hợp” đối với điện mặt trời. Đối với một dự án điện mặt trời, diện tích này có thể được hiểu theo diện tích chiếm đất trực tiếp của móng, cột, thiết bị; diện tích hình chiếu bằng của tấm pin hoặc phạm vi diện tích được xác định trong phương án sử dụng đất kết hợp. Mỗi cách xác định có thể dẫn đến kết quả khác nhau khi áp dụng giới hạn 50% và tính nghĩa vụ tài chính, trong khi chưa có tiêu chí kỹ thuật thống nhất để lựa chọn.
Thứ hai, yêu cầu “không làm mất đi điều kiện cần thiết để trở lại sử dụng đất vào mục đích chính” chưa gắn với các tiêu chí kỹ thuật cụ thể và cơ chế bảo đảm thực hiện.
Điểm đ khoản 2 Điều 99 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định thời gian sử dụng đất vào mục đích kết hợp không vượt quá thời hạn sử dụng đất còn lại của mục đích chính. Tuy nhiên, giới hạn về thời gian chưa phản ánh đầy đủ khả năng phục hồi điều kiện sử dụng đất sau khi kết thúc hoạt động điện mặt trời. Trường hợp dự án được triển khai trong thời gian dài, các tác động như che phủ, nén đất, thay đổi điều kiện ánh sáng và độ ẩm có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp tục sử dụng đất vào mục đích chính nhưng pháp luật chưa quy định hệ thống tiêu chí cụ thể để đánh giá và kiểm soát mức độ tác động này. Tiêu chí “dễ dàng tháo dỡ” đối với công trình trên đất nông nghiệp cũng không đồng nhất với khả năng khôi phục điều kiện sử dụng đất, bởi khả năng tháo dỡ kết cấu công trình và khả năng phục hồi chất lượng đất là hai vấn đề khác nhau.
Pháp luật đã yêu cầu phương án sử dụng đất kết hợp có nội dung về tháo dỡ công trình và khôi phục để bảo đảm tiếp tục sử dụng đất vào mục đích chính sau khi hết thời hạn sử dụng kết hợp; đồng thời, quy định trách nhiệm khôi phục trong quá trình và khi kết thúc việc sử dụng đất kết hợp. Tuy nhiên, chưa có cơ chế bảo đảm tài chính chuyên biệt cho chi phí tháo dỡ và khôi phục đối với dự án điện mặt trời quy mô thương mại. Đây là điểm cần được xem xét, nhất là đối với các dự án có thời gian hoạt động dài và chi phí tháo dỡ, phục hồi lớn. Đối với hoạt động khai thác khoáng sản, vốn có cấu trúc rủi ro tương tự, khoản 2 Điều 137 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Điều 37 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP đã thiết lập cơ chế ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường, hoàn trả theo tiến độ nghiệm thu và được dùng để phục hồi khi doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản. Trong khi đó, pháp luật chưa thiết lập cho điện mặt trời trên đất nông nghiệp hoặc mặt nước cơ chế ký quỹ phục hồi tương ứng với tính chất và mức độ rủi ro của hoạt động này.
Thứ ba, đối với đất có mặt nước, các yêu cầu hiện hành chủ yếu tập trung vào việc không làm thay đổi đặc điểm vật lý của mặt nước, chưa có tiêu chí cụ thể để đánh giá tác động của việc che phủ về mặt nước.
Điểm c khoản 2 Điều 99 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định đất có mặt nước không được san lấp làm thay đổi dòng chảy, diện tích bề mặt nước và chiều sâu tầng nước. Quy định này kiểm soát trực tiếp hành vi san lấp nhưng chưa trực tiếp điều chỉnh trường hợp sử dụng hệ thống điện mặt trời nổi che phủ một phần bề mặt nước mà không thực hiện san lấp. Trong trường hợp này, việc che phủ có thể làm thay đổi điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, oxy hòa tan và các điều kiện sinh thái khác của thủy vực. Tuy nhiên, pháp luật về sử dụng đất kết hợp đa mục đích chưa thiết lập các tiêu chí cụ thể để xác định mức độ che phủ hoặc đánh giá tác động của hệ thống điện mặt trời nổi đối với khả năng tiếp tục sử dụng mặt nước vào mục đích chính.
Ba khoảng trống trên có chung một nguyên nhân: các yêu cầu tại khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được quy định dưới dạng tiêu chí định tính, trong khi chưa được cụ thể hóa đầy đủ thành các tiêu chí, ngưỡng kỹ thuật để có thể đo lường và áp dụng thống nhất cho từng loại hình sử dụng đất kết hợp. Đối với điện mặt trời, các tiêu chí cần được nghiên cứu, định lượng hóa có thể tập trung vào ba nhóm:
(i) Nhóm đất đai - nông nghiệp gồm tỷ lệ che phủ tán quang tối đa, tỷ lệ duy trì năng suất tối thiểu so với năng suất bình quân vùng, chỉ tiêu chất lượng đất phải bảo toàn (độ chặt, tầng canh tác, hàm lượng hữu cơ) và cách đo diện tích kết hợp để áp dụng ngưỡng 50%; do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) hoặc tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) thực hiện.
(ii) Nhóm xây dựng - kỹ thuật gồm loại móng, chiều cao kết cấu, thời gian tháo dỡ tối đa, tiêu chí an toàn và việc phân loại công trình năng lượng hay công trình phụ trợ; do Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp Bộ Công Thương thực hiện.
(iii) Nhóm môi trường - tài nguyên nước gồm tỷ lệ che phủ mặt nước tối đa, hành lang thủy động lực, chỉ tiêu quan trắc chất lượng nước bắt buộc và tiêu chí sàng lọc môi trường riêng cho điện mặt trời nổi, điện mặt trời kết hợp nông nghiệp; do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp Bộ Công Thương và địa phương thực hiện.
2.1.2. Thiếu cơ chế định danh pháp lý và liên thông đăng ký
Bất cập thứ hai mang tính cấu trúc: sự không đồng bộ, thiếu thống nhất giữa khâu chấp thuận phương án sử dụng đất kết hợp đa mục đích và khâu ghi nhận trong hệ thống địa chính. Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 quy định sử dụng đất kết hợp đa mục đích không làm thay đổi loại đất nhưng Thông tư số 10/2024/TT-BTNMT[17] chưa quy định về việc ghi nhận trạng thái sử dụng kết hợp. Hệ quả là dù phương án được chấp thuận theo trình tự hành chính, trạng thái sử dụng đất kết hợp chưa được ghi nhận tương ứng trong hồ sơ địa chính.
Điều này tạo ra ba rủi ro: rủi ro thanh tra, khi cơ quan kiểm tra không thể đối chiếu hiện trạng với hồ sơ địa chính; rủi ro tài chính, khi việc không ghi nhận làm suy giảm khả năng chứng minh tính hợp pháp và giá trị bảo đảm của tài sản gắn liền với đất; rủi ro diễn giải, dẫn đến tranh chấp quyền lợi giữa các bên[18]. Cả ba rủi ro này, đều làm suy giảm khả năng dự báo từ góc độ nhà đầu tư, đồng thời, làm hạn chế dữ liệu cần thiết để hậu kiểm việc tuân thủ hai yêu cầu tiên quyết đã phân tích tại Mục 2.1.1.
Tình trạng này càng phức tạp khi cơ chế phân định thẩm quyền thường xuyên thông qua việc Chính phủ ban hành ba nghị định: Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định thủ tục phê duyệt phương án; Nghị định số 151/2025/NĐ-CP[19] quy định về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục phê quyệt phương án sử dụng đất kết hợp đa mục đích và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP[20] tiếp tục sửa đổi, bổ sung một số quy định có liên quan. Sự thay đổi này đặt ra yêu cầu rà soát, cập nhật thống nhất các quy định về thẩm quyền và trình tự, thủ tục áp dụng đối với dự án điện mặt trời.
2.1.3. Thiếu đồng bộ với pháp luật xây dựng, môi trường và điện lực
Bất cập thứ ba thể hiện ở sự chưa tương thích giữa các quy định pháp luật chuyên ngành, đặt ra một số vấn đề pháp lý cần được làm rõ.
Thứ nhất, về pháp luật xây dựng. Khoản 11 Điều 53 Nghị định số 175/2024/NĐ-CP[21] cho phép cấp phép căn cứ vào mục đích sử dụng đất chính. Quy định này tạo thuận lợi về thủ tục nhưng chưa làm rõ một số vấn đề: công trình điện mặt trời trên đất nông nghiệp thuộc loại công trình nào và có cần phân biệt dự án phát điện thương mại với công trình tự sản xuất, tự tiêu thụ hay không; tiêu chí “dễ dàng tháo dỡ” có tương thích với tiêu chuẩn an toàn kết cấu hiện hành không; cấp phép theo mục đích sử dụng đất chính có làm suy giảm khả năng kiểm soát mục đích phụ trong vận hành không và nếu dự án không thể đấu nối lưới điện sau khi phương án đã được chấp thuận thì phương án đó có bị chấm dứt hay thu hồi không.
Thứ hai, về pháp luật môi trường. Pháp luật môi trường chưa có tiêu chí sàng lọc đặc thù cho điện mặt trời sử dụng kết hợp đa mục đích. Mặc dù không nhất thiết phải thiết kế một chế độ đánh giá tác động môi trường riêng, vì có thể làm phát sinh thủ tục không cần thiết, nhưng cần ban hành tiêu chí sàng lọc phù hợp với đặc thù của điện mặt trời nổi và điện mặt trời kết hợp nông nghiệp về che phủ ánh sáng, vi khí hậu, dòng chảy mặt và đa dạng sinh học vi mô, phân loại theo quy mô công suất và vị trí.
Thứ ba, về pháp luật điện lực. Nghị định số 58/2025/NĐ-CP[22] quy định về điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ, nhưng đối với điện mặt trời trên đất kết hợp đa mục đích thì chưa có quy định trực tiếp. Khả năng đấu nối vào lưới điện là điều kiện tiên quyết về kinh tế nhưng không được tích hợp vào quy trình phê duyệt phương án sử dụng đất. Mặc dù không cần thiết phải biến đấu nối vào lưới điện thành điều kiện pháp lý cứng trong mọi trường hợp, vì điều đó có thể kéo dài thủ tục đất đai, mà cần xác nhận sơ bộ khả năng đấu nối vào lưới điện trước khi phê duyệt phương án đối với dự án công suất lớn.
2.2. Bất cập trong tổ chức thi hành
Cho dù khung pháp luật được hoàn thiện, nhưng hiệu quả thực hiện pháp luật đóng vai trò quan trọng. Thực tế cho thấy, còn một số bất cập sau:
2.2.1. Hạ tầng dữ liệu đất đai chưa đáp ứng yêu cầu quản trị kết hợp
Chỉ thị số 05/CT-TTg[23] yêu cầu đẩy nhanh đo đạc địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia trong năm 2026. Sự cấp thiết của Chỉ thị này phản ánh khoảng cách giữa yêu cầu chuẩn tắc - phương án sử dụng đất kết hợp phải xác định rõ vị trí, diện tích, thời gian, sơ đồ và phương án khôi phục - với mức độ sẵn sàng của dữ liệu thực tế. Khi cơ sở dữ liệu địa chính chưa đủ khả năng định vị và cập nhật trạng thái kết hợp, cơ quan nhà nước khó xác định phần diện tích chịu nghĩa vụ tài chính về đất đai theo khoản 5 Điều 99 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP, khó kiểm tra việc tuân thủ phương án khôi phục và khó phát hiện sớm các xung đột về sử dụng không gian.
2.2.2. Rủi ro phân mảnh thể chế trong phân cấp thẩm quyền
Nghị định số 49/2026/NĐ-CP cho phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện một số thủ tục hành chính đất đai đến ngày 01/7/2026 và tiếp tục phân cấp hoặc ủy quyền xuống cấp dưới. Phân cấp đúng mức nâng cao hiệu quả nhưng nếu thiếu khung tiêu chí thẩm định thống nhất ở cấp trung ương, phân cấp dễ chuyển thành phân mảnh thể chế. Đối với nhà đầu tư có danh mục dự án ở nhiều tỉnh, sự khác biệt về hồ sơ, tiêu chí và thời gian xử lý tạo ra chi phí tuân thủ cao và làm suy giảm khả năng dự báo[24].
2.2.3. Biến động giá đất và rủi ro lợi dụng cơ chế
Khi đất nông nghiệp được phép kết hợp với mục đích điện mặt trời, thị trường có xu hướng phản ánh kỳ vọng sinh lợi từ phát điện vào giá đất hiện tại, ngay cả trước khi phương án được chấp thuận. Cơ chế tiền thuê đất hằng năm theo khoản 5 Điều 99 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP thu hồi một phần địa tô nhưng có thể chưa đủ triệt tiêu phần địa tô kỳ vọng hình thành từ sự bất cân xứng thông tin về quy hoạch và khả năng thực hiện dự án. Kết hợp với khoảng trống về ngưỡng phân định tại Mục 2.1.1 cho thấy, nếu hậu kiểm yếu thì cơ chế kết hợp đa mục đích có thể bị lợi dụng để hợp thức hóa việc chuyển dịch công năng trên thực tế. Rủi ro này cần được kiểm chứng bằng dữ liệu giá đất theo vùng trước khi đưa ra kiến nghị chính sách cụ thể.
3. Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi
Từ bốn nhóm bất cập đã nhận diện, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn, gắn với chủ thể chịu trách nhiệm và mốc thời gian xác định. Nguyên tắc xuyên suốt là phân tầng chế độ pháp lý theo quy mô, tính chất dự án và mục đích sử dụng điện, thay vì áp dụng một chuẩn mực chung cho mọi trường hợp.
3.1. Trong ngắn hạn (giai đoạn 2026 - 2027): cần xử lý dứt điểm các khoảng trống về tiêu chí và phân tầng thủ tục
Mục tiêu của giai đoạn này là xử lý ngay những điểm đang gây vướng mắc trong khâu thẩm định bằng văn bản dưới luật và thủ tục hành chính cấp tỉnh, không chờ sửa Luật.
Thứ nhất, thiết lập chế độ pháp lý phân tầng theo quy mô công suất và mục đích sử dụng điện như đề xuất tại Bảng 1. Đây là giải pháp để xử lý trực tiếp các bất cập tại Mục 2.1.1, cho phép giảm gánh nặng thủ tục đối với trường hợp tác động thấp và tăng kiểm soát đối với trường hợp tác động cao mà không cần sửa Luật.
![]() |
| Bảng 1: Đề xuất phân tầng chế độ pháp lý theo quy mô và mục đích sử dụng điện |
Ngưỡng công suất phân định ba tầng cần được xác định trên cơ sở khảo sát thực tiễn và tham chiếu các ngưỡng công suất được sử dụng trong pháp luật về điện lực, bảo đảm tính thống nhất giữa các quy định pháp luật có liên quan.
Thứ hai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu ban hành thông tư hướng dẫn kỹ thuật tạm thời xác định ngưỡng định lượng cho nhóm tiêu chí đất đai - nông nghiệp và môi trường - tài nguyên nước theo Bảng 1, áp dụng đến khi có QCVN hoặc TCVN chính thức; đồng thời, quy định rõ cách đo diện tích kết hợp để áp dụng ngưỡng 50% tại khoản 2 Điều 99 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP, theo hướng lấy diện tích hình chiếu bằng của tấm pin và công trình phụ trợ làm căn cứ, đồng thời, làm căn cứ xác định diện tích tính tiền thuê đất theo khoản 5 Điều 99 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP. Bộ Xây dựng ban hành hướng dẫn phân loại công trình điện mặt trời và điều kiện cấp phép rút gọn đối với công trình có thể tháo dỡ.
Thứ ba, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu sửa đổi Thông tư số 10/2024/TT-BTNMT để bổ sung cơ chế ghi nhận trạng thái sử dụng đất kết hợp vào hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai; thông tin về mục đích kết hợp, thời hạn và tài sản kèm theo được thể hiện trong hồ sơ địa chính và giấy chứng nhận theo quy định, không làm thay đổi loại đất đã ghi.
Thứ tư, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, chuẩn hóa thủ tục hành chính về sử dụng đất kết hợp đa mục đích đã ban hành theo khung tiêu chí thẩm định của trung ương, bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thực hiện giữa các địa phương.
3.2. Trong trung hạn (giai đoạn 2027 - 2029): thiết lập cơ chế bảo đảm thực hiện và tham vấn liên ngành
Nếu giai đoạn ngắn hạn thiên về khắc phục khoảng trống thủ tục thì giai đoạn trung hạn hướng tới bảo đảm các yêu cầu của Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được thực hiện trên thực tế, không dừng ở cam kết trên hồ sơ.
Thứ nhất, bổ sung cơ chế bảo đảm tài chính cho nghĩa vụ khôi phục đối với dự án thuộc Tầng 3, dưới hình thức ký quỹ tại Quỹ Bảo vệ môi trường hoặc bảo lãnh ngân hàng; mức bảo đảm tính theo suất chi phí tháo dỡ và phục hồi trên đơn vị diện tích, hoàn trả theo tiến độ nghiệm thu, tham chiếu mô hình đã được áp dụng trong khai thác khoáng sản theo Điều 137 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Điều 37 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP[25]. Đây là điều kiện để yêu cầu tại điểm b khoản 2 Điều 218 có hiệu lực thực tế thay vì chỉ là cam kết trên hồ sơ.
Thứ hai, ban hành QCVN hoặc TCVN chính thức cho từng nhóm tiêu chí tại Bảng 1 theo quy trình của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025), hoàn thành trước năm 2028.
Thứ ba, thiết lập quy trình tham vấn tích hợp liên ngành, theo đó, việc phê duyệt phương án sử dụng đất kết hợp được thực hiện đồng thời với xác nhận sơ bộ khả năng đấu nối vào lưới điện và sàng lọc môi trường trong cùng một quy trình phối hợp, tránh biến các nội dung này thành điều kiện pháp lý cứng làm kéo dài thủ tục; đồng thời, xây dựng mã định danh riêng cho trạng thái sử dụng đất kết hợp đa mục đích trong cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, từng bước liên thông với các cơ sở dữ liệu có liên quan về tài sản, tín dụng và quy hoạch.
3.3. Trong dài hạn (từ năm 2029): hoàn thiện tổng thể khung pháp luật
Trong dài hạn, vấn đề không còn ở các văn bản hướng dẫn mà ở thiết kế của các quy phạm gốc trong pháp luật đất đai và pháp luật điện lực.
Thứ nhất, rà soát, ban hành văn bản pháp luật để tích hợp phát triển điện mặt trời gắn với sử dụng đất kết hợp đa mục đích, trên cơ sở mở rộng phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 58/2025/NĐ-CP hiện chỉ quy định về điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ, nhằm giải quyết triệt để các vấn đề liên ngành còn “bỏ ngỏ” đã được phân tích tại Mục 2.1.3.
Thứ hai, bổ sung tiêu chí chức năng bên cạnh tiêu chí hình thức khi xác định ranh giới giữa sử dụng đất kết hợp và chuyển mục đích sử dụng đất, làm cơ sở sửa đổi Điều 218 và Điều 121 Luật Đất đai năm 2024 theo hướng gắn nghĩa vụ tài chính với mức độ và chức năng sử dụng thực tế của đất.
Thứ ba, nghiên cứu cơ chế điều tiết phần giá trị gia tăng phát sinh từ thông tin quy hoạch năng lượng, tránh để lợi thế từ thông tin quy hoạch được phản ánh không phù hợp vào giá đất, đồng thời, không làm gia tăng chi phí đầu tư không cần thiết. Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống hậu kiểm theo rủi ro dựa trên hệ thống thông tin địa lý (GIS) và viễn thám, kết hợp công khai trực tuyến thông tin quy hoạch, danh mục dự án được phê duyệt và thông tin về khả năng đấu nối theo khu vực nhằm giảm sự bất cân xứng thông tin.
Kết luận
Khung pháp luật đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật xây dựng, môi trường và điện lực, chưa đạt mức đồng bộ, khả thi và bảo đảm khả năng dự báo cần thiết để điều chỉnh hiệu quả mô hình sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời. Bốn nhóm bất cập được nhận diện có tính hệ thống, hai yêu cầu tiên quyết tại khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 chưa được cụ thể hóa thành ngưỡng có thể đo lường được và chưa phân tầng theo quy mô, tính chất dự án và mục đích sử dụng điện; thiếu cơ chế định danh và đăng ký; thiếu đồng bộ liên ngành và những hạn chế trong tổ chức thi hành.
Khoảng trống lớn nhất nằm ở dự án phát điện thương mại quy mô lớn trên đất nông nghiệp và mặt nước, nơi vòng đời công trình kéo dài hàng chục năm nhưng pháp luật chưa có đầy đủ tiêu chí để phân định giữa sử dụng đất kết hợp và chuyển mục đích sử dụng đất, chưa có chỉ tiêu đo lường khả năng phục hồi và chưa có bảo đảm tài chính cho nghĩa vụ khôi phục. Nghiên cứu đề xuất cần phân tầng chế độ pháp lý theo quy mô, tính chất dự án, mục đích sử dụng điện, gắn với ngưỡng kỹ thuật định lượng và cơ chế ký quỹ khôi phục đối với nhóm dự án có mức độ tác động cao.
Luật Đất đai năm 2024 đã tạo bước chuyển từ tư duy quản lý đất đai đơn mục đích sang tiếp cận sử dụng đất kết hợp đa mục đích, song giá trị của bước chuyển này chỉ được hiện thực hóa khi bốn cấp độ của hệ thống - quy phạm, thủ tục, dữ liệu và thẩm quyền - được đồng bộ hóa. Do giới hạn về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu chỉ phân tích quy phạm và nhận diện rủi ro thể chế; các kết luận về tác động thị trường và hành vi nhà đầu tư cần được kiểm chứng bằng các nghiên cứu thực nghiệm./.
TS. Phạm Hoàng Linh
Khoa Luật, Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh
Ảnh: internet
[1]. Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
[2]. Nguyễn Thị Nga (2026), Pháp luật đất đai về sử dụng đất kết hợp đa mục đích - Thực trạng và hướng hoàn thiện, Tạp chí Pháp luật và Phát triển, https://phapluatphattrien.vn/en/land-law-on-multi-purpose-combined-land-use–current-situation-and-directions-for-improvement-d5567.html, truy cập ngày 07/9/2026.
[3]. Sahu, A., Yadav, N., & Sudhakar, K. (2016), Floating photovoltaic power plant: A review, Renewable and Sustainable Energy Reviews, 66, tr.815-824; Vaschetti, L., Bertoldi, P., & Ribeiro, C. (2022), Floating photovoltaic systems on water reservoirs: A review of applications, Energies, 15(20), tr.7693; Hoàng Cao Tuấn (2020), Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển bền vững điện mặt trời tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi, số 59, tr.7; Phạm Đức Thịnh và cộng sự (2024), Nghiên cứu ứng dụng mô hình agrivoltaics tại An Giang, Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, số 22(3), tr.285.
[4]. Vũ Văn Huân và Châu Hoàng Thân (2023), Pháp luật về sử dụng đất kết hợp đa mục đích với yêu cầu phát triển bất động sản du lịch ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 07; Nguyễn Thị Nga, tlđd; Phạm Hoàng Linh (2025), Bất cập trong sử dụng đất kết hợp đa mục đích thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy các dự án có đầu tư sử dụng đất, tr.11.
[5]. Lê Ngọc Thắng (2025), Khung pháp lý thúc đẩy kinh tế xanh: Bằng chứng thực nghiệm từ Quy hoạch điện VIII, VNU Journal of Science: Legal Studies, tập 41, tr.10; Huỳnh Anh Tuấn và Giang Văn Thắng (2025), Đánh giá tiềm năng phát triển điện mặt trời cho các công trình cấp nước tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí Vật liệu và Xây dựng, số 15(1), tr.5.
[6]. Nguyễn Thị Nga, tlđd; Vũ Văn Huân và Châu Hoàng Thân (2023), tlđd; Phạm Hoàng Linh (2025), tlđd.
[7]. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2026), Cơ hội phát triển từ sử dụng đất kết hợp đa mục đích, https://baochinhphu.vn/co-hoi-phat-trien-tu-su-dung-dat-ket-hop-da-muc-dich-102260731175116421.htm, truy cập ngày 07/9/2026.
[8]. Elinor Ostrom (1990), Governing the Commons: The Evolution of Institutions for Collective Action, Cambridge University Press, Cambridge, tr.90.
[9]. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2025), Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh năm 2025 và nhiệm vụ năm 2026, Hà Nội.
[10]. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2026), Tình hình hoạt động 6 tháng đầu năm 2026; mục tiêu, nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2026, https://www.evn.com.vn/d/vi-VN/news/Tinh-hinh-hoat-dong-6-thang-dau-nam-2026-muc-tieu-nhiem-vu-cong-tac-6-thang-cuoi-nam-2026-60-142-508837, truy cập ngày 07/9/2026.
[11]. Huỳnh Anh Tuấn và Giang Văn Thắng, tlđd, tr.5-7.
[12]. Lê Ngọc Thắng, tlđd, tr. 10.
[13]. Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
[14]. Điều 218 Luật Đất đai năm 2024.
[15]. Khoản 2 Điều 99 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
[16]. Khoản 4 Điều 99 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP.
[17]. Thông tư số 10/2024/TT-BTNMT ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
[18]. Phạm Hoàng Linh, tlđd, tr.12.
[19]. Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai.
[20]. Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.
[21]. Nghị định số 175/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng.
[22]. Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới.
[23]. Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy nhanh tiến độ đo đạc địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trong năm 2026.
[24]. Lê Ngọc Thắng, tlđd, tr.11.
[25]. Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2026), Cơ hội phát triển từ sử dụng đất kết hợp đa mục đích, https://baochinhphu.vn/co-hoi-phat-trien-tu-su-dung-dat-ket-hop-da-muc-dich-102260731175116421.htm, truy cập ngày 07/9/2026.
2. Vũ Văn Huân và Châu Hoàng Thân (2023), Pháp luật về sử dụng đất kết hợp đa mục đích với yêu cầu phát triển bất động sản du lịch ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 07.
3. Phạm Hoàng Linh (2025), Bất cập trong sử dụng đất kết hợp đa mục đích thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy các dự án có đầu tư sử dụng đất.
4. Nguyễn Thị Nga (2026), Pháp luật đất đai về sử dụng đất kết hợp đa mục đích - Thực trạng và hướng hoàn thiện, Tạp chí Pháp luật và Phát triển, https://phapluatphattrien.vn/en/land-law-on-multi-purpose-combined-land-use-current-situation-and-directions-for-improvement-d5567.html, truy cập ngày 07/9/2026.
5. Elinor Ostrom (1990), Governing the Commons: The Evolution of Institutions for Collective Action, Cambridge University Press, Cambridge.
6. Sahu, A., Yadav, N., & Sudhakar, K. (2016), Floating photovoltaic power plant: A review, Renewable and Sustainable Energy Reviews, 66.
7. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2025), Báo cáo thường niên năm 2024, Hà Nội.
8. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2026), Tình hình hoạt động 6 tháng đầu năm 2026; mục tiêu, nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2026, https://www.evn.com.vn/d/viVN/news/Tinh-hinh-hoat-dong-6-thang-dau-nam-2026-muc-tieu-nhiem-vu-cong-tac-6-thang-cuoi-nam-2026-60-142- 508837, truy cập ngày 07/9/2026.
9. Lê Ngọc Thắng (2025), Khung pháp lý thúc đẩy kinh tế xanh: Bằng chứng thực nghiệm từ Quy hoạch điện VIII, VNU Journal of Science: Legal Studies, tập 41.
10. Phạm Đức Thịnh và cộng sự (2024), Nghiên cứu ứng dụng mô hình agrivoltaics tại An Giang, Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, số 22(3).
11. Hoàng Cao Tuấn (2020), Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển bền vững điện mặt trời tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi, số 59.
12. Huỳnh Anh Tuấn và Giang Văn Thắng (2025), Đánh giá tiềm năng phát triển điện mặt trời cho các công trình cấp nước tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí Vật liệu và Xây dựng, số 15(1).
13. Vaschetti, L., Bertoldi, P., & Ribeiro, C. (2022), Floating photovoltaic systems on water reservoirs: A review of applications, Energies, 15(20).
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (462) tháng 10/2026))