Thứ sáu 23/10/2026 20:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, việc phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Sau gần 10 năm thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2024 (Luật Đấu giá tài sản năm 2016) cho thấy một số quy định về đấu giá tài sản tự nguyện không phù hợp với thực tế, vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân là cấp thiết. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện ở Việt Nam, tham khảo pháp luật một số quốc gia về đấu giá tự nguyện, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Từ khóa: đấu giá tài sản tự nguyện; hoàn thiện pháp luật.

Đặt vấn đề

Pháp luật về đấu giá tài sản của nhiều quốc gia trên thế giới phân định hai nhóm tài sản đưa ra đấu giá, gồm tài sản phải bán thông qua đấu giá theo quy định của pháp luật và tài sản được chủ sở hữu hoặc người có quyền định đoạt tự nguyện đưa ra đấu giá. Để thực hiện đấu giá 02 nhóm tài sản này, pháp luật của các quốc gia có quy định cụ thể riêng về trình tự, thủ tục áp dụng đối với từng nhóm tài sản. Đặc biệt, Cộng hòa Pháp còn có quy định về mô hình tổ chức hoạt động của công ty đấu giá tài sản tự nguyện với thẩm quyền chỉ chuyên đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân[1]. Ở Việt Nam, pháp luật đấu giá tài sản qua các thời kỳ đã có quy định về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức và cá nhân, nhưng chưa quy định cụ thể, riêng biệt về trình tự, thủ tục đấu giá loại tài sản này, mà về cơ bản, áp dụng chung một trình tự, thủ tục giống như tài sản phải đấu giá theo quy định của pháp luật. Do thiếu các quy định cụ thể để tạo điều kiện cho tài sản tự nguyện đấu giá nhanh chóng, linh hoạt nên thời gian qua, các tổ chức hành nghề đấu giá chủ yếu đấu giá tài sản phải đấu giá theo quy định của pháp luật. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016[2] cho thấy, tài sản thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân tự nguyện đưa ra đấu giá chiếm tỷ lệ rất thấp (chiếm 0,06%) so với tài sản công phải đưa ra đấu giá (chiếm tỷ lệ hơn 90%).

1. Thực trạng pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân ở Việt Nam qua các thời kỳ

Trước bối cảnh phát triển mới, việc hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản, trong đó có các quy định về đấu giá tài sản tự nguyện, đòi hỏi phải đánh giá đầy đủ, toàn diện thực trạng pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện, làm cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này ở Việt Nam.

Năm 1986, Việt Nam chuyển từ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, Bộ luật Dân sự đầu tiên của Việt Nam được Quốc hội khóa IX, Kỳ họp thứ 8 thông qua vào năm 1995 quy định: “Tài sản có thể được đem bán đấu giá theo ý muốn của chủ sở hữu hoặc pháp luật có quy định”. Bộ luật Dân sự năm 2005 được ban hành và tiếp tục kế thừa các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 về bán đấu giá tài sản. Hệ thống các văn bản pháp luật về đấu giá tài sản[3] cũng chỉ ghi nhận “tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức có yêu cầu bán đấu giá tài sản”[4], chưa có quy định hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục để đấu giá tài sản của cá nhân, tổ chức tự nguyện đưa ra đấu giá. Lần đầu tiên, tài sản của cá nhân, tổ chức tự nguyện đưa ra đấu giá đã có hướng dẫn về trình tự, thủ tục đấu giá trong Nghị định số 17/2010/NĐ-CP[5] nhưng nguyên tắc, trình tự, thủ tục đấu giá áp dụng giống quy định đối với tài sản phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật và chỉ có duy nhất một phương thức bán đấu giá tài sản là phương thức trả giá lên, chưa có quy định về phương thức đặt giá xuống; rất ít tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân được đưa ra đấu giá[6]. Bộ luật Dân sự năm 2015 được ban hành thay thế Bộ luật Dân sự năm 2005 - tiếp tục kế thừa nguyên tắc đấu giá tài sản của cá nhân, tổ chức tự nguyện đấu giá. Luật Đấu giá tài sản được thông qua vào ngày 17/11/2016, có hiệu lực từ ngày 01/7/2017, thay thế Nghị định số 17/2010/NĐ-CP.

Luật Đấu giá tài sản năm 2016 có một số quy định liên quan đến loại tài sản đấu giá tự nguyện nhưng còn sơ sài và chỉ mang tính nguyên tắc chung: “tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật này”. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 bổ sung quy định về phương thức đặt giá xuống áp dụng trong bán đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân (khoản 9 Điều 5); quy định về thẩm quyền xác định giá khởi điểm đối với tài sản của tổ chức, cá nhân tự nguyện đưa ra đấu giá (điểm g khoản 1 Điều 24); hướng dẫn về trình tự, thủ tục khi áp dụng phương thức đặt giá xuống đối với hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói tại cuộc đấu giá, hình thức đấu giá bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá (khoản 3 Điều 41, khoản 3 Điều 43).

Như vậy, pháp luật về đấu giá tài sản trong giai đoạn này chưa quy định rõ về trình tự, thủ tục đối với tài sản của tổ chức, cá nhân tự nguyện đấu giá với tài sản phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật. Trong khi Luật Đấu giá tài sản năm 2016 dành 01 chương (Chương IV) để hướng dẫn đấu giá tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá thì đối với tài sản tự nguyện đấu giá của tổ chức cá nhân chỉ có hướng dẫn ở một số điều luật và các điều luật này cũng áp dụng chung đối với cả tài sản phải bán thông qua đấu giá theo quy định của pháp luật. Trình tự, thủ tục chung này chỉ phù hợp đối với tài sản phải đấu giá theo quy định của pháp luật chứ không phù hợp với tài sản của tổ chức, cá nhân tự nguyện đấu giá. Do chưa có quy định cụ thể, cơ chế đấu giá chưa thực sự linh hoạt nên chưa tạo hành lang pháp lý cho bán đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân. Bên cạnh đó, việc chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản đấu giá của tổ chức, cá nhân tự nguyện đưa ra đấu giá gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt, đối với tài sản là động sản không có đăng ký quyền sở hữu. Nhiều tài sản là động sản có giá trị như tranh, ảnh, đồ sưu tầm, đá quý… được lưu truyền qua nhiều thế hệ không có giấy tờ, hóa đơn chứng minh nguồn gốc hoặc không có di chúc, di chúc bị thất lạc, dẫn đến khó khăn trong chứng minh quyền sở hữu để đưa tài sản ra đấu giá. Các nhà sưu tầm có thể bán những tài sản này trên thị trường không chính thức, thông qua các giao dịch mua bán trực tiếp, tiềm ẩn nguy cơ mua bán tài sản giả, tài sản không rõ nguồn gốc và gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm soát. Các giao dịch không được kê khai theo quy định còn có thể dẫn đến thất thu thuế cho Nhà nước.

Ngày 27/6/2024, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản. Một trong những điểm mới quan trọng nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong trình tự, thủ tục đối với đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức và cá nhân là quy định về quyền của tổ chức hành nghề đấu giá, quyền của người có tài sản đấu giá được thỏa thuận về việc áp dụng một, một số hoặc toàn bộ quy định về trình tự, thủ tục đấu giá của Luật này khi thực hiện đấu giá tài sản của tổ chức, cá nhân tự nguyện lựa chọn[7]. Quy định này cho phép người có tài sản đấu giá và tổ chức hành nghề đấu giá khi đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân được quyền linh hoạt trong áp dụng thủ tục đấu giá tài sản, không bắt buộc phải thực hiện đầy đủ quy trình như đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, còn cho phép tổ chức hành nghề đấu giá được liên kết với các tổ chức hành nghề đấu giá tài sản khác để tổ chức việc đấu giá tài sản quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này.

Thực tiễn gần 01 năm thi hành các quy định về đấu giá tài sản tự nguyện được sửa đổi, bổ sung trong Luật Đấu giá tài sản cho thấy, các tổ chức hành nghề đấu giá còn lúng túng trong áp dụng các quy định về trình tự, thủ tục đấu giá đối với tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân, nhất là quy định: “khi ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, người có tài sản đấu giá có trách nhiệm cung cấp cho tổ chức đấu giá tài sản bằng chứng chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc quyền được bán tài sản theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về bằng chứng đó. Tổ chức đấu giá tài sản có trách nhiệm kiểm tra thông tin về quyền được bán tài sản do người có tài sản đấu giá cung cấp”[8]. Trong thực tiễn, việc áp dụng các quy định này đặt ra nhiều vấn đề cần được làm rõ: có cần ban hành quy chế cuộc đấu giá, có phải thông báo trên Cổng Đấu giá tài sản quốc gia, có phải nộp tiền đặt trước, có được rút ngắn thời hạn thông báo, niêm yết hay không. Những thủ tục nào bắt buộc phải thực hiện, những thủ tục nào có thể được miễn hoặc áp dụng theo cách thức khác. Một số quy định về trình tự, thủ tục đấu giá tài sản chưa phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn cho tổ chức hành nghề đấu giá, người có tài sản đấu giá và các tổ chức, cá nhân liên quan. Đối với tài sản thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân được tự nguyện đưa ra đấu giá, hiện, pháp luật chưa quy định đầy đủ, rõ ràng về cơ chế áp dụng trình tự, thủ tục đấu giá, đồng thời, chưa có cơ chế khuyến khích đủ hiệu quả để phát triển loại hình đấu giá này[9]. Bên cạnh đó, việc chứng minh quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu cũng là một trở ngại lớn trong thực tiễn. Các đồ sưu tầm, tranh, ảnh, di vật quý hiếm có giá trị có thể gặp khó khăn khi đưa ra đấu giá nếu người có tài sản không có đủ giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu theo yêu cầu tại Điều 33 Luật Đấu giá tài sản năm 2016.

Có thể thấy, đối với tài sản đấu giá thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá, các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản còn tản mát, chưa đầy đủ, chưa rõ ràng. Các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 về tài sản đấu giá tự nguyện và quyền sở hữu cũng chỉ mang tính nguyên tắc chung. Vì vậy, chưa khuyến khích phát triển đấu giá tài sản tự nguyện thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế[10].

2. Pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân ở một số quốc gia

Việc nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật của các quốc gia có hoạt động đấu giá tài sản tự nguyện phát triển là cần thiết để hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện ở Việt Nam. Nội dung nghiên cứu tập trung vào những vấn đề pháp luật Việt Nam chưa quy định hoặc quy định chưa rõ ràng; việc tiếp thu kinh nghiệm phải có chọn lọc, bảo đảm cơ sở khoa học và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Thứ nhất, quy định về trình tự, thủ tục đấu giá tự nguyện và sự kết hợp đa dạng các hình thức đấu giá. Tại nhiều quốc gia, tài sản do tổ chức, cá nhân tự nguyện đưa ra đấu giá chủ yếu là những tài sản được pháp luật cho phép giao dịch. Trình tự, thủ tục đấu giá được quy định phù hợp với đặc điểm của từng loại tài sản và hình thức đấu giá.

Tại Hà Lan, đấu giá xuất hiện từ thế kỷ XV, ban đầu chủ yếu được tổ chức tại các chợ cá. Từ thế kỷ XVII, đấu giá tài sản tự nguyện trở nên phổ biến với nhiều loại tài sản như hoa tulip, cá, biệt thự, lâu đài, máy móc, thiết bị... Sự phát triển của hoạt động đấu giá tài sản tự nguyện tại Hà Lan được cho là có liên quan đến lý thuyết của Ricard về đấu giá được công nhận vào đầu thế kỷ XVIII[11].

Ở Cộng hòa Pháp, đấu giá tài sản xuất hiện vào cuối thế kỷ XV. Sau Cách mạng Pháp, hoạt động đấu giá được tổ chức tại các quán ăn, quán cà phê, trong đó có việc đấu giá các tác phẩm nghệ thuật. Đến nay, Pháp áp dụng nhiều hình thức đấu giá đối với nhiều loại tài sản, với trình tự, thủ tục được quy định tương ứng. Ở Pháp, có ba hình thức đấu giá phổ biến: đấu giá tự nguyện (vente volontaire), đấu giá tài sản thuộc sở hữu nhà nước (vente domaniale) và đấu giá tư pháp (vente judiciaire). Hoạt động bán đấu giá động sản tự nguyện được thực hiện bởi các chủ thể đáp ứng điều kiện và tuân thủ cơ chế quản lý theo quy định pháp luật Pháp[12].

Ở Anh, đến thế kỷ XVII, đấu giá đã trở nên phổ biến tại các quán rượu, với các tài sản được đưa ra đấu giá như tác phẩm nghệ thuật, đồ dùng nội thất. Pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của Anh cho phép áp dụng đa dạng, linh hoạt các hình thức đấu giá đối với tài sản của tổ chức, cá nhân[13].

Trong số các quốc gia có hoạt động đấu giá tài sản tự nguyện phát triển, Cộng hòa Pháp là một trong những quốc gia Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm, do có những điểm tương đồng về hình thức và phương thức đấu giá trong quy định pháp luật của hai nước. Ở Pháp, có 350 sàn đấu giá về đấu giá tự nguyện, với khoảng hơn 2,5 triệu tài sản được đưa ra đấu giá. Kinh nghiệm của Pháp cho thấy tính linh hoạt trong tổ chức đấu giá được thể hiện ở một số khía cạnh như thủ tục đấu giá, xác định mức tiền đặt trước, thời gian thông báo công khai và cho xem tài sản. Trong đó, thông báo công khai là thủ tục bắt buộc; các nội dung còn lại được thực hiện theo quy định pháp luật áp dụng và điều kiện của từng cuộc đấu giá.

Về cách thức tổ chức, phiên đấu giá có thể được thực hiện trực tiếp hoặc trực tuyến. Đối với hình thức đấu giá trực tiếp, người tham gia có thể trả giá trực tiếp tại phiên đấu giá, qua điện thoại hoặc thông qua hệ thống trực tuyến. Đối với hình thức đấu giá trực tuyến, nền tảng (hệ thống trực tuyến) được xây dựng bởi các doanh nghiệp, khách hàng đăng nhập tài khoản để trả giá. Khách hàng tham gia đấu giá thực hiện trả giá trực tiếp, trả giá qua điện thoại và trả giá qua hệ thống đấu giá trực tuyến. Đấu giá viên tổng hợp để xác định người trả giá cao nhất qua các nhân viên thư ký (có ít nhất 03 - 05 thư ký, trong đó, 01 - 02 thư ký nghe điện thoại, 01 thư ký quản lý hệ thống trực tuyến, 01 - 02 thư ký tại cuộc đấu giá trực tiếp để giúp đấu giá viên xác định người trả giá). Khách hàng giơ tay lên 01 lần là xác định trả thêm 01 bước giá theo quy định. Lập biên bản đấu giá sau cuộc đấu giá, thủ tục đấu giá nhanh gọn, bán một tài sản trong thời gian khoảng 03 phút đến 05 phút là có thể xác định được người trả giá cao nhất. Bên cạnh biên bản đấu giá sẽ có hóa đơn bán hàng gồm 02 niên, 01 niên công ty đấu giá giữ, 01 niên cấp cho khách hàng. Khách hàng có thể thanh toán ngay tại quầy thu ngân ngay tại phòng đấu giá đối với đấu giá trực tiếp, đối với đấu giá trực tuyến thì thực hiện chuyển khoản thanh toán và sẽ được giao hàng tận nơi[14].

Thứ hai, quy định về các phương thức đấu giá.

Hà Lan được biết đến với phương thức đấu giá giảm dần. Đấu giá giảm dần là phương thức đấu giá mà một món hàng được đưa ra đấu giá được chào bán với một mức giá rất cao so với giá trị thật của hàng hóa. Giá được giảm xuống qua các lần cho đến khi có người tham gia đấu giá quyết định mua tài sản với giá đã công bố. Người quyết định mua tài sản với giá công bố trở thành người trúng đấu giá.

Ở Anh, phương thức đấu giá tăng dần, công khai cũng được sử dụng phổ biến. Theo phương thức này, người tham gia công khai đưa ra mức giá trả cao hơn mức giá đã được đưa ra trước đó; người trả giá cao nhất sẽ trúng đấu giá nếu đáp ứng các điều kiện của cuộc đấu giá.

Ngoài 02 phương thức đấu giá truyền thống trên, các quốc gia còn sử dụng phương thức đấu nhượng quyền và phương thức đấu giá ngược áp dụng đối với tài sản của tổ chức, cá nhân tự nguyện đấu giá. Đây là 02 phương thức đấu giá mà pháp luật về đấu giá của Việt Nam chưa quy định:

(i) Đối với phương thức đấu giá nhượng quyền - là cách thức đấu giá cho phép người bán đưa ra mức giá và quyết định thời điểm kết thúc việc chào bán khi tìm được mức giá phù hợp. Phương thức này được áp dụng với đấu giá tài sản là quyền sở hữu trí tuệ, những sản phẩm có thể được tái bản như bản thu âm, phần mềm, các sáng tác văn học, nghệ thuật, công thức sản xuất rượu, nước hoa… Người bán sẽ đặt giá lớn nhất và công khai, sau đó họ có thể điều chỉnh và rút lại giá đã đưa ra trước thời điểm tổ chức đấu giá. Người bán sẽ quyết định kết thúc phiên bán đấu giá bất cứ lúc nào khi chọn được mức giá vừa ý. Người trúng đấu giá là người đặt giá bằng hoặc cao hơn giá được chọn và được nhận phiên bản của sản phẩm[15].

(ii) Đối với phương thức đấu giá ngược - thường được áp dụng đối với các cuộc đấu giá qua mạng internet (đấu giá trực tuyến). Người trúng đấu giá là người trả giá cho sản phẩm hay dịch vụ được đưa ra đấu giá là thấp nhất và duy nhất. Ví dụ: khi đấu giá một chiếc xe ô tô mà quy định mức giá cao nhất là 5.000 USD và có các giá trả cao nhất là 5.000, 5.000, 4.000, 4.000, 3.000, 2.000, 2.000, 1.000, 1.000 thì mức giá 3.000 USD là mức giá trúng đấu giá vì người ra giá duy nhất và thấp nhất. Sau khi kết thúc phiên bán đấu giá, hệ thống vận hành hoàn toàn tự động và tìm ra người trúng đấu giá theo tiêu chí trả giá thấp nhất và duy nhất. Phương thức đấu giá này cho phép một lượng lớn khách hàng tham gia đấu giá, người tham gia đấu giá có quyền trả giá từ cao xuống thấp và cũng không bị hạn chế số lần trả giá cho đến khi hệ thống chốt thời điểm không được trả giá nữa. Tại thời điểm phiên đấu giá kết thúc, hệ thống sẽ tự động tìm ra người trúng đấu giá[16].

Thứ ba, vấn đề xác định quyền sở hữu tài sản trong đấu giá tự nguyện. Trong hệ thống pháp luật Civil Law, quyền sở hữu và việc chiếm hữu tài sản được điều chỉnh bằng các quy định pháp luật thành văn. Pháp luật của một số quốc gia thuộc hệ thống này ghi nhận cơ chế suy đoán quyền sở hữu hoặc quyền đối với tài sản từ việc chiếm hữu, qua đó, tạo cơ sở xác định quyền của người chiếm hữu khi không có đầy đủ giấy tờ chứng minh. Tuy nhiên, phạm vi và điều kiện áp dụng cơ chế này khác nhau giữa các quốc gia. Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật Civil Law trong quá trình xây dựng pháp luật dân sự. Vì vậy, kinh nghiệm của một số quốc gia thuộc hệ thống này có thể được nghiên cứu để hoàn thiện quy định về chứng minh quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu khi đưa ra đấu giá tự nguyện.

Ở Pháp, quy định một nguyên tắc kinh điển: đối với động sản, chiếm hữu có giá trị như danh nghĩa sở hữu[17]. Người có tài sản đấu giá chỉ cần chứng minh mình đang chiếm hữu thực tế và hợp pháp (ngay tình, liên tục, công khai). Khi đưa tài sản cho công ty đấu giá tự nguyện (như các nhà đấu giá tại sàn Drouot), việc giao tài sản vật chất cùng với một tuyên bố cam kết (déclaration sur l’honneur) về nguồn gốc tài sản là đủ điều kiện.

Ở Đức, mặc định suy đoán rằng, người đang chiếm hữu một động sản là chủ sở hữu của nó. Khi đưa tài sản vào các nhà đấu giá (như Ketterer Kunst), người ký gửi (consignor), chỉ cần chứng minh quyền chiếm hữu thực tế và ký Hợp đồng ký gửi đấu giá (Versteigerungsvertrag), trong đó, có điều khoản cam kết quyền sở hữu không bị tranh chấp[18].

Ở Hà Lan, cách chứng minh tương tự Đức và Pháp, người chiếm hữu được suy đoán là chủ sở hữu hợp pháp. Người bán đấu giá chứng minh bằng cách bàn giao vật chất tài sản và cung cấp các chứng từ phụ trợ (nếu có) như hóa đơn mua hàng cũ, di chúc, hoặc giấy tờ thừa kế để củng cố tính ngay tình (good faith) của việc chiếm hữu[19].

Ở Trung Quốc, quyền sở hữu động sản được xác lập và chuyển giao từ thời điểm giao hàng. Người có tài sản đấu giá phải ký cam kết bằng văn bản về quyền sở hữu hợp pháp. Các nhà đấu giá (như Poly Auction hay China Guardian) sẽ yêu cầu cung cấp “chuỗi bằng chứng liên tục” (chain of custody) gồm: hóa đơn gốc, chứng nhận thẩm định, hoặc tài liệu chứng minh nguồn gốc hợp pháp[20].

Ở Nhật Bản và Hàn Quốc, đều quy định quyền chiếm hữu động sản là căn cứ suy đoán quyền sở hữu hợp pháp[21]. Tại các nhà đấu giá Nhật Bản (như Mainichi Auction) và Hàn Quốc (như Seoul Auction), người bán thực hiện chứng minh qua: (i) chiếm hữu thực tế tài sản; (ii) ký biên bản cam kết quyền sở hữu không bị ràng buộc bởi bên thứ ba (thế chấp, cầm cố); (iii) cung cấp giấy tờ tùy thân để chịu trách nhiệm hình sự/dân sự nếu có gian lận.

Ở Thái Lan, người chiếm hữu được suy đoán là có quyền sở hữu hợp pháp đối với động sản. Khi đấu giá, họ chứng minh bằng việc bàn giao tài sản và ký hợp đồng dịch vụ đấu giá, bảo đảm tài sản tự do khỏi mọi tranh chấp (Free from encumbrances)[22].

Từ kinh nghiệm so sánh trên, Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia theo hướng quy định rõ căn cứ xác định quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu khi tổ chức, cá nhân tự nguyện đưa tài sản ra đấu giá. Cơ chế này cần làm rõ giá trị chứng minh của việc chiếm hữu thực tế, các tài liệu có thể sử dụng để bổ trợ cho việc chứng minh quyền sở hữu và trách nhiệm của người có tài sản khi cam kết về quyền sở hữu, quyền định đoạt tài sản. Đồng thời, cần quy định cơ chế xử lý trường hợp có căn cứ nghi ngờ về nguồn gốc tài sản hoặc có tranh chấp về quyền sở hữu, nhằm bảo đảm khả năng tiếp nhận tài sản để đấu giá mà vẫn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu và người thứ ba.

3. Yêu cầu và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân ở Việt Nam

Theo thông lệ của các quốc gia trên thế giới, hoạt động đấu giá tài sản chủ yếu tập trung ở tài sản tự nguyện đấu giá của tổ chức, cá nhân. Theo số liệu của các công ty đấu giá tài sản tự nguyện lớn trên thế giới (gồm nhà đấu giá hàng đầu thế giới là Sotheby’s và Christie’s) thì doanh thu ước tính khoảng 21,5 tỷ USD năm 2025 và dự đoán tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ vào những năm 2033; các tài sản đấu giá của các công ty này tập trung vào đấu giá các tài sản giá trị cao như tác phẩm nghệ thuật, đồ sưu tầm, xe cổ và hàng xa xỉ thuộc quyền sở hữu tư nhân hoặc tổ chức[23]. Đây là bối cảnh có ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng phát triển dài hạn của nghề đấu giá tài sản tại Việt Nam trong thời gian tới, nhất là khi các hoạt động kinh doanh thương mại, hợp tác quốc tế của Việt Nam diễn ra ngày càng sôi động và sâu, rộng. Xây dựng hành lang pháp lý cho đấu giá tài sản tự nguyện phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam là phù hợp với mục tiêu của Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó, nhấn mạnh việc phát huy tiềm năng, thế mạnh, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, kích hoạt, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực trong Nhân dân cho phát triển kinh tế - xã hội; tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định, an toàn, dễ thực thi… đạt chuẩn quốc tế…

Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân ở Việt Nam và kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia, việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này cần đáp ứng những yêu cầu nhất định và có các giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập đã được nhận diện.

3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân

Thực tiễn đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện là cấp thiết và cần được hoàn thiện đầy đủ, đồng bộ. Cụ thể:

Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế tư nhân; đồng thời, bảo đảm tính đặc thù của hoạt động đấu giá tài sản tự nguyện trong quy định về tổ chức, hoạt động của tổ chức hành nghề đấu giá và đấu giá viên.

Thứ hai, kế thừa, phát triển những quy định pháp luật đã được thực tiễn kiểm nghiệm; đồng thời, sửa đổi, bổ sung những quy định còn bất cập, hạn chế, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi và sự thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân.

Thứ ba, xây dựng cơ chế pháp lý riêng, đầy đủ và rõ ràng về đấu giá tài sản tự nguyện, tập trung vào việc xác định quyền sở hữu và quyền được bán tài sản; trách nhiệm của người có tài sản đấu giá; trình tự, thủ tục và phương thức đấu giá; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể; giá dịch vụ, chi phí đấu giá và nghĩa vụ tài chính có liên quan.

Thứ tư, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về tổ chức hoạt động đấu giá, phương thức đấu giá và cơ chế chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản tự nguyện, đồng thời, nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong tổ chức và quản lý hoạt động đấu giá.

Thứ năm, khắc phục tình trạng quy định pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện còn mang tính nguyên tắc, thiếu rõ ràng về trình tự, thủ tục, gây khó khăn cho tổ chức hành nghề đấu giá và người có tài sản. Tài sản thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân được đưa ra đấu giá chiếm tỷ lệ rất thấp, khoảng 0,06% so với số cuộc đấu giá tài sản bắt buộc[24]. Số liệu này cần được đối chiếu với phạm vi thống kê, thời kỳ thống kê và cách phân loại các cuộc đấu giá trong báo cáo gốc trước khi sử dụng làm căn cứ đánh giá thực trạng.

3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân

Trên cơ sở những yêu cầu trên và các vấn đề đã nhận diện, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật sau:

Thứ nhất, về tổ chức hành nghề đấu giá và cơ chế hành nghề của đấu giá viên đối với tài sản tự nguyện.

(i) Mở rộng các loại hình doanh nghiệp được phép kinh doanh dịch vụ đấu giá tài sản tự nguyện, gồm công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn bên cạnh các loại hình doanh nghiệp hiện được pháp luật cho phép. Việc mở rộng cần gắn với điều kiện về tổ chức, năng lực chuyên môn, trách nhiệm nghề nghiệp và cơ chế kiểm soát nhằm bảo đảm tính độc lập, minh bạch của hoạt động đấu giá. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế khuyến khích thành lập các sàn đấu giá chuyên nghiệp đối với tài sản tự nguyện.

(ii) Bổ sung vào văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành sau khi Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (dự thảo Luật) được thông qua quy định về quyền của tổ chức hành nghề đấu giá được ký hợp đồng với chuyên gia, cố vấn pháp lý trong nước và nước ngoài để hỗ trợ tổ chức đấu giá các loại tài sản tự nguyện có tính chất chuyên biệt. Quy định cần phân biệt rõ hoạt động tư vấn, hỗ trợ chuyên môn với hoạt động hành nghề và điều hành cuộc đấu giá, đồng thời, xác định trách nhiệm của các bên theo hợp đồng và quy định pháp luật có liên quan.

(iii) Mở rộng điều kiện tiếp cận nghề đấu giá theo hướng tạo cơ hội tuyển chọn người có chuyên môn trong các lĩnh vực liên quan đến tài sản đấu giá. Đồng thời, xem xét cơ chế cho phép đấu giá viên tham gia điều hành cuộc đấu giá tại tổ chức hành nghề đấu giá khác trên cơ sở hợp đồng hợp tác giữa các tổ chức, với điều kiện bảo đảm tư cách hành nghề, tính độc lập, trách nhiệm nghề nghiệp và việc kiểm soát xung đột lợi ích.

Theo đó, dự thảo Luật hoặc văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành (sau khi dự thảo Luật được thông qua) (văn bản hướng dẫn thi hành) hình thức hành nghề của đấu giá viên đối với trường hợp đấu giá viên hành nghề và điều hành các phiên đấu giá tài sản của tổ chức, cá nhân tự nguyện đấu giá: “Đấu giá viên được hành nghề tại tổ chức hành nghề đấu giá khác với tư cách là chuyên gia, cố vấn pháp lý, đấu giá viên điều hành khi đấu giá tài sản quy định tại khoản 2, Điều 5 Luật này”. Đồng thời, bổ sung nội dung về quyền của đấu giá viên được điều hành tại các tổ chức hành nghề đấu giá theo hợp đồng hợp tác giữa các tổ chức hành nghề đấu giá trong và ngoài nước đối với tài sản đấu giá quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật này.

Thứ hai, về xác định quyền sở hữu đối với tài sản tự nguyện đưa ra đấu giá và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người mua được tài sản đấu giá tự nguyện.

Bổ sung nội dung về xác định quyền sở hữu đối với tài sản tự nguyện đưa ra đấu giá: Tài sản thuộc sở của tổ chức, cá nhân tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá được đưa ra đấu giá theo ý chí của chủ sở hữu hoặc cá nhân, tổ chức được chủ sở hữu ủy quyền (sau đây gọi là người có tài sản đấu giá).

Đối với tài sản là động sản không có đăng ký quyền sở hữu người có tài sản chứng minh quyền được bán bằng chiếm hữu thực tế và cam kết bằng văn bản về quyền hữu hợp pháp, không có tranh chấp với người thứ ba. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá, người có tài sản đấu giá phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường toàn bộ giá trị tài sản, thiệt hại cho người thứ ba và tổ chức hành nghề đấu giá theo quy định của pháp luật. Người mua được tài sản đấu giá được bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá thành”.

Thứ ba, về hoàn thiện trình tự, thủ tục và phương thức đấu giá tài sản tự nguyện.

(i) Bổ sung vào dự thảo Luật hoặc văn bản hướng dẫn thi hành cơ chế cho phép người có tài sản đấu giá được thỏa thuận với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản trong Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản về các nội dung: thời gian thông báo công khai, tổ chức cho xem tài sản; cách thức thu nộp tiền đặt trước, mức tiền đặt trước, cách thức trả giá hợp lệ; lựa chọn áp dụng các hình thức trả giá (trực tiếp, gián tiếp, trả giá qua điện thoại, qua email, qua hệ thống đấu giá trực tuyến) hoặc kết hợp các hình thức trả giá; lựa chọn áp dụng phương thức đấu giá để tạo điều kiện thuận lợi, linh hoạt khi đấu giá tài sản của tổ chức, cá nhân và phù hợp với thông lệ quốc tế.

(ii) Bổ sung các phương thức đấu giá mới, phù hợp với đặc điểm của tài sản tự nguyện, gồm các phương thức mới đã được kiểm chứng về cơ chế vận hành và tính khả thi; đồng thời, xem xét cho phép kết hợp các phương thức hoặc lựa chọn phương thức khác trong phạm vi pháp luật quy định. Đối với đề xuất bổ sung phương thức đấu giá nhượng quyền và đấu giá ngược, cần làm rõ khái niệm, cách xác định người trúng đấu giá, cơ chế xử lý trường hợp có nhiều người cùng đáp ứng điều kiện trúng đấu giá và biện pháp phòng ngừa hành vi thao túng trước khi quy định trong luật.

Thứ tư, về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người có tài sản đấu giá và tổ chức hành nghề đấu giá.

Bổ sung vào dự thảo Luật hoặc văn bản hướng dẫn thi hành về nghĩa vụ của người có tài sản đấu giá: chịu trách nhiệm về quyền sở hữu đối với tài sản đưa ra đấu giá không bị tranh chấp với người thứ ba, nguồn gốc, xuất xứ hợp pháp của tài sản đấu giá; chịu trách nhiệm về giá khởi điểm tài sản đấu giá trong trường hợp tự xác định giá khởi điểm.

Thứ năm, về giá dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá và nghĩa vụ tài chính.

Đối với giá dịch vụ và chi phí đấu giá tài sản tự nguyện, cho phép thực hiện theo thỏa thuận giữa người có tài sản và tổ chức hành nghề đấu giá, phù hợp với tính chất, giá trị, mức độ phức tạp của tài sản và chi phí thực tế của cuộc đấu giá. Việc lựa chọn cơ chế thỏa thuận thay cho khung giá cần được đánh giá trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, minh bạch và tránh phát sinh các khoản thu không rõ căn cứ.

Đối với thuế, phí và lệ phí, cần xác định rõ nghĩa vụ của từng chủ thể theo quy định pháp luật về thuế, phí và lệ phí. Hợp đồng dịch vụ đấu giá có thể quy định việc phân bổ các chi phí theo thỏa thuận trong phạm vi pháp luật cho phép, nhưng không được làm thay đổi chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế, phí, lệ phí do pháp luật quy định.

Kết luận

Việc phát triển đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân là xu thế khách quan ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện là yêu cầu cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đấu giá loại tài sản này phát triển. Các quy định pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng bảo đảm tính công khai, minh bạch, đồng thời, tạo sự linh hoạt hợp lý trong trình tự, thủ tục đấu giá. Qua đó, góp phần thu hút người tham gia, nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả của hoạt động đấu giá tài sản tự nguyện, đồng thời, tăng cường quản lý thuế, hạn chế thất thu ngân sách nhà nước. Việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn xuất phát từ yêu cầu thực tiễn khách quan của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế./.

Lê Thị Hương Giang

Trưởng Bộ môn nghề đấu giá, Khoa Đào tạo Công chứng viên và các chức danh khác, Học viện Tư pháp

[1]. Nguyễn Xuân Thu, (2022), Pháp luật về đấu giá tài sản của Việt Nam và một số nước trên thế giới, Chương 1, Giáo trình nghiệp vụ đấu giá tài sản, Tập 1 - Phần chung, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

[2]. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 424/BC-BTP ngày 10/6/2026 về tổng kết thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016 (sửa đổi, bổ sung năm 2024) (Báo cáo số 424/BC-BTP).

[3]. Ngày 18/01/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản thay thế cho Nghị định số 86/1996/NĐ-CP và ngay sau khi Nghị định số 05/2005/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2005/TT-BTP ngày 04/5/2005 hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP. Nghị định số 05/2005/NĐ-CP, Thông tư số 03/2005/TT-BTP là cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển dịch vụ bán đấu giá tài sản trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

[4]. Khoản 4 Điều 5 Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản.

[5]. Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản (Nghị định số 17/2010/NĐ-CP).

[6]. Bộ Tư pháp (2014), Báo cáo số 180/BC-BTP ngày 18/7/2014 sơ kết 04 năm thi hành Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản.

[7]. Điểm a1 khoản 1 Điều 24 Luật Đấu giá tài sản năm 2016, được sửa đổi, bổ sung năm 2024.

[8]. Khoản 2, 3 Điều 33 Luật Đấu giá tài sản năm 2016.

[9]. Thuỳ Linh, Hoàn thiện pháp lý để nâng cao hiệu quả hoạt động đấu giá tài sản, Tạp chí Kinh tế - Tài chính.

[10]. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 424/BC-BTP, tlđd.

[11]. Nguyễn Xuân Thu (2022), tlđd.

[12]. Cục Bổ trợ tư pháp (2015), Tài liệu hội thảo khoa học: Trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản của cộng hòa Pháp - Kinh nghiệm xây dựng Luật đấu giá tài sản của Việt Nam, Hà Nội, ngày 09/6/2015.

[13]. Nguyễn Xuân Thu (2022), Pháp luật về đấu giá tài sản của Việt Nam và một số nước trên thế giới, Chương 1, Giáo trình nghiệp vụ đấu giá tài sản, Tập 1 - Phần chung, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

[14]. Học viện Tư pháp (2023), Báo cáo số 834/BC-HVTP ngày 30/12/2023 về kết quả khảo sát các hoạt động đấu giá và các tổ chức hành nghề đấu giá, hoạt động tổ chức thi hành án đối với bất động sản và hoạt động thừa phát lại tại Cộng hòa Pháp, thời gian từ ngày 11/12/2023 đến ngày 17/12/2023.

[15]. P. Cramton, Y. Shoham and R. Steinberg (2005), Introduction to Combinatorial Auctions, MIT Press, Boston, 29-54.

[16]. P. Cramton, Y. Shoham and R. Steinberg (2005), tlđd.

[17]. Điều 2276 Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804, được sửa đổi, bổ sung năm 2016.

[18]. Điều 1006 Bộ luật Dân sự Đức năm 1900.

[19]. Điều 3:119 Bộ luật Dân sự Hà Lan năm 1992.

[20]. Bộ luật Dân sự Trung Hoa năm 2020 và Luật Đấu giá nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1996.

[21]. Điều 188 Bộ luật Dân sự Nhật Bản năm 1896, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 200 Bộ luật Dân sự Hàn Quốc năm 1958.

[22]. Điều 1373 Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan năm 1923.

[23]. Windsor Auctions, tlđd.

[24]. Báo cáo tổng kết 05 năm thi hành Luật đấu giá số 345/BC-BTP ngày 29/12/2022 của Bộ Tư pháp và Báo cáo số 424/BC-BTP.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ luật Dân sự Đức năm 1900.

2. Bộ luật Dân sự Hà Lan năm 1992.

3. Bộ luật Dân sự Hàn Quốc năm 1958.

4. Bộ luật Dân sự Nhật Bản năm 1896, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

5. Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804, được sửa đổi, bổ sung năm 2016.

6. Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2020.

7. Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan năm 1923.

8. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 424/BC-BTP ngày 10/06/2026 về tổng kết thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016 (sửa đổi, bổ sung năm 2024).

9. Cục Bổ trợ tư pháp (2015), Trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản của Cộng hòa Pháp - Kinh nghiệm xây dựng Luật Đấu giá tài sản của Việt Nam, Tài liệu Hội thảo khoa học, Hà Nội, ngày 09/6/2015.

10. Học viện Tư pháp (2022), Giáo trình nghiệp vụ đấu giá tài sản - Phần chung, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

11. Windsor Auctions, Future Auction Trends, https://www.windsorauctions.co.uk/future-auction-trends, truy cập ngày 10/10/2026.

12. Cramton, P., Shoham, Y. và Steinberg, R. (eds.) (2006), Combinatorial Auctions, MIT Press, Cambridge, Massachusetts.

13. Thùy Linh (2026), Hoàn thiện pháp lý để nâng cao hiệu quả hoạt động đấu giá tài sản, Tạp chí Kinh tế - Tài chính, Bộ Tài chính.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, ấn phẩm “Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản”, xuất bản năm 2026)

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của một số quốc gia và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của một số quốc gia và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Đấu giá tài sản tự nguyện ngày càng phát triển trở thành phương thức bán tài sản phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu phân tích pháp luật Pháp, Trung Quốc, một số tiểu bang Hoa Kỳ và Đức về đấu giá tài sản tự nguyện; đồng thời, tham khảo kinh nghiệm của Hàn Quốc về tổ chức hạ tầng đấu giá trực tuyến. Trên cơ sở so sánh quyền định đoạt tài sản, trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ, nghĩa vụ thông tin, điều kiện bán và hậu quả pháp lý của đấu giá, nghiên cứu so sánh với pháp luật Việt Nam và dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)*(dự thảo Luật). Kết quả phân tích, làm rõ những vấn đề về phạm vi áp dụng chế độ đấu giá tự nguyện, chứng minh quyền được bán, quyền thỏa thuận thủ tục, điều kiện về giá, hiệu lực kết quả và trách nhiệm trong môi trường điện tử. Từ đó, nghiên cứu kiến nghị hoàn thiện các quy định tương ứng nhằm bảo đảm quyền định đoạt, tính minh bạch và an toàn pháp lý của hoạt động đấu giá tài sản tự nguyện.
Mở rộng chính sách phát triển nhà ở cho thuê đáp ứng nhu cầu của người dân

Mở rộng chính sách phát triển nhà ở cho thuê đáp ứng nhu cầu của người dân

Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) hướng tới hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các loại hình nhà ở, trong đó bổ sung chương riêng về nhà ở cho thuê, đẩy mạnh phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường kiểm soát việc thụ hưởng chính sách nhà ở. Những nội dung này được kỳ vọng góp phần giải quyết nhu cầu chỗ ở của người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nhà ở.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản minh bạch, an toàn

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản minh bạch, an toàn

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, ngày 22/10, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội đã nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi).
Xây dựng và thực thi pháp luật là "đột phá của đột phá" trong hoàn thiện hệ sinh thái thể chế phát triển đất nước

Xây dựng và thực thi pháp luật là "đột phá của đột phá" trong hoàn thiện hệ sinh thái thể chế phát triển đất nước

Đến năm 2030, Việt Nam có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi với cơ chế tổ chức thực hiện nghiêm minh, nhất quán, bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính quyền 03 cấp, mở đường cho kiến tạo phát triển.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Hơn 845.000 người tham gia Cuộc thi trực tuyến trên Cổng Pháp luật quốc gia Tìm hiểu Hiến pháp và pháp luật

Hơn 845.000 người tham gia Cuộc thi trực tuyến trên Cổng Pháp luật quốc gia Tìm hiểu Hiến pháp và pháp luật

Ngày 21/10, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc chủ trì họp Ban Tổ chức Cuộc thi trực tuyến trên Cổng Pháp luật quốc gia Tìm hiểu Hiến pháp và pháp luật cho ý kiến về kết quả thi và dự kiến xét giải.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp khi mở rộng nguồn vốn cho công ty luật

Bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp khi mở rộng nguồn vốn cho công ty luật

Trong các phiên thảo luận tổ tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, trao đổi về dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật), một số đại biểu cho rằng, việc mở rộng khả năng huy động vốn có thể tạo điều kiện phát triển các tổ chức hành nghề luật sư có quy mô lớn, chuyên nghiệp, nhưng cần có cơ chế kiểm soát phù hợp để bảo vệ tính độc lập nghề nghiệp, quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, đồng thời bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động

Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động

Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 21/10, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động.
Hoàn thiện quy định về miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư đối với trợ giúp viên pháp lý

Hoàn thiện quy định về miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư đối với trợ giúp viên pháp lý

Trong chương trình làm việc tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, góp ý dự án Luật Luật sư (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát quy định về miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư đối với trợ giúp viên pháp lý. Theo đó, ý kiến tập trung vào việc xác định tiêu chí miễn, giảm phù hợp với trình độ chuyên môn, quá trình công tác và kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời bảo đảm tính thống nhất giữa các quy định pháp luật, tạo điều kiện phát huy nguồn nhân lực có kinh nghiệm để thực hiện dịch vụ pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tư pháp và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư là yêu cầu cấp thiết, nhất là ngay từ khâu kiểm soát đầu vào đóng vai trò then chốt. Bằng phương pháp phân tích quy phạm, so sánh pháp luật, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết và cơ sở khoa học, chỉ ra những bất cập của cơ chế kiểm tra tập sự phân mảnh hiện hành. Đồng thời, so sánh kinh nghiệm quốc tế tại các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật thành văn (Trung Quốc, Nhật Bản, Đức) cho thấy, vai trò chủ trì của cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm soát tiêu chuẩn đầu vào phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thể chế, mô hình thực hiện và định hướng vận hành nhằm bảo đảm tính khả thi, minh bạch và hiệu quả.

Theo dõi chúng tôi trên: