Chủ nhật 25/10/2026 19:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.

Từ khóa: hiệu quả; văn bản quy phạm pháp luật; đánh giá; dự thảo luật. Nhận bài: 10/9/2026 Hoàn thành biên tập: 29/9/2026 Duyệt đăng: 05/10/2026

Improving provision on the effectiveness assessment of normative legal documents in the draft law on normative legal documents

Abstract: Evaluating the effectiveness of legal normative documents is the process of measuring the extent to which policy objectives have been achieved and assessing the actual impact of legal regulations following their implementation. This study provides an overview of the criteria for evaluating the effectiveness of legal normative documents and analyzes the relevant provisions within the Draft Law on Legal Normative Documents (the Draft Law). The research indicates that, while the Draft Law establishes an initial legal basis for such evaluations, certain provisions remain limited or inadequate. Consequently, the study proposes refining the evaluation criteria and methodologies, clearly defining the coordination responsibilities among the involved entities, and establishing a mechanism for utilizing evaluation results to adjust and improve the legal framework.

Keywords: Effectiveness; legal normative documents; evaluation; draft law.

Article received: 10/9/2026 Editing completed: 29/9/2026 Approved for publication: 05/10/2026

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh hiện nay, công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật đang được Việt Nam đẩy mạnh đổi mới theo hướng toàn diện và thực chất. Nghị quyết số 66-NQ/TW đã chỉ ra một số hạn chế như chất lượng pháp luật chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn, tổ chức thi hành pháp luật vẫn là khâu yếu, thiếu cơ chế phản ứng chính sách kịp thời và hiệu quả2... Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, xây dựng và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới.

Từ lần ban hành đầu tiên vào năm 1996, Luật Ban hành VBQPPL đã góp phần chuẩn hóa quy trình lập pháp, lập quy và nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật. Qua các lần sửa đổi, bổ sung, quy định về ban hành VBQPPL từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, dự thảo Luật cần được nghiên cứu xây dựng trên cơ sở kế thừa, phát triển Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 87/2025/QH15 (Luật Ban hành VBQPPL năm 2025). Dự thảo Luật chú trọng đến tổ chức thi hành pháp luật, trong đó, lần đầu tiên đề xuất quy định về đánh giá hiệu quả VBQPPL nhằm tăng cường hậu kiểm và cung cấp căn cứ thực tiễn để sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ quy định không phù hợp.

1. Tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật

Tiền kiểm và hậu kiểm có mối liên hệ chặt chẽ trong quá trình xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật. Mặc dù, Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 có quy định đánh giá tác động chính sách nhằm dự báo những ảnh hưởng có thể phát sinh. Tuy nhiên, không phải mọi hạn chế đều được nhận diện đầy đủ trước khi chính sách được thể chế hóa. Khi triển khai, chính sách có thể bộc lộ những vấn đề như mục tiêu vượt quá khả năng thực hiện, chưa bao quát đầy đủ các yếu tố cần điều chỉnh, thiếu nhất quán với chính sách và chương trình có liên quan hoặc chịu tác động của lợi ích cục bộ3.

Đánh giá hiệu quả VBQPPL được thực hiện sau khi VBQPPL đã được ban hành và tổ chức thi hành nhằm kiểm chứng mức độ đạt được mục tiêu chính sách, nhận diện hạn chế, vướng mắc và các quy định không còn phù hợp. Thuật ngữ “hiệu quả” hướng sự đánh giá vào nội dung quy định và kết quả do quy định tạo ra trong đời sống kinh tế - xã hội4. Hoạt động này có tính động, vì tác động của VBQPPL có thể thay đổi theo sự vận động của các quan hệ xã hội5.

Bên cạnh đó, đánh giá hiệu quả VBQPPL là hình thức hậu kiểm, giúp Nhà nước nhận diện căn cứ thực tiễn để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật, nâng cao mức độ phù hợp của quy định pháp luật với đời sống kinh tế - xã hội và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây được xem là hoạt động tự kiểm tra của Nhà nước đối với kết quả, tác động của pháp luật.

Đánh giá hiệu quả VBQPPL cần làm rõ mối quan hệ giữa mục tiêu, kết quả, tác động và nguồn lực thực hiện. Trên cơ sở đó, có thể xác định năm nhóm tiêu chí chủ yếu:

Thứ nhất, mức độ đạt được mục tiêu chính sách. Đây là tiêu chí trung tâm, phản ánh sự tương quan giữa mục tiêu được xác định khi xây dựng chính sách với kết quả thực tế. Hoạt động đánh giá cần xác định mục tiêu đã đạt, đạt một phần hay chưa đạt, đồng thời, làm rõ chênh lệch giữa dự kiến và kết quả thực hiện.

Thứ hai, mức độ thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng đã được thể chế hóa trong VBQPPL. Trong khoa học pháp lý, việc đánh giá chất lượng VBQPPL theo tiêu chí chính trị xuất phát từ mối quan hệ giữa Nhà nước và Đảng cầm quyền6. Vì vậy, đánh giá VBQPPL sau ban hành cần xác định mức độ triển khai các định hướng đã được thể chế hóa, kết quả thực hiện mục tiêu và nguyên nhân của những nội dung chưa đạt yêu cầu. Dưới góc độ xã hội học pháp luật, việc xây dựng pháp luật có nguy cơ chịu sự chi phối và lạm dụng bởi những lợi ích chính trị; vì vậy, đánh giá VBQPPL cần xét đến yêu cầu bảo đảm tinh thần dân tộc, lợi ích chung và phúc lợi quốc gia7.

Thứ ba, kết quả và tác động thực tế của văn bản. Cần đánh giá những thay đổi do VBQPPL tạo ra đối với kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật, hoạt động quản lý nhà nước, quyền con người, quyền công dân và các quan hệ xã hội có liên quan. Việc đánh giá phải nhận diện cả tác động tích cực, tiêu cực và ngoài dự kiến; đồng thời, chú ý sự khác biệt về tác động đối với từng nhóm, nhất là tác động về giới và đối với các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương.

Thứ tư, chi phí và nguồn lực thực hiện. Cần đánh giá kết quả đạt được trong tương quan với chi phí của cơ quan nhà nước, chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp và các nguồn lực về tài chính, nhân lực, thời gian. Qua đó, xác định mức độ tương xứng giữa kết quả thực hiện với nguồn lực đã sử dụng.

Thứ năm, khả năng thích ứng với sự thay đổi của thực tiễn. Cần đánh giá mức độ phù hợp của quy định pháp luật với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và trình độ phát triển trong từng giai đoạn; đồng thời, đánh giá sự tương thích với đạo đức, phong tục, tập quán, tín ngưỡng và lẽ công bằng được cộng đồng thừa nhận, với điều kiện không trái Hiến pháp, pháp luật hoặc các giá trị tiến bộ của xã hội. Trong thực tiễn, VBQPPL cần được đánh giá trong mối liên hệ với các nguồn pháp luật và quy phạm xã hội khác8. Ngoài ra, cần đánh giá tính kịp thời, khả năng dự báo và thích ứng của văn bản trước những biến động xã hội, bảo đảm sự ổn định cần thiết nhưng vẫn có khả năng điều chỉnh các vấn đề mới phát sinh.

2. Quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Nghiên cứu cho thấy, nội dung đánh giá hiệu quả VBQPPL được quy định tại Điều 65 dự thảo Luật9 có những ưu điểm và hạn chế, bất cập nhất định.

2.1. Một số ưu điểm

Quy định về đánh giá hiệu quả VBQPPL tại Điều 65 dự thảo Luật có một số ưu điểm sau:

Thứ nhất, cách thiết kế tương đối rõ ràng, xác định thời điểm, chủ thể, nội dung đánh giá và phương thức xử lý kết quả; thể hiện sự kết hợp giữa tiền kiểm và hậu kiểm trong hoạt động xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật.

Thứ hai, xác định đúng trọng tâm khi đặt tiêu chí mức độ đạt được mục tiêu chính sách, mục đích khi ban hành VBQPPL ở vị trí đầu tiên. Nếu đánh giá tác động chính sách trong giai đoạn xây dựng pháp luật nhằm dự báo ảnh hưởng và lựa chọn phương án để đạt mục tiêu, thì đánh giá sau khi thi hành phải đối chiếu mục tiêu ấy với kết quả thực tế.

Việc lấy mức độ đạt được mục tiêu chính sách làm trọng tâm giúp hoạt động đánh giá vừa xem xét tính thống nhất của VBQPPL trong hệ thống pháp luật và tình hình tổ chức thi hành, vừa xác định những kết quả thực tế mà văn bản tạo ra so với mục tiêu đã đề ra. Bởi vì, VBQPPL dù được tổ chức thi hành đầy đủ, đúng quy định vẫn có thể không đạt được mục tiêu chính sách ban đầu. Kết quả đối chiếu giúp xác định nguyên nhân của hạn chế, bất cập và làm căn cứ quyết định việc duy trì, sửa đổi, bổ sung, thay thế quy định hoặc điều chỉnh phương thức tổ chức thi hành. Qua đó, hoạt động đánh giá tạo cơ chế phản hồi từ thực tiễn cho công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

Thứ ba, đã có quy định về các biện pháp xử lý trên cơ sở kết quả đánh giá hiệu quả VBQPPL, gồm hoàn thiện nội dung văn bản, điều chỉnh biện pháp tổ chức thi hành, giải thích, hướng dẫn áp dụng và kiểm tra, rà soát, xử lý văn bản...Quy định này tạo cơ sở để chuyển hóa kết quả đánh giá thành hành động cụ thể, kịp thời khắc phục bất cập trong quy định pháp luật và quá trình tổ chức thi hành VBQPPL, qua đó, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và khả năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

2.2. Một số vấn đề đặt ra khi triển khai các quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật

Bên cạnh những điểm mới, các quy định về đánh giá hiệu quả VBQPPL trong dự thảo Luật đặt ra một số vấn đề cần được nghiên cứu, làm rõ nhằm bảo đảm tính thống nhất, khả thi và thuận lợi trong quá trình tổ chức thực hiện khi dự thảo Luật được thông qua. Trong đó, một số nội dung cần tiếp tục được nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, chưa quy định cụ thể về thời điểm thực hiện đánh giá hiệu quả VBQPPL.

Dự thảo Luật chưa xác định thời điểm tiến hành đánh giá hiệu quả VBQPPL sau khi văn bản được ban hành và tổ chức thi hành. Trong khi đó, hiệu quả của VBQPPL không phải lúc nào cũng bộc lộ đầy đủ ngay sau khi văn bản được thực hiện, bởi mục tiêu chính sách có thể được xác định trong ngắn hạn hoặc dài hạn10. Với những chính sách cần thời gian triển khai và tạo điều kiện để các chủ thể thích ứng, việc đánh giá quá sớm có thể chỉ phản ánh kết quả ban đầu, chưa đủ căn cứ kết luận về hiệu quả thực chất. Vì vậy, thiếu quy định về thời điểm đánh giá có thể gây khó khăn trong lựa chọn thời gian phù hợp để kiểm chứng tác động của văn bản và xác định mức độ hoàn thành mục tiêu chính sách.

Thứ hai, quy định về chủ thể chịu trách nhiệm đánh giá hiệu quả VBQPPL chưa đầy đủ.

Khoản 1 Điều 65 dự thảo Luật11 dẫn chiếu đến điểm b khoản 2 Điều 5812 để xác định chủ thể thực hiện đánh giá hiệu quả VBQPPL. Theo đó, điểm b khoản 2 Điều 58 quy định các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tổ chức thi hành và cung cấp thông tin, kết quả tổ chức thi hành VBQPPL trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tuy nhiên, quy định này chủ yếu hướng đến các chủ thể tổ chức thi hành, chưa làm rõ trách nhiệm tham gia đánh giá của cơ quan, tổ chức chủ trì lập đề nghị và soạn thảo văn bản. Trong khi đó, các chủ thể này trực tiếp xây dựng phương án chính sách, xác định mục tiêu và dự kiến tác động của văn bản, nên có cơ sở quan trọng để so sánh, đánh giá những dự kiến ban đầu với kết quả thực tế sau khi thi hành. Chẳng hạn, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chủ trì xây dựng dự án Luật Công đoàn nhưng không phải cơ quan trực tiếp tổ chức thi hành luật (theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 58 dự thảo Luật, chỉ Chính phủ mới có trách nhiệm tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh, lệnh). Nếu không quy định rõ trách nhiệm tham gia đánh giá của chủ thể chủ trì xây dựng chính sách, quá trình đánh giá có thể chưa khai thác đầy đủ thông tin từ giai đoạn xây dựng văn bản, gây khó khăn cho việc xác định mức độ đạt mục tiêu và nguyên nhân của những tác động phát sinh trong thực tiễn.

Thứ ba, dự thảo Luật chưa quy định rõ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng đã được thể chế hóa trong VBQPPL.

Việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng cần gắn với tổ chức thi hành và kiểm chứng kết quả trong thực tiễn. Tuy nhiên, các tiêu chí của dự thảo Luật chưa làm rõ mức độ triển khai những định hướng đã được thể chế hóa, kết quả thực hiện mục tiêu và nguyên nhân của những nội dung chưa đạt yêu cầu. Vì vậy, hoạt động đánh giá có nguy cơ chưa phản ánh đầy đủ mối liên hệ giữa định hướng chính sách, quy định pháp luật và kết quả thực tế, làm hạn chế khả năng nhận diện vấn đề cần điều chỉnh trong tổ chức thi hành.

Thứ tư, nội dung đánh giá hiệu quả VBQPPL chưa quy định tác động về quyền con người và vấn đề giới.

Điểm b khoản 1 Điều 65 dự thảo Luật đang “bỏ ngỏ” nội dung tác động về quyền con người, quyền công dân. Việc thiếu nội dung này có thể làm cho quá trình đánh giá tập trung chủ yếu vào hiệu quả quản lý nhà nước và các mục tiêu phát triển, chưa chú trọng đúng mức đến những thay đổi trong khả năng thụ hưởng và thực hiện quyền trên thực tế. Trong khi đó, hiệu quả của VBQPPL cần được xem xét cả kết quả đạt được và tác động đối với các chủ thể chịu sự điều chỉnh, nhất là việc thực hiện quy định có thể ảnh hưởng khác nhau đến quyền, lợi ích hợp pháp của từng nhóm đối tượng.

Dự thảo Luật chưa quy định rõ việc đánh giá tác động về giới. Ở giai đoạn xây dựng chính sách, tác động về giới được xem xét theo yêu cầu “nếu có”, nên chưa được nhận diện đầy đủ. Trên thực tế, ngay cả những quy định pháp luật không đặt ra sự phân biệt trực tiếp về giới cũng có thể tạo ra những tác động khác nhau đối với các nhóm giới. Sự khác biệt này xuất phát từ những yếu tố như thu nhập, cơ hội việc làm, quyền sở hữu tài sản, khả năng tiếp cận dịch vụ công và trách nhiệm chăm sóc gia đình, qua đó, ảnh hưởng đến khả năng thực hiện và thụ hưởng các quyền, lợi ích theo quy định của pháp luật. Vì vậy, đánh giá sau ban hành VBQPPL có thể nhận diện những tác động về giới chưa được dự báo hoặc đo lường đầy đủ ở giai đoạn xây dựng chính sách13. Việc thiếu nội dung đánh giá này là hạn chế cần xem xét khắc phục nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.

Thứ năm, chưa quy định về hình thức báo cáo và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá hiệu quả VBQPPL.

Dự thảo Luật xác định chủ thể có trách nhiệm đánh giá và việc chuyển kết quả đến cơ quan, người có thẩm quyền, nhưng chưa quy định cụ thể hình thức thể hiện, trình tự, thời hạn báo cáo, cũng như trách nhiệm xem xét, phản hồi và sử dụng kết quả. Trong thực tiễn, các cơ quan thường lập báo cáo tổng kết thi hành VBQPPL nhằm phản ánh tình hình thực hiện, mức độ tuân thủ, khó khăn và vướng mắc trong quá trình áp dụng, qua đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định. Tuy nhiên, cần phân biệt tổng kết thi hành với đánh giá hiệu quả VBQPPL vì: (i) hoạt động tổng kết thi hành VBQPPL chủ yếu đánh giá việc tổ chức thực hiện; (ii) hoạt động đánh giá hiệu quả VBQPPL hướng đến mức độ đạt mục tiêu, kết quả và tác động thực tế trên cơ sở tiêu chí, chỉ số và dữ liệu phù hợp. Nghiên cứu cho rằng, do khác nhau về mục đích và phạm vi, báo cáo đánh giá hiệu quả VBQPPL không thể đồng nhất với báo cáo tổng kết thi hành VBQPPL hoặc chỉ được coi là một nội dung của báo cáo này.

Thứ sáu, chưa thống nhất về cách gọi hoạt động đánh giá giữa Điều 65 và điểm e khoản 1 Điều 58 dự thảo Luật. Điều 65 dự thảo Luật sử dụng thuật ngữ “Đánh giá hiệu quả thi hành và phản ứng chính sách trong tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật”; điểm e khoản 1 Điều 58 dự thảo Luật chỉ quy định “đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật”. Sự khác biệt này có thể dẫn đến cách hiểu không thống nhất về phạm vi và mục đích của hoạt động đánh giá trong tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Hơn nữa, Điều 65 dự thảo Luật bổ sung nội dung “phản ứng chính sách” nhưng chưa giải thích thuật ngữ này, gây khó khăn trong quá trình áp dụng vì đây là thuật ngữ mới trong khoa học pháp lý ở Việt Nam, có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau14.

Thứ bảy, điểm c khoản 1 Điều 65 dự thảo Luật tách tính khả thi và mức độ phù hợp với thực tiễn thành hai yếu tố khác nhau dù nội hàm có phần giao thoa, dễ dẫn đến chồng lấn khi xây dựng phương pháp đánh giá. Bởi lẽ, tính khả thi phản ánh khả năng thực hiện quy định trong những điều kiện thực tế nhất định, còn mức độ phù hợp với thực tiễn xem xét sự tương thích giữa quy định pháp luật với điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý. Nếu không xác định rõ nội hàm và chỉ báo đánh giá riêng cho từng yếu tố, việc đánh giá có thể trùng lặp về nội dung, làm giảm tính nhất quán và khả năng đo lường của kết quả.

3. Một số giải pháp hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Trên cơ sở phân tích, đánh giá những vấn đề đặt ra đối với việc triển khai các quy định về đánh giá hiệu quả VBQPPL trong dự thảo Luật, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm tính thống nhất, khả thi và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện các quy định này sau khi dự thảo Luật được thông qua, cụ thể:

Thứ nhất, bổ sung quy định về thời điểm và chu kỳ đánh giá hiệu quả VBQPPL.

Dự thảo Luật cần bổ sung quy định về thời điểm đánh giá hiệu quả VBQPPL theo hướng linh hoạt, phù hợp với mục tiêu, phạm vi điều chỉnh và chu kỳ thực hiện của từng chính sách. Dự thảo Luật cần kết hợp việc theo dõi, cập nhật thông tin hằng năm với đánh giá tại các mốc phù hợp. Đối với mục tiêu ngắn hạn, có thể đánh giá sau một khoảng thời gian nhất định kể từ khi văn bản có hiệu lực; đối với mục tiêu trung hạn hoặc dài hạn, cần đánh giá ở các mốc trung gian và khi kết thúc chu kỳ chính sách. Chẳng hạn, nếu mục tiêu chính sách được xác định cho giai đoạn 2025 - 2030 trong báo cáo đánh giá tác động, việc đánh giá hiệu quả VBQPPL cần gắn với giai đoạn này.

Thứ hai, mở rộng sự tham gia và thiết lập cơ chế phối hợp giữa cơ quan tổ chức thi hành, cơ quan xây dựng chính sách, cơ quan soạn thảo và các chủ thể có liên quan trong đánh giá hiệu quả VBQPPL.

Dự thảo Luật cần bổ sung vào khoản 1 Điều 65 cơ chế phối hợp giữa cơ quan tổ chức thi hành, cơ quan xây dựng chính sách, cơ quan soạn thảo và các cơ quan có liên quan trong đánh giá hiệu quả VBQPPL. Dự thảo Luật cần xác định rõ trách nhiệm, phạm vi và phương thức tham gia của từng chủ thể, bảo đảm kết quả đánh giá phản ánh mối liên hệ giữa xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành VBQPPL. Cơ quan chủ trì đánh giá xây dựng kế hoạch, yêu cầu cung cấp thông tin, tổng hợp và xử lý kết quả; cơ quan tổ chức thi hành cung cấp dữ liệu về quá trình thực hiện và tác động của văn bản; cơ quan xây dựng chính sách, cơ quan soạn thảo cung cấp hồ sơ về mục tiêu, phương án, tác động dự kiến và quá trình xây dựng văn bản. Các cơ quan khác phối hợp cung cấp thông tin, xác minh và góp ý trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ. Cơ chế phối hợp cần được duy trì thường xuyên thông qua chia sẻ dữ liệu, lấy ý kiến, họp liên ngành, khảo sát thực tiễn và tham vấn đối tượng chịu tác động15. Với VBQPPL có phạm vi điều chỉnh rộng hoặc tác động liên ngành, có thể thành lập tổ công tác hoặc nhóm đánh giá liên ngành để bảo đảm sự tham gia thực chất của các cơ quan liên quan.

Thứ ba, bổ sung tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng đã được thể chế hóa trong VBQPPL.

Dự thảo Luật cần so sánh, đánh giá mục tiêu, định hướng của các chủ trương, nghị quyết có liên quan với kết quả tổ chức thi hành văn bản, qua đó, xác định mức độ hoàn thành mục tiêu, nội dung chưa đạt và nguyên nhân. Kết quả đánh giá là căn cứ thực tiễn để nhận diện những quy định hoặc khâu tổ chức thi hành cần điều chỉnh, nâng cao hiệu quả thực hiện các định hướng đã được thể chế hóa.

Thứ tư, bổ sung đánh giá tác động về quyền con người và vấn đề giới là tiêu chí bắt buộc trong đánh giá hiệu quả VBQPPL.

Để bảo đảm tính toàn diện của hoạt động đánh giá hiệu quả VBQPPL, cần bổ sung tiêu chí đánh giá tác động về quyền con người và vấn đề giới tại Điều 65 dự thảo Luật. Trong nghiên cứu quốc tế, các chỉ số nhân quyền (human rights indicators - HRI) được sử dụng để đo lường và giám sát mức độ thực hiện các chuẩn mực về quyền con người trên cơ sở các điều ước quốc tế. Trong xây dựng và thi hành pháp luật, HRI cung cấp dữ liệu để so sánh, đánh giá việc nội luật hóa điều ước quốc tế, nhận diện khoảng trống pháp lý và dự báo nguy cơ tác động bất lợi đến quyền con người, nhất là quyền của các nhóm yếu thế16. Ở Việt Nam, chỉ số HRI còn tương đối mới và chưa được đề cập rộng rãi17. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả của VBQPPL đối với việc bảo đảm các quyền con người góp phần thúc đẩy phương pháp đánh giá dựa trên bằng chứng, tạo cơ sở thu thập, cập nhật và sử dụng dữ liệu phục vụ việc hoàn thiện chính sách, pháp luật. Đồng thời, việc đánh giá cần so sánh mục tiêu của văn bản với kết quả thực tế đối với từng nhóm giới, tập trung vào mức độ tiếp cận và thụ hưởng chính sách; khả năng tham gia thực hiện; sự phân bổ chi phí, lợi ích, cơ hội và tác động đối với việc làm, thu nhập, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, trách nhiệm chăm sóc gia đình, nguy cơ bạo lực trên cơ sở giới. Đối với các lĩnh vực có nguy cơ tác động rõ rệt, cần sử dụng dữ liệu phân tách theo giới, độ tuổi, khu vực cư trú, tình trạng khuyết tật, dân tộc và các yếu tố liên quan để phản ánh đúng thực tiễn18. Tuy nhiên, nếu quy định đánh giá tác động về giới là tiêu chí bắt buộc, cần tính đến hạn chế về dữ liệu phân tách, năng lực phân tích, thời gian và chi phí thực hiện. Vì vậy, dự thảo Luật nên kết hợp yêu cầu bắt buộc về nguyên tắc với sự linh hoạt về mức độ và phương pháp đánh giá theo hướng: mọi VBQPPL được sàng lọc sơ bộ về tác động giới; văn bản có tác động đáng kể hoặc trực tiếp đến quyền, lợi ích và cơ hội của các nhóm về giới cần được đánh giá chuyên sâu bằng chỉ số, dữ liệu và phương pháp phù hợp.

Thứ năm, quy định rõ hình thức báo cáo và tổng hợp kết quả đánh giá hiệu quả VBQPPL.

Dự thảo Luật cần quy định hình thức, nội dung, thời điểm và trách nhiệm tổng hợp kết quả đánh giá để kết quả được sử dụng trong sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ VBQPPL theo hai hình thức: (i) đối với VBQPPL có phạm vi điều chỉnh rộng, tác động lớn như luật, pháp lệnh, nghị định, có thể lồng ghép kết quả đánh giá vào báo cáo tổ chức thi hành pháp luật nhằm giảm đầu mối báo cáo, tăng sự liên thông giữa theo dõi thi hành và đánh giá hiệu quả văn bản; (ii) đối với VBQPPL có mục tiêu, thời hạn hoặc yêu cầu đánh giá riêng, cần lập báo cáo chuyên đề theo các giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Kết quả đánh giá cần được công bố rộng rãi cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân, đồng thời, được sử dụng làm nguồn thông tin chính thức phục vụ việc xem xét, xử lý và hoàn thiện VBQPPL.

Thứ sáu, hoàn thiện một số kỹ thuật trong thiết kế quy định đánh giá hiệu quả VBQPPL.

Cần hoàn thiện kỹ thuật theo hướng thống nhất thuật ngữ đánh giá hiệu quả VBQPPL giữa Điều 65 và Điều 58 dự thảo Luật, đồng thời, cân nhắc việc sử dụng thuật ngữ “phản ứng chính sách” trong tiêu đề Điều 65 để xác định thống nhất phạm vi, nội dung điều luật và tránh những cách hiểu khác nhau. Bên cạnh đó, cần phân định rõ nội hàm và chỉ báo đánh giá tính khả thi, mức độ phù hợp với thực tiễn nhằm hạn chế sự giao thoa, trùng lặp khi áp dụng, bảo đảm tính nhất quán và khả năng kiểm chứng của kết quả đánh giá.

Kết luận

Việc bổ sung quy định về đánh giá hiệu quả VBQPPL trong dự thảo Luật góp phần hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt động xem xét kết quả và tác động thực tế của văn bản sau khi tổ chức thi hành, qua đó, gắn kết quá trình xây dựng, thi hành và hoàn thiện pháp luật. Tuy nhiên, Điều 65 dự thảo Luật cần hoàn thiện về tiêu chí, thời điểm, chủ thể, phương thức đánh giá và sử dụng kết quả nhằm bảo đảm tính rõ ràng, khả thi. Việc hoàn thiện các nội dung này góp phần nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

ThS. Trần Thế Nghĩa

Khoa Pháp luật Hành chính - Nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội

Ảnh: Internet

[1]. Nghiên cứu sử dụng dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật ngày 28/9/2026 kèm theo Tờ trình số 755/TTr-CP của Chính phủ ngày 29/9/2026 của Chính phủ về dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật. Nguồn: https://danchuphapluat.vn/gop-y-ho-so-du-an-luat-ve-van-ban-quy-pham-phap-luat-10160.html, truy cập ngày 01/10/2026.

[2]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW).

[3]. Nguyễn Văn Phúc (2021), Phân tích và đánh giá chính sách: Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.60-68.

[4]. Thuật ngữ “hiệu quả” được dịch từ “efficiency” trong tiếng Anh nhưng nhiều tác giả cũng đã dịch thành “tính hiệu lực” (với cùng nghĩa và cách hiểu như trên của chính sách) (Nguyễn Thị Ngọc Hoa (2018), Mối tương quan trong đánh giá chính sách giữa Việt Nam và Nhật Bản, Học viện Báo chí và Tuyên truyền).

[5]. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “đánh giá hiệu quả của chính sách” cũng được sử dụng với nội hàm tương đồng với đánh giá hiệu quả VBQPPL khi cả hai đều hướng đến việc xem xét những kết quả mà các quy định hoặc chính sách tạo ra trong thực tiễn, xem xét tương quan giữa kết quả đạt được từ việc tổ chức thực hiện chính sách so với những nguồn lực hoặc tài nguyên bỏ ra để tạo thành những kết quả đó (Nguyễn Văn Phúc (2021), tlđd, Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.165).

[6]. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Xây dựng văn bản pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.22.

[7]. Erlan Wijamoko, Armaidy Armawi, Teuku Faisal Fathani (2023), Legal effectiveness in promoting development policies: A case study of North Aceh Indonesia, Heliyon 9 (2023), p.3.

[8]. Lê Thị Phương Nga (2025), Đa dạng hóa nguồn pháp luật và một số vấn đề về nguyên tắc áp dụng, trật tự thứ bậc của các loại nguồn pháp luật, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 04/2025.

[9]. Điều 65: Đánh giá hiệu quả thi hành và phản ứng chính sách trong tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

[10]. Đoàn Thị Tố Uyên, Lê Duy Bình (2017), Phân tích chính sách và đánh giá tác động của chính sách trong xây dựng pháp luật: Tài liệu đào tạo Thạc sĩ, OSAID - Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.9.

[11]. Điều 65: Đánh giá hiệu quả thi hành và phản ứng chính sách trong tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

[12]. Điều 58: Nội dung và trách nhiệm tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

[13]. Lê Thị Hồng Hạnh (2024), Đánh giá tác động về giới của chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.58.

[14]. Thuật ngữ “phản ứng chính sách” có thể được hiểu theo hai hướng: (i) Khả năng của Nhà nước trong việc nhận diện, dự báo và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh; hoặc (ii) Mức độ điều chỉnh chính sách để giải quyết những bất cập của pháp luật và đáp ứng yêu cầu mới từ thực tiễn.

[15]. Lê Văn Hòa (2020), Sự tham gia của các bên liên quan trong hoạch định chính sách công, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 11/2020.

[16]. Gauthier de Beco (2013), Human Rights Indicators: From Theoretical Debate to Practical Application, Journal of Human Rights Practice, Volume 5, Issue 2, July 2013, p.380-397.

[17]. Phạm Thùy Linh (2021), Sử dụng các tiêu chí về quyền con người trong đánh giá việc thực hiện Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị tại Việt Nam, https://danchuphapluat.vn/su-dung-cac-tieu-chi-ve-quyen-con-nguoi-trong-danh-gia-viec-thuc-hien-cong-uoc-quoc-te-ve-cac-quyen-dan-su-va-chinh-tri-tai-viet-nam-2161.html, truy cập ngày 12/9/2026.

[18]. Vũ Thị Mai Lương (2025), Bình đẳng giới trong hoạch định chính sách phát triển bền vững ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Giáo dục lý luận, Số 392 (8/2025).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đoàn Thị Tố Uyên, Lê Duy Bình (2017), Phân tích chính sách và đánh giá tác động của chính sách trong xây dựng pháp luật: Tài liệu đào tạo Thạc sĩ, OSAID - Trường Đại học Luật Hà Nội.

2. Erlan Wijamoko, Armaidy Armawi, Teuku Faisal Fathani (2023), Legal effectiveness in promoting development policies: A case study of North Aceh Indonesia, Heliyon 9 (2023).

3. Gauthier de Beco (2013), Human Rights Indicators: From Theoretical Debate to Practical Application, Journal of Human Rights Practice, Volume 5, Issue 2, July 2013.

4. Lê Thị Hồng Hạnh (2024), Đánh giá tác động về giới của chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà Nội.

5. Lê Thị Phương Nga (2025), Đa dạng hóa nguồn pháp luật và một số vấn đề về nguyên tắc áp dụng, trật tự thứ bậc của các loại nguồn pháp luật, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 04/2025.

6. Lê Văn Hòa (2020), Sự tham gia của các bên liên quan trong hoạch định chính sách công, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 11/2020.

7. Nguyễn Văn Phúc (2021), Phân tích và đánh giá chính sách, Sách chuyên khảo, Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội.

8. Phạm Thùy Linh (2021), Sử dụng các tiêu chí về quyền con người trong đánh giá việc thực hiện Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị tại Việt Nam, https://danchuphapluat.vn/su-dung-cac-tieu-chi-ve-quyen-con-nguoi-trong-danh-gia-viec-thuc-hien-cong-uoc-quoc-te-ve-cac-quyen-dan-su-va-chinh-tri-tai-viet- nam-2161.html, truy cập ngày 12/9/2026.

9. Trường Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình Xây dựng văn bản pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

10. Vũ Thị Mai Lương (2025), Bình đẳng giới trong hoạch định chính sách phát triển bền vững ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Giáo dục lý luận, Số 392 (8/2025).

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (462) - tháng 10/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, việc phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Sau gần 10 năm thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2024 (Luật Đấu giá tài sản năm 2016) cho thấy một số quy định về đấu giá tài sản tự nguyện không phù hợp với thực tế, vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân là cấp thiết. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện ở Việt Nam, tham khảo pháp luật một số quốc gia về đấu giá tự nguyện, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: