Chủ nhật 25/10/2026 18:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.

Từ khóa: quyền sử dụng đất; đất nông, lâm trường; công nhận quyền sử dụng đất; phương án sử dụng đất; dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

Nhận bài: 09/9/2026 Hoàn thành biên tập: 29/9/2026 Duyệt đăng: 05/10/2026

Completing the mechanism for recognizing land use rights originating from agriculturaland forestryenterprises in the draft land law (amended)

Abstract: During the revision of the Land Law, addressing land originating from agricultural and forestry enterprises necessitates the refinement of conditions for recognizing land use rights, as well as mechanisms to ensure the practical exercise of these rights. This study analyzes existing legal provisions and compares them with the Draft Land Law (amended) (the Draft Law). The findings indicate that the recognition of land use rights remains heavily dependent on the review process, the formulation of land use plans, and the management of land previously held by agricultural and forestry enterprises. Key challenges include the pace of implementation, the specific criteria for recognition, the interplay with cases where a certificate of land use right is not issued, and the procedures to be followed when companies fail to fulfill their obligations. Based on these insights, the study proposes improvements to the Draft Land Law-specifically regarding the criteria for recognizing land use rights, the involvement of current land users, and mechanisms for the ongoing management of such land-to ensure that current land users are effectively able to exercise their rights.

Keywords: Land use rights; agricultural and forestry land; recognition of land use right; land use plan; Draft Land Law (amended).

Article received: 09/9/2026 Editing completed: 29/9/2026 Approvedfor publication: 05/10/2026

Đặt vấn đề

Đất có nguồn gốc nông, lâm trường là quỹ đất có lịch sử quản lý và sử dụng phức tạp, hình thành qua nhiều giai đoạn tổ chức, sắp xếp và chuyển đổi nông, lâm trường quốc doanh. Trên thực tế, trong cùng một quỹ đất có thể có diện tích do doanh nghiệp trực tiếp sử dụng, diện tích giao khoán, cho thuê, cho mượn hoặc do hộ gia đình, cá nhân sử dụng; một số diện tích còn bị lấn, chiếm hoặc đang có tranh chấp2. Sự đan xen về nguồn gốc và hình thức sử dụng đất đặt ra yêu cầu xử lý những quan hệ pháp lý đặc thù đối với quỹ đất này.

Điều 181 Luật Đất đai năm 20243 quy định các trường hợp, căn cứ xem xét công nhận quyền sử dụng đất, đồng thời, gắn việc công nhận quyền với quá trình rà soát, xử lý quỹ đất của công ty nông, lâm nghiệp. Do đó, khi việc rà soát, xử lý quỹ đất bị chậm hoặc không được thực hiện, việc xem xét công nhận quyền của người đang sử dụng đất có thể bị kéo dài. Trong khi đó, pháp luật hiện hành chưa quy định đầy đủ cơ chế bảo đảm quá trình xử lý quỹ đất được tiếp tục. Vì vậy, vấn đề cần nghiên cứu không chỉ là điều kiện công nhận quyền sử dụng đất mà còn cơ chế pháp lý điều chỉnh mối quan hệ giữa quá trình xử lý quỹ đất và việc xem xét công nhận quyền của người đang sử dụng đất.

Nghị quyết số 21-NQ/TW4 tiếp tục đặt ra yêu cầu xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường, đồng thời, dự thảo Luật đã có quy định riêng về nhóm đất này. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích pháp luật hiện hành và những vướng mắc trong thực tiễn thi hành, so sánh với quy định của dự thảo Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất.

1. Một số vấn đề về đất có nguồn gốc nông, lâm trường và cơ chế công nhận quyền sử dụng đất

Việc phân tích cơ chế công nhận quyền sử dụng đất đối với đất có nguồn gốc nông, lâm trường đòi hỏi làm rõ nguồn gốc, đặc điểm của quỹ đất và bản chất pháp lý của việc công nhận quyền. Đây là cơ sở để làm rõ mối quan hệ giữa việc xử lý quỹ đất và xem xét quyền của người đang sử dụng đất.

1.1. Nguồn gốc và đặc điểm của đất có nguồn gốc nông, lâm trường

Đất có nguồn gốc nông, lâm trường được hình thành từ quá trình Nhà nước tổ chức và giao đất cho các nông, lâm trường quốc doanh quản lý, sử dụng qua nhiều thời kỳ. Các nông, lâm trường quốc doanh bắt đầu hình thành ở miền Bắc từ năm 1955; giai đoạn 1955 - 1975 chủ yếu thực hiện khai hoang, phục hóa, trồng rừng và tổ chức sản xuất theo mô hình kế hoạch hóa tập trung. Từ thời kỳ đổi mới, các nông, lâm trường quốc doanh trải qua nhiều lần sắp xếp, chuyển đổi mô hình tổ chức thành công ty nông, lâm nghiệp5. Quá trình thay đổi mô hình doanh nghiệp không đồng nghĩa với việc toàn bộ các quan hệ sử dụng đất hình thành trước đó đã chấm dứt hoặc được sắp xếp lại.

Đặc điểm nổi bật của quỹ đất này là sự đan xen về chủ thể và hình thức sử dụng. Bên cạnh diện tích đất do doanh nghiệp trực tiếp quản lý, còn có đất giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân, cho thuê, cho mượn, đất bị lấn, chiếm, tranh chấp hoặc được sử dụng theo những quan hệ hình thành từ các giai đoạn trước6. Vì vậy, việc xem xét công nhận quyền của người đang sử dụng đất phải thực hiện sau khi xác định diện tích công ty tiếp tục quản lý, sử dụng và diện tích bàn giao để xử lý theo pháp luật đất đai. Từ đó, hình thành sự phụ thuộc về thủ tục giữa việc xử lý quỹ đất và việc xem xét công nhận quyền sử dụng đất, đòi hỏi phải phân biệt rõ bản chất pháp lý của hai hoạt động này.

1.2. Bản chất và ý nghĩa của hoạt động công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường

Khoản 33 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 quy định công nhận quyền sử dụng đất là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho người đang sử dụng đất ổn định đối với thửa đất xác định theo quy định của Luật. Theo đó, việc công nhận quyền căn cứ vào tình trạng sử dụng đất đã hình thành và các điều kiện luật định, khác với việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua quyết định của cơ quan có thẩm quyền đối với chủ thể có nhu cầu sử dụng đất.

Đối với đất có nguồn gốc nông, lâm trường, Điều 181 Luật Đất đai năm 2024 đặt việc công nhận quyền sử dụng đất trong mối liên hệ với quá trình xử lý quỹ đất. Khoản 1 Điều 181 Luật Đất đai năm 2024 quy định việc rà soát hiện trạng, lập phương án sử dụng đất, xác định diện tích công ty tiếp tục sử dụng và diện tích bàn giao về địa phương; khoản 2 quy định cách xử lý đối với quỹ đất được bàn giao, gồm công nhận quyền sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất hoặc giao cơ quan nhà nước quản lý. Như vậy, xử lý quỹ đất và công nhận quyền sử dụng đất là hai hoạt động có bản chất pháp lý khác nhau. Tuy nhiên, đối với trường hợp thuộc diện được xem xét công nhận, việc xem xét quyền được thực hiện trên cơ sở kết quả của các công việc quản lý quỹ đất trên. Vì vậy, dù khác nhau về bản chất pháp lý, hai hoạt động vẫn có quan hệ phụ thuộc về thủ tục. Thực hiện các nghĩa vụ trong quá trình xử lý quỹ đất có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc xem xét công nhận quyền của người đang sử dụng đất.

Việc công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường xác lập địa vị pháp lý của người sử dụng đất đủ điều kiện, tạo cơ sở để họ thực hiện và bảo vệ quyền theo quy định của pháp luật đất đai7. Đồng thời, xác định chủ thể có quyền sử dụng đối với những diện tích đã phát sinh nhiều quan hệ sử dụng qua các thời kỳ góp phần ổn định tình trạng pháp lý của quỹ đất sau quá trình sắp xếp nông, lâm trường và tăng tính minh bạch trong quản lý đất đai8.

2. Quy định pháp luật hiện hành về công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường và những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Pháp luật hiện hành đặt việc công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong mối liên hệ với quá trình rà soát và xử lý quỹ đất của công ty nông, lâm nghiệp. Vì vậy, cần làm rõ điều kiện công nhận quyền, quy trình xử lý quỹ đất và những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện.

2.1. Điều kiện công nhận quyền sử dụng đất

Khoản 2 Điều 181 Luật Đất đai năm 2024 quy định hai nhóm chủ thể chủ yếu được xem xét công nhận quyền sử dụng đất đối với quỹ đất do công ty nông, lâm nghiệp bàn giao về địa phương.

Nhóm thứ nhất là người đang sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp có nguồn gốc được nông, lâm trường giao, giao khoán, khoán trắng, thuê hoặc mượn trước ngày 01/02/2015. Diện tích trong hạn mức giao đất nông nghiệp được công nhận theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; phần vượt hạn mức được ưu tiên sử dụng để thực hiện chính sách đất đai, đáp ứng nhu cầu về đất sản xuất hoặc phải chuyển sang thuê đất9.

Nhóm thứ hai là người đang sử dụng đất có giấy tờ của nông, lâm trường quốc doanh về việc giao đất để làm nhà ở hoặc làm nhà ở kết hợp với sản xuất nông, lâm nghiệp trước ngày 01/7/2004; trường hợp này được cấp Giấy chứng nhận theo khoản 2 Điều 137 Luật Đất đai năm 2024. Như vậy, căn cứ xem xét công nhận quyền theo Điều 181 Luật Đất đai năm 2024 gồm nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và tùy trường hợp, giấy tờ giao đất hoặc giới hạn diện tích được công nhận. Tuy nhiên, việc xác định nguồn gốc đất để áp dụng các điều kiện này có thể gặp khó khăn do quá trình sử dụng đất biến động và có nhiều thay đổi về chủ thể quản lý, sử dụng10.

Đối với trường hợp thuộc điểm a khoản 2 Điều 181 Luật Đất đai năm 2024 mà người sử dụng đất tự ý làm nhà ở, khoản 2 Điều 26Nghị định số 101/2024/NĐ-CP11 quy định việc xác định diện tích, mục đích sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận căn cứ vào thời điểm và hiện trạng sử dụng đất. Ngoài các trường hợp được công nhận quyền, pháp luật còn quy định cơ chế xử lý riêng đối với một số trường hợp: người đã sử dụng đất trước khi đất, rừng được giao cho nông, lâm trường được xem xét theo Điều 138 Luật Đất đai năm 2024; người không có hoặc thiếu đất sản xuất thuộc các trường hợp luật định được giải quyết bằng giao đất hoặc cho thuê đất12.

Do công nhận quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua cấp Giấy chứng nhận lần đầu, các quy định đặc thù tại Điều 181 Luật Đất đai năm 2024 phải được xem xét trong mối quan hệ với quy định chung về cấp Giấy chứng nhận đối với những nội dung Điều 181 Luật Đất đai năm 2024 không quy định riêng. Mối quan hệ này được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 151 Luật Đất đai năm 2024: đất nhận khoán về nguyên tắc không được cấp Giấy chứng nhận, nhưng pháp luật loại trừ trường hợp được công nhận theo điểm a khoản 2 Điều 181 Luật Đất đai năm 2024. Tuy nhiên, sự phân định giữa quy định chung và quy định đặc thù chưa rõ trong một số trường hợp. Cụ thể, đối với đất có nguồn

gốc thuê, cần phân biệt trường hợp người sử dụng đất đang sử dụng đất trên cơ sở quan hệ thuê, thuê lại với trường hợp đất có nguồn gốc từ quan hệ thuê với nông, lâm trường trước đây và thuộc diện được xem xét công nhận theo Điều 181 Luật Đất đai năm 2024. Điểm c khoản 1 Điều 151 Luật Đất đai năm 2024 điều chỉnh trường hợp thứ nhất và không cho phép cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất thuê, thuê lại; trong khi điểm a khoản 2 Điều 181 Luật Đất đai năm 2024 cho phép xem xét công nhận quyền đối với người đang sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp có nguồn gốc thuê của nông, lâm trường trước ngày 01/02/2015.

2.2. Phương án sử dụng đất và các công việc làm cơ sở xử lý quỹ đất

Trong cơ chế hiện hành, phương án sử dụng đất là căn cứ kết nối việc rà soát quỹ đất với việc xử lý diện tích có liên quan đến người đang sử dụng đất.

Theo Điều 181 Luật Đất đai năm 2024, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức rà soát hiện trạng, lập, thẩm định và phê duyệt phương án sử dụng đất của công ty nông, lâm nghiệp. Nghị định số 102/2024/NĐ-CP13 quy định cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh chủ trì việc rà soát, xác định ranh giới, diện tích; trường hợp hồ sơ, tài liệu hiện có không đủ để xác định cụ thể thì phải đo đạc, lập hồ sơ ranh giới. Công ty nông, lâm nghiệp có trách nhiệm phối hợp, cung cấp hồ sơ, tài liệu và lập phương án sử dụng đất, trong đó xác định phần diện tích dự kiến tiếp tục sử dụng và phần diện tích dự kiến bàn giao về địa phương14. Như vậy, việc xem xét công nhận quyền đối với diện tích có liên quan phụ thuộc vào kết quả rà soát hiện trạng, xác định ranh giới và phân định quỹ đất.

Thực tiễn triển khai các công việc này còn gặp nhiều khó khăn. Ví dụ, tại thành phố Hà Nội, một số nơi không có hồ sơ liên quan đến quá trình sử dụng đất của các nông, lâm trường trước đây nên khó xác định ranh giới, mốc giới và tình trạng sử dụng đất; đồng thời, việc kê khai chưa được các công ty và chính quyền địa phương quan tâm, đôn đốc đầy đủ. Vì vậy, việc kiểm tra, rà soát gặp khó khăn do diện tích lớn, quá trình sử dụng kéo dài qua nhiều thời kỳ và chịu sự điều chỉnh của nhiều chính sách15. Năm 2026, báo cáo tiến độ của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk tiếp tục ghi nhận nhiều phương án còn trong quá trình hoàn thiện, hướng dẫn hoặc thẩm định, đồng thời, xác định đây là nhiệm vụ phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương, đơn vị và cần thời gian thực hiện16. Các thông tin này cho thấy nguyên nhân chậm

trễ không chỉ xuất phát từ quy định pháp luật, mà còn từ tình trạng thiếu hồ sơ, khó khăn trong xác định ranh giới, hiện trạng sử dụng đất và hạn chế trong phối hợp thực hiện.

Ở phương diện pháp lý, Điều 13 Nghị định số 118/2014/NĐ-CP17 và Điều 67 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP yêu cầu công ty nông, lâm nghiệp rà soát hiện trạng, đề xuất, điều chỉnh phương án sử dụng đất khi cần thiết nhưng chưa xác định thời điểm bắt đầu và thời hạn tối đa hoàn thành các công việc này. Nghị định số 49/2026/NĐ-CP18 giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định trình tự, thủ tục đối với việc chấp thuận, phê duyệt phương án sử dụng đất, trong đó phải xác định thời gian tối đa thực hiện thủ tục19. Tuy nhiên, các quy định này chỉ điều chỉnh thời gian thực hiện thủ tục hành chính sau khi được khởi động, mà chưa xác định thời hạn chung để hoàn thành các công việc chuẩn bị như rà soát hiện trạng, xác định ranh giới, cung cấp hồ sơ và hình thành phương án.

Đối với người đang sử dụng đất thuộc diện xem xét công nhận quyền, kết quả rà soát và phương án sử dụng đất là căn cứ để phân định phần đất công ty tiếp tục sử dụng và phần đất bàn giao về địa phương. Nếu các công việc này chưa hoàn thành, việc xem xét công nhận quyền đối với diện tích có liên quan cũng thiếu căn cứ để tiếp tục.

2.3. Cơ chế xử lý trong trường hợp công ty nông, lâm nghiệp giải thể, phá sản hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ

Khoản 5 Điều 26 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 Điều 3 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP20, quy định trường hợp nông, lâm trường hoặc công ty nông, lâm nghiệp trước đây đã giải thể hoặc phá sản và không trực tiếp quản lý, sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo đo đạc, lập hồ sơ địa chính, đăng ký đất đai và cấp Giấy chứng nhận cho người đủ điều kiện mà không phải lập phương án sử dụng đất theo Điều 181 Luật Đất đai năm 2024. Đây không phải trường hợp cơ quan nhà nước thực hiện thay nghĩa vụ lập phương án của doanh nghiệp, vì pháp luật đã loại trừ yêu cầu lập phương án đối với trường hợp này. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp thực hiện các công việc quản lý đất đai cần thiết để xem xét quyền của người đang sử dụng đất.

Khó khăn phát sinh khi công ty vẫn tồn tại nhưng không thực hiện hoặc chậm thực hiện các công việc thuộc trách nhiệm của mình. Các quy định về rà soát và lập

phương án sử dụng đất đã xác định trách nhiệm của công ty nông, lâm nghiệp trong việc rà soát hiện trạng, cung cấp hồ sơ, tài liệu và lập phương án sử dụng đất21. Tuy nhiên, hệ quả pháp lý về mặt thủ tục khi những công việc này không được thực hiện hoặc bị kéo dài chưa được quy định rõ. Qua so sánh pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, chưa xác định được chế tài riêng đối với hành vi chậm hoặc không thực hiện việc rà soát, lập phương án sử dụng đất theo Điều 18122. Tuy nhiên, các thông tin thực tiễn hiện chưa đủ để quy trách nhiệm cho công ty trong từng trường hợp cụ thể.

3. Đánh giá cơ chế công nhận quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Từ những khó khăn, vướng mắc đã phân tích, cần so sánh các quy định của dự thảo Luật để xác định những nội dung đã được khắc phục và những vấn đề tiếp tục đặt ra đối với cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường.

3.1. Phạm vi và điều kiện công nhận quyền

Khoản 1 Điều 85 dự thảo Luật23 xác định đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh theo hai nhóm: (i) đất do công ty nông, lâm nghiệp chuyển đổi từ nông, lâm trường quốc doanh đang quản lý, sử dụng và đất có cùng nguồn gốc nhưng không thuộc nhóm này. So với Điều 181 Luật Đất đai năm 2024, cách quy định này mở rộng phạm vi điều chỉnh ra ngoài quỹ đất do công ty nông, lâm nghiệp trực tiếp quản lý; (ii) diện tích đất đã bàn giao về địa phương trong quá trình sắp xếp và đất của nông, lâm trường, công ty đã giải thể hoặc phá sản không còn trực tiếp quản lý, sử dụng; các trường hợp này được giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất theo quy định hiện hành. Như vậy, Điều 85 dự thảo Luật đã bao quát các diện tích có cùng nguồn gốc nông, lâm trường nhưng khác nhau về tình trạng quản lý. Đặc biệt, trường hợp công ty đã giải thể, phá sản, hiện được xử lý theo khoản 5 Điều 26 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP, đã được dự thảo Luật quy định trực tiếp.

Đối với điều kiện công nhận quyền, dự thảo Luật có sự thay đổi về cách quy định. Khoản 2 Điều 85 dự thảo Luật không liệt kê các trường hợp được công nhận theo nguồn gốc giao, giao khoán, khoán trắng, thuê, mượn, thời điểm sử dụng hoặc giấy tờ của nông, lâm trường như khoản 2 Điều 181 Luật Đất đai năm 2024, mà chỉ xác định phần đất bàn giao về địa phương được sử dụng để công nhận quyền cho “người đang sử dụng đất”. Điều kiện cấp Giấy chứng nhận được xác định theo quy định chung. Cụ thể, khoản 1 Điều 68 dự thảo Luật24 quy định hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận nếu có nhu cầu, không thuộc

trường hợp quy định tại Điều 71 dự thảo Luật25 và đáp ứng điều kiện do Chính phủ quy định.

Dự thảo Luật không quy định đất có nguồn gốc thuê thuộc diện được công nhận tại Điều 85 dự thảo Luật trong khi quy định chung lại loại trừ đất thuê khỏi trường hợp được cấp Giấy chứng nhận. Tuy nhiên, việc bỏ quy định liệt kê chỉ khắc phục sự thiếu thống nhất về cấu trúc, chưa xác định rõ căn cứ xem xét quyền của những người đang sử dụng đất có nguồn gốc từ các quan hệ thuê, giao khoán, giao hoặc mượn đất của nông, lâm trường trước đây. Điều này đặc biệt đáng lưu ý vì Điều 71 dự thảo Luật vẫn quy định đất thuê, thuê lại thuộc trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận, trong khi đối với đất nhận khoán lại có ngoại lệ nếu được công nhận quyền theo quy định của pháp luật. Vì vậy, đối với các nhóm chủ thể được Điều 181 Luật Đất đai năm 2024 xác định trực tiếp là đối tượng xem xét công nhận quyền, Điều 85 dự thảo Luật chưa làm rõ các tiêu chí tiếp tục áp dụng; nội dung này phụ thuộc vào điều kiện do Chính phủ quy định. Đối với đất có nguồn gốc thuê, cần tiếp tục phân biệt quan hệ thuê, thuê lại đất đang tồn tại với quan hệ thuê đất của nông, lâm trường trước đây chỉ còn ý nghĩa xác định nguồn gốc sử dụng đất. Việc phân định này có ý nghĩa trong việc xác định quy định áp dụng và khả năng tiếp tục xem xét công nhận quyền sử dụng đất.

3.2. Phương án sử dụng đất và vị trí của người đang sử dụng đất

Đối với đất công ty nông, lâm nghiệp đang quản lý, dự thảo Luật tiếp tục duy trì cơ chế rà soát hiện trạng và lập phương án sử dụng đất để phân định diện tích công ty tiếp tục sử dụng và diện tích bàn giao về địa phương. Theo đó, việc xem xét quyền đối với người đang sử dụng đất được thực hiện sau khi quỹ đất được rà soát và phân định.

Điểm mới đáng chú ý là khoản 2 Điều 85 dự thảo Luật yêu cầu phương án sử dụng đất phải lấy ý kiến Mặt trận Tổ quốc và người dân có liên quan trước khi phê duyệt. Đây là cơ sở để người dân tham gia vào quá trình xây dựng phương án trước khi phương án được phê duyệt. Qua việc lấy ý kiến, thông tin về nguồn gốc, quá trình và hiện trạng sử dụng đất có thể được bổ sung từ người dân, bên cạnh hồ sơ của công ty và kết quả rà soát của cơ quan quản lý. Sự tham gia này còn có ý nghĩa đối với tính khả thi của phương án, bởi mức độ đồng thuận của người sử dụng đất có thể ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thực hiện phương án sử dụng đất26. Tuy nhiên, dự thảo Luật mới dừng ở yêu cầu “lấy ý kiến”, chưa xác định rõ hình thức, nội dung lấy ý kiến, cách xử lý những ý kiến khác nhau và trách nhiệm phản hồi trước khi phê duyệt phương án. Mặt khác, quyền tham gia ý kiến không đồng nghĩa với quyền yêu cầu khởi động hoặc tiếp tục việc rà soát, lập phương án khi các công việc này bị chậm trễ.

Vì vậy, dù mở rộng sự tham gia của người dân, dự thảo Luật chưa khắc phục được sự phụ thuộc của việc xem xét công nhận quyền vào tiến độ xử lý quỹ đất.

Đối với những diện tích không còn do công ty quản lý, khoản 4 Điều 85 dự thảo Luật đã giảm bớt sự phụ thuộc này. Đối với đất đã bàn giao về địa phương hoặc đất của nông, lâm trường, công ty đã giải thể, phá sản và không còn trực tiếp quản lý, việc giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền được thực hiện mà không phải lập phương án áp dụng cho quỹ đất do công ty đang quản lý. Quy định này phân biệt trường hợp công ty còn quản lý quỹ đất với trường hợp công ty không còn trực tiếp quản lý, sử dụng đất.

3.3. Cơ chế bảo đảm thực hiện các công việc trong quá trình xử lý quỹ đất

Bất cập của cơ chế hiện hành không chỉ liên quan đến việc xác định trách nhiệm, mà còn ở cách xử lý khi các công việc cần thiết để lập phương án bị chậm hoặc không được thực hiện. Dự thảo Luật tiếp tục yêu cầu rà soát hiện trạng và lập phương án đối với đất đang do công ty quản lý, nhưng Điều 85 dự thảo Luật không xác định thời điểm phải bắt đầu, thời hạn hoàn thành các công việc này hoặc hệ quả khi việc thực hiện bị kéo dài.

Tuy nhiên, dự thảo Luật có hai quy định nhằm tránh kéo dài quy trình do phải thực hiện lại những công việc không cần thiết: (i) khoản 4 Điều 85 cho phép xử lý trực tiếp đối với đất đã ra khỏi quá trình quản lý của công ty, trong đó có trường hợp công ty đã giải thể hoặc phá sản; (ii) khoản 3 Điều 114 quy định phương án đã được phê duyệt trước khi Luật có hiệu lực tiếp tục được thực hiện mà không phải rà soát, lập lại; trường hợp phương án đã lập nhưng chưa được phê duyệt thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tiếp tục xử lý theo pháp luật cũ hoặc theo Luật mới. Hai quy định này góp phần bảo đảm tính liên tục của quá trình xử lý quỹ đất, tránh thực hiện lại các công việc đã hoàn thành.

Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa giải quyết trường hợp công ty vẫn tồn tại và còn trách nhiệm đối với quỹ đất nhưng không thực hiện các công việc được giao. Điều 85 dự thảo Luật chưa quy định điều kiện để cơ quan nhà nước chủ động tiếp tục xử lý quỹ đất trong trường hợp này; đồng thời, chưa phân định việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước với việc thực hiện thay nghĩa vụ của doanh nghiệp. Do đó, cần làm rõ giới hạn trách nhiệm của công ty và thẩm quyền chủ động xử lý của cơ quan nhà nước.

Cần phân biệt việc xác lập cơ chế xử lý này với việc quy định thời hạn cụ thể cho từng công đoạn. Thời hạn, thành phần hồ sơ và trình tự phối hợp có thể được quy định tại văn bản hướng dẫn hoặc thủ tục hành chính của địa phương. Tuy nhiên, nguyên tắc xử lý trường hợp chủ thể có trách nhiệm không thực hiện công việc, làm ảnh hưởng đến việc xem xét quyền của người đang sử dụng đất, cần được xác định ở cấp luật. Cách phân định này giúp xác định nội dung cần quy định trong Luật và nội dung có thể giao Chính phủ hoặc chính quyền địa phương quy định chi tiết.

4. Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Trên cơ sở những khó khăn, vướng mắc và các vấn đề được nhận diện khi đánh giá dự thảo Luật, việc hoàn thiện pháp luật về cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường cần hoàn thiện theo hướng xử lý những vướng mắc ảnh hưởng trực tiếp đến việc xem xét công nhận và thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về điều kiện công nhận quyền sử dụng đất.

Điều 85 dự thảo Luật không xác định trực tiếp các trường hợp được công nhận quyền theo nguồn gốc, thời điểm sử dụng và giấy tờ như Điều 181 Luật Đất đai năm 2024, mà sử dụng khái niệm “người đang sử dụng đất” và giao Chính phủ quy định điều kiện cấp Giấy chứng nhận. Nếu các điều kiện cơ bản chỉ được quy định tại văn bản hướng dẫn, phạm vi chủ thể được xem xét công nhận quyền có thể thay đổi. Do đó, cần quy định tại Điều 85 dự thảo Luật những điều kiện cơ bản xác định chủ thể thuộc diện được xem xét công nhận quyền.

Dự thảo Luật cần xác định các quan hệ sử dụng đất có thể làm căn cứ xem xét công nhận, bao gồm trường hợp đất có nguồn gốc được giao, giao khoán, khoán trắng, thuê hoặc mượn của nông, lâm trường và mốc thời gian xác định phạm vi các quan hệ sử dụng đất được xem xét. Đối với trường hợp có giấy tờ của nông, lâm trường về việc giao đất làm nhà ở hoặc làm nhà ở kết hợp với sản xuất nông, lâm nghiệp, điều kiện về nguồn gốc giấy tờ và thời điểm sử dụng cũng cần được xác định tại Luật. Các yếu tố này xác định trực tiếp phạm vi chủ thể được xem xét công nhận quyền, do đó cần được quy định tại Luật thay vì giao toàn bộ cho Chính phủ. Đối với đất có nguồn gốc thuê, Luật cần phân biệt trường hợp quan hệ thuê, thuê lại vẫn đang tồn tại với trường hợp việc thuê đất chỉ là nguồn gốc của quá trình sử dụng trước đây, qua đó xác định mối quan hệ giữa Điều 85 dự thảo Luật và các trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận tại Điều 71 dự thảo Luật.

Các yêu cầu về hồ sơ, tài liệu chứng minh điều kiện công nhận quyền có thể giao Chính phủ quy định chi tiết. Theo đó, văn bản hướng dẫn cần cho phép đối chiếu nhiều nguồn thông tin, gồm hồ sơ địa chính, bản đồ, tài liệu đo đạc, hồ sơ quản lý của nông, lâm trường, tài liệu giao đất, giao khoán, thuê, mượn và kết quả kiểm tra thực địa; đồng thời, xác định cách thức xác minh khi các nguồn tài liệu không thống nhất. Các điều kiện chung về tranh chấp, lấn, chiếm hoặc vi phạm tiếp tục được áp dụng theo các quy định chung về cấp Giấy chứng nhận mà không cần lặp lại tại Điều 85 dự thảo Luật.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về phương án sử dụng đất và sự tham gia của người đang sử dụng đất.

Khoản 2 Điều 85 dự thảo Luật đã bổ sung yêu cầu lấy ý kiến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người dân có liên quan trước khi phê duyệt phương án sử dụng đất. Để bảo đảm khả năng thực hiện quy định này, văn bản hướng dẫn cần xác định rõ hình thức lấy ý kiến, nội dung phải công khai, thời hạn góp ý và trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc tổng hợp, tiếp thu,

giải trình đối với các ý kiến liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của người đang sử dụng đất. Đối với ý kiến không được tiếp thu, cơ quan có thẩm quyền cần nêu rõ lý do trong văn bản tổng hợp, giải trình trước khi phê duyệt phương án.

Cơ chế tham gia của người đang sử dụng đất cần được xây dựng trên cơ sở các quyền đã được pháp luật ghi nhận. Luật Đất đai năm 2024 quy định quyền tiếp cận thông tin đất đai (Điều 24); cho phép công dân giám sát, phản ánh, yêu cầu, kiến nghị đối với hoạt động quản lý, sử dụng đất và các thủ tục liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 231). Trên cơ sở đó, văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều 85 dự thảo Luật cần xác định trách nhiệm cung cấp thông tin cho người đang sử dụng đất về tình trạng rà soát, tiến độ lập phương án và kết quả xử lý đối với phần đất liên quan trực tiếp đến mình.

Việc cung cấp thông tin giúp người đang sử dụng đất theo dõi, tham gia vào quá trình xử lý quỹ đất, nhưng không đồng nghĩa với việc họ đương nhiên được công nhận quyền sử dụng đất hoặc được miễn đáp ứng các điều kiện luật định. Theo hướng này, việc lấy ý kiến trong dự thảo Luật được thực hiện gắn với quyền tiếp cận thông tin và giám sát hiện có, không làm phát sinh một thủ tục yêu cầu độc lập.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện các công việc trong quá trình xử lý quỹ đất.

Cần bổ sung cơ chế bảo đảm quá trình xử lý quỹ đất được tiếp tục khi công ty nông, lâm nghiệp không thực hiện các công việc thuộc trách nhiệm của mình. Điều 85 dự thảo Luật cần xác lập nguyên tắc cho phép Nhà nước chủ động tiếp tục quá trình xử lý quỹ đất trong trường hợp này. Việc chủ động xử lý phải được xác định là thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai, không làm thay đổi nghĩa vụ pháp lý của công ty. Theo đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể tổ chức đo đạc, rà soát, xác minh hiện trạng, đối chiếu hồ sơ và thực hiện các công việc thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước để có cơ sở xử lý quỹ đất. Công ty tiếp tục có nghĩa vụ cung cấp hồ sơ, tài liệu, giải trình quá trình quản lý, sử dụng đất, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp.

Đồng thời, giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm quyền quyết định tiếp tục xử lý quỹ đất và giao cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh chủ trì thực hiện. Chỉ áp dụng cơ chế này khi đã hết thời hạn thực hiện, công ty được yêu cầu khắc phục nhưng vẫn không hoàn thành công việc mà không có lý do chính đáng. Việc áp dụng phải được thể hiện bằng văn bản, xác định rõ phần việc công ty chưa thực hiện, những công việc cơ quan nhà nước tiếp tục thực hiện và trách nhiệm còn lại của công ty. Kết quả rà soát và phương án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt là căn cứ để tiếp tục xử lý quỹ đất theo pháp luật, nhưng không thay thế việc xem xét các điều kiện đối với từng trường hợp giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp không đồng ý với kết quả rà soát hoặc nội dung phương án, công ty có quyền cung cấp tài liệu, nêu ý kiến để cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải trình

trước khi quyết định. Sau khi quyết định được ban hành, công ty có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật. Việc công ty không đồng ý với kết quả xử lý không đương nhiên làm gián đoạn quá trình xử lý quỹ đất. Để xác định thời điểm áp dụng cơ chế này, các công việc rà soát, xác định ranh giới, lập và hoàn thiện phương án sử dụng đất phải gắn với thời hạn cụ thể. Dự thảo Luật cần quy định nguyên tắc về thời hạn thực hiện và hệ quả khi không tuân thủ; thời gian tối đa của từng công đoạn, điều kiện gia hạn và trình tự yêu cầu khắc phục được quy định tại văn bản hướng dẫn hoặc trong thủ tục hành chính do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành theo cơ chế phân cấp. Cách phân định này phù hợp với khoản 1 Điều 15 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP, theo đó, thủ tục hành chính về đất đai phải xác định rõ trách nhiệm và thời gian tối đa thực hiện.

Về kinh phí, khoản 5 Điều 67 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP đã giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí kinh phí cho việc rà soát, đo đạc, cắm mốc, lập bản đồ địa chính, lập phương án và tổ chức thực hiện phương án sử dụng đất. Nguồn kinh phí này có thể được sử dụng cho các công việc thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được tiếp tục thực hiện. Trường hợp đặt ra nghĩa vụ hoàn trả chi phí hoặc trách nhiệm tài chính đối với công ty thì phải có căn cứ pháp lý cụ thể. Đối với xử lý vi phạm, việc bổ sung chế tài phải gắn với nghĩa vụ cụ thể của công ty đã được pháp luật quy định, chẳng hạn nghĩa vụ cung cấp hồ sơ, tài liệu và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong quá trình rà soát, xử lý quỹ đất tại khoản 3 Điều 67 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP. Việc chậm hoàn thành phương án sử dụng đất không đương nhiên cấu thành vi phạm hành chính; việc xem xét trách nhiệm phải căn cứ vào nguyên nhân chậm trễ và mức độ thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của công ty.

Kết luận

Công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường là hoạt động pháp lý độc lập. Tuy nhiên, đối với quỹ đất còn do công ty nông, lâm nghiệp quản lý, việc xem xét công nhận quyền phụ thuộc vào kết quả rà soát, xác định ranh giới và lập phương án sử dụng đất. Do đó, khả năng thực hiện cơ chế công nhận quyền phụ thuộc cả vào điều kiện của người sử dụng đất và việc thực hiện các công việc quản lý quỹ đất theo đúng trách nhiệm. Dự thảo Luật đã có những điều chỉnh, song cần làm rõ điều kiện công nhận quyền đối với “người đang sử dụng đất”, thời hạn thực hiện, cơ chế bảo đảm sự tham gia và tiếp cận thông tin của người có liên quan, cũng như cách xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm trong quá trình xử lý quỹ đất. Việc hoàn thiện các quy định này góp phần bảo đảm tính khả thi của cơ chế công nhận quyền, đồng thời, đáp ứng yêu cầu quản lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm trường và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người đang sử dụng đất.

ThS. NCS. Lê Thị Minh Trang

Khoa Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing

Ảnh: Internet

[1]. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) ngày 17/9/2026, xem tại: https://phapluat.gov.vn/du-thao-vbqppl/2104.

[2]. Nguyễn Văn Toàn (2026), Khoảng trống pháp lý và thực tiễn quản lý đất nông nghiệp sau chuyển đổi nông, lâm trường quốc doanh sang công ty cổ phần ở Việt Nam, https://www.tapchitoaan.vn/khoang-trong-phap-ly-va-thuc-tien-quan-ly-dat-nong-nghiep-sau-chuyen-doi-nong-lam-truong-quoc-doanh-sang-cong-ty-co-phan-o-viet-nam15944.html, truy cập ngày 08/9/2026.

[3]. Luật Đất đai năm 2024, được sửa đổi, bổ sung năm 2024 (bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15 và Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15), năm 2025 (bởi Luật Hàng không dân dụng năm 2025) (sau đây gọi là Luật Đất đai năm 2024).

[4]. Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

[5]. Lê Hải Đường, Đỗ Tiến Dũng, Võ Thị Hồng Lan (2020), Hoàn thiện quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường, https://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210668, truy cập ngày 08/9/2026.

[6]. Lê Hải Đường, Đỗ Tiến Dũng, Võ Thị Hồng Lan (2020), tlđd.

[7]. Phùng Thị Phương Thảo (2023), Đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và những vấn đề cần sửa đổi, Tạp chí Môi trường - Chuyên đề Khoa học và Công nghệ, Chuyên đề II/2023, tr.92.

[8]. Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Vinh Diện (2016), Quản lý và sử dụng đất nông, lâm trường quốc doanh - Bình luận dưới góc độ chính sách, pháp luật, https://danchuphapluat.vn/quan-ly-va-su-dung-dat-nong-lam-truong-quoc-doanh-binh-luan-duoi-goc-do-chinh-sach-phap-luat-3717.html, truy cập ngày 08/9/2026.

[9]. Điểm a, c, d và đ khoản 2 Điều 181 Luật Đất đai năm 2024.

[10]. Hoàng Xuân Phương, Nguyễn Bá Long (2023), Tình hình quản lý sử dụng đất có nguồn gốc từcác nông, lâm trường giao cho địa phương quản lý, Tạp chí Môi trường, số 04/2023, tr.10.

[11]. Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/07/2024 của Chính phủ về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và Hệ thống thông tin đất đai.

[12]. Khoản 4 Điều 26 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP; các điểm c, d khoản 2 Điều 181 Luật Đất đai năm 2024.

[13]. Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/07/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

[14]. Điều 181 Luật Đất đai 2024; khoản 2, khoản 3 Điều 67 và khoản 1 Điều 68 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP.

[15]. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2025), Kết quả kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2024 thành phố Hà Nội, Báo cáo số 517/BC-UBND ngày 02/12/2025, tr.55-56.

[16]. Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2026), Kết quả thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể giao cho các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện trong Chương trình hành động số 01/CTr-UBND ngày 16/01/2026 của UBND tỉnh, Phụ lục I kèm theo Báo cáo số 213/BC-UBND ngày 11/06/2026, tr.6.

[17]. Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.

[18]. Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội.

[19]. Khoản 1 Điều 14 và khoản 1 Điều 15 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP.

[20]. Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15/8/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai.

[21]. Điều 13 Nghị định số 118/2014/NĐ-CP; khoản 2, khoản 3 Điều 67 và khoản 1 Điều 68 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP.

[22]. Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 281/2026/NĐ-CP ngày 13/07/2026 (Nghị định số 123/2024/NĐ-CP).

[23]. Điều 85: Quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh.

[24]. Điều 68: Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất.

[25]. Điều 71: Các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

[26]. Trần Thu Hà, Phùng Minh Tám, Hồ Hoài Nam, Nguyễn Bá Long, Xuân Thị Thu Thảo, Phạm Thanh Quế, Nguyễn Minh Thanh, Nguyễn Thị Hải, Hồ Văn Hoá (2026), Đề xuất điều chỉnh phương án sử dụng đất đối với quỹ đất thu hồi từ các công ty nông, lâm nghiệp bàn giao về địa phương: Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Quảng Trị, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp, tập 15, số 7, tr.19.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoàng Xuân Phương, Nguyễn Bá Long (2023), Tình hình quản lý sử dụng đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường giao cho địa phương quản lý, Tạp chí Môi trường, số 04/2023.

2. Lê Hải Đường, Đỗ Tiến Dũng, Võ Thị Hồng Lan (2020), Hoàn thiện quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng đất

tại các nông, lâm trường,

https://lapphap.vn/Pages/tintuc/ tinchitiet.aspx?tintucid=210668, truy cập ngày 08/9/2026.

3. Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Vinh Diện (2016), Quản lý và sử dụng đất nông, lâm trường quốc doanh - Bình luận dưới góc độ chính sách, pháp luật, https://danchuphapluat.vn/quan-ly-va-su- dung-dat-nong-lam-truong-quoc-doanh- binh-luan-duoi-goc-do-chinh-sach-phap- luat-3717.html, truy cập ngày 08/9/2026.

4. Nguyễn Văn Toàn (2026), Khoảng trống pháp lý và thực tiễn quản lý đất nông nghiệp sau chuyển đổi nông, lâm trường quốc doanh sang công ty cổ phần ở Việt Nam, https://www.tapchitoaan.vn/khoang-trong- phap-ly-va-thuc-tien-quan-ly-dat-nong- nghiep-sau-chuyen-doi-nong-lam-truong- quoc-doanh-sang-cong-ty-co-phan-o-viet- nam15944.html, truy cập ngày 08/9/2026.

5. Phùng Thị Phương Thảo (2023), Đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và những vấn đề cần sửa đổi, Tạp chí Môi trường - Chuyên đề Khoa học và Công nghệ, Chuyên đề II/2023.

6. Trần Thu Hà, Phùng Minh Tám, Hồ Hoài Nam, Nguyễn Bá Long, Xuân Thị Thu Thảo, Phạm Thanh Quế, Nguyễn Minh Thanh, Nguyễn Thị Hải, Hồ Văn Hóa (2026), Đề xuất điều chỉnh phương án sử dụng đất đối với quỹ đất thu hồi từ các công ty nông, lâm nghiệp bàn giao về địa phương: Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Quảng Trị, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp, tập 15, số 7.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (462) - tháng 10/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, việc phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Sau gần 10 năm thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2024 (Luật Đấu giá tài sản năm 2016) cho thấy một số quy định về đấu giá tài sản tự nguyện không phù hợp với thực tế, vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân là cấp thiết. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện ở Việt Nam, tham khảo pháp luật một số quốc gia về đấu giá tự nguyện, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: