Thứ ba 31/03/2026 02:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Tóm tắt: Trách nhiệm giải trình giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch của quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý giáo dục còn tồn tại một số hạn chế về chất lượng, phân bổ và sử dụng nguồn lực, đội ngũ giáo viên cũng như nguy cơ phát sinh tiêu cực, cho thấy trách nhiệm giải trình chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Bài viết phân tích nhu cầu thực hiện trách nhiệm giải trình, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong thời gian tới.

Abstract: Accountability plays a crucial role in ensuring the effectiveness, efficiency, and transparency of state management of education in Vietnam in the context of fundamental and comprehensive educational and training reforms. Practical experience shows that, alongside achievements, education management still faces some limitations in quality, resource allocation and utilization, the teaching staff, and the risk of negative consequences, indicating that accountability has not been fully and effectively implemented. This article analyzes the need for accountability, assesses the current state of legislation and its implementation, and proposes several solutions to improve legislation and enhance the effectiveness of law enforcement, thereby improving the efficiency of state management of education in Vietnam in the future.

Đặt vấn đề

Trách nhiệm giải trình trong lĩnh vực giáo dục được hiểu là nghĩa vụ của các chủ thể quản lý và cung ứng dịch vụ giáo dục trong báo cáo, giải thích và chịu trách nhiệm về các quyết định, việc sử dụng nguồn lực và kết quả đạt được trước Nhà nước và xã hội. Trong bối cảnh cải cách quản trị giáo dục hiện nay, khi phân cấp quản lý được mở rộng và ngân sách được phân bổ dựa trên hiệu quả của các chương trình, dự án, trách nhiệm giải trình trở thành tiêu chí trung tâm để đánh giá năng lực quản trị. Thực tiễn cho thấy, những hạn chế về chất lượng giáo dục, hiệu quả sử dụng nguồn lực công và bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ giáo dục bộc lộ rõ nét tại nhiều địa phương, nhất là những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, dân cư phân tán, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao và phạm vi quản lý rộng. Trong không gian quản lý như vậy, quyết định hành chính có tác động trực tiếp và sâu, rộng đến cơ hội học tập của người dân, làm cho yêu cầu về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với các nguồn lực đầu tư, quy trình thực thi chính sách và kết quả đạt được trở nên cấp thiết, nhằm bảo đảm mục tiêu công bằng và phát triển bền vững giáo dục ở Việt Nam.

1. Nhu cầu thực hiện trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Thực trạng giáo dục ở Việt Nam hiện nay đang đặt ra yêu cầu cấp bách về việc rà soát và kiện toàn trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước. Việc triển khai trách nhiệm giải trình cần bảo đảm tính đầy đủ, thực chất, tương xứng với các mục tiêu chiến lược về chất lượng, công bằng và hiệu quả nguồn lực.

Thứ nhất, về chất lượng giáo dục và tính công bằng trong tiếp cận dịch vụ. Mặc dù, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách ưu đãi, nhưng chất lượng giáo dục ở nhiều địa phương, vùng biên giới, đặc biệt, đối với học sinh dân tộc thiểu số, vẫn tồn tại khoảng cách lớn so với mặt bằng chung. Tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số học đúng độ tuổi ở bậc trung học phổ thông chỉ đạt khoảng 32%; đặc biệt, ở một số dân tộc như Brâu, Mạ, Chứt, Ơ Đu, con số này chỉ dưới 60%, thậm chí có nhóm dưới 10%. Khoảng 20,8% người dân tộc thiểu số chưa thông thạo tiếng Việt, một số nhóm có trên 50% không biết chữ[1]. Bên cạnh đó, những rào cản về địa hình, thời tiết và thiếu môi trường giao tiếp tiếng Việt làm cho tỷ lệ chuyên cần thấp, tạo áp lực lớn lên đội ngũ giáo viên[2].

Nhiều nghiên cứu cho thấy, tồn tại các dạng bất bình đẳng và phân biệt đối xử trong giáo dục. Định kiến về năng lực của học sinh dân tộc thiểu số[3] khiến kỳ vọng dạy học bị hạ thấp, nội dung giảng dạy bị giản lược[4], trong khi việc áp dụng chương trình thống nhất và tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy chính tạo bất lợi cho học sinh không sử dụng tiếng Việt như tiếng mẹ đẻ[5]. Giáo dục song ngữ và đa văn hóa còn hạn chế, làm gia tăng nguy cơ bỏ học[6] và “che giấu” các bất công[7] chưa được phản ánh đầy đủ qua số liệu. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải gắn quản lý giáo dục vùng biên giới với trách nhiệm giải trình dựa trên kết quả và minh chứng thực tiễn.

Thứ hai, về chi tiêu ngân sách và thực hiện chính sách học phí. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (Nghị quyết số 29-NQ/TW) xác định Nhà nước dành tối thiểu 20% tổng chi ngân sách cho giáo dục, ưu tiên vùng khó khăn và biên giới, song đến năm 2024, sau 05 năm thi hành Luật Giáo dục năm 2019, tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo mới lần đầu tiên vượt qua được mức tối thiểu 20%, nhưng còn rất khiêm tốn[8]. Tại một số địa phương, dù đã huy động nhiều nguồn lực, việc sử dụng ngân sách vẫn bộc lộ hạn chế: giải ngân chậm, triển khai chồng chéo các chương trình mục tiêu; nguồn chi thường xuyên chủ yếu dành cho tiền lương, trong khi chi cho hoạt động chuyên môn nhiều nơi dưới 15%; cơ sở vật chất xuống cấp, trang thiết bị thiếu đồng bộ[9]. Bên cạnh đó, dù thực hiện miễn học phí từ năm học 2025 - 2026, thực tiễn quản lý tài chính trong lĩnh vực giáo dục cho thấy còn phát sinh nhiều khoản thu khác như phí cơ sở vật chất, nội trú, học phẩm và các khoản “đóng góp tự nguyện”[10], tạo thêm gánh nặng cho các hộ gia đình khó khăn. Tình trạng phân bổ dàn trải, thiếu công khai dữ liệu ngân sách và giám sát chưa hiệu quả đòi hỏi phải tăng cường trách nhiệm giải trình về tài chính nhằm bảo đảm chính sách giáo dục ở vùng biên giới được thực thi đúng mục tiêu, công bằng và hiệu quả.

Thứ ba, về biến động nguồn nhân lực và áp lực phân bổ giáo viên. Thực tế cho thấy, đội ngũ giáo viên tại một số địa phương, đặc biệt, các địa bàn miền núi, vùng biên giới đất liền, đang có sự sụt giảm đáng kể. Giai đoạn năm 2016 - 2021, số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy toàn quốc giảm hơn 45.000 người; riêng vùng trung du và miền núi phía Bắc giảm 10.576 giáo viên, Tây Nguyên giảm 5.941 giáo viên, chủ yếu ở bậc tiểu học và trung học cơ sở[11]. Trong khi đó, biến động dân số làm gia tăng áp lực phân bổ nguồn lực: đến năm 2030, số trẻ mầm non giảm khoảng 1,3 triệu học sinh, tiểu học giảm 01 triệu học sinh, nhưng trung học phổ thông tăng gần 01 triệu học sinh, đòi hỏi thêm khoảng 60.000 lớp học và 220.000 giáo viên[12]. Tình trạng thiếu giáo viên, giáo viên phải kiêm nhiệm và dạy tăng tiết kéo dài ở nhiều địa bàn[13] cho thấy những hạn chế trong công tác dự báo và trách nhiệm giải trình khi thực hiện chính sách tinh giản biên chế.

Thứ tư, về vấn đề tham nhũng. Tham nhũng trong giáo dục tại Việt Nam bộc lộ dưới nhiều hình thức như: xây dựng cơ sở vật chất, in ấn học liệu, thu phụ phí trái quy định, lạm dụng chính sách hỗ trợ và mua bán danh hiệu[14]. Thực tế cho thấy, đây không còn là hiện tượng cá biệt mà là rủi ro mang tính hệ thống, đặc biệt, tại vùng sâu, vùng xa và biên giới. Các vụ gian lận thi cử năm 2018 ở tỉnh Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ), tỉnh Sơn La, tỉnh Hà Giang (nay là tỉnh Tuyên Quang) và sai phạm đấu thầu thiết bị giáo dục tại tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Điện Biên năm 2021[15] phản ánh sự “lỏng lẻo” trong kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Việc thiếu minh bạch trong phân bổ, sử dụng và giám sát đầu tư đã tạo khoảng trống trách nhiệm giải trình, làm gia tăng nguy cơ tham nhũng và xói mòn niềm tin xã hội vào công bằng giáo dục.

2. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục tại ở Việt Nam

2.1. Thực trạng quy định pháp luật về trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục

Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) xác lập rõ các chủ thể chịu trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục. Theo các Điều 94 và 95 Hiến pháp năm 2013, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp và chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Nhân dân về việc tổ chức thi hành Hiến pháp, luật và chính sách giáo dục, bao gồm cả ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn như khu vực biên giới đất liền. Đồng thời, các Điều 77, 98 và 99 Hiến pháp năm 2013 khẳng định nguyên tắc trách nhiệm giải trình của cơ quan, cá nhân công quyền. Ở cấp địa phương, Điều 114 Hiến pháp năm 2013 quy định Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính cấp trên, qua đó, tạo cơ sở xây dựng các đạo luật xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm giải trình trong quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương.

Về hệ thống luật chuyên ngành, Luật Giáo dục năm 2019, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Giáo dục năm 2019) cùng các luật liên quan tạo nền tảng định hình trách nhiệm giải trình trong quản lý giáo dục thông qua việc phân định rõ thẩm quyền giữa các chủ thể. Điều 105 Luật Giáo dục năm 2019 quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục; Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý ngành; Ủy ban nhân dân các cấp quản lý giáo dục trên địa bàn. Sự phân định này thiết lập các “tầng nấc” trách nhiệm giải trình, theo đó, mỗi chủ thể phải giải trình về quyết định, quá trình thực thi chính sách và kết quả đạt được trong phạm vi thẩm quyền. Yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt trong quản lý giáo dục, bởi đây là lĩnh vực gắn trực tiếp với việc bảo đảm quyền học tập của công dân, tác động đến quốc phòng, an ninh và sự ổn định xã hội.

Bên cạnh đó, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đã xác lập rõ trách nhiệm giải trình của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp đối với lĩnh vực được phân công phụ trách. Trong quản lý giáo dục vùng biên giới đất liền, trách nhiệm giải trình không chỉ thuộc về cá nhân người đứng đầu, mà còn gắn với trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước với tư cách tập thể. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ủy ban nhân dân các cấp đều có nghĩa vụ giải trình tương ứng về việc ban hành, tổ chức thực hiện và kết quả thực thi các chính sách giáo dục trên địa bàn quản lý; trong đó, người đứng đầu các cơ quan này chịu trách nhiệm giải trình trực tiếp về lĩnh vực, nhiệm vụ được phân công.

Ngoài ra, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã tạo cơ sở pháp lý trực tiếp cho người dân, tổ chức xã hội ở khu vực biên giới yêu cầu cơ quan quản lý giáo dục thực hiện giải trình về các quyết định, hành vi quản lý có tác động đến quyền học tập và lợi ích hợp pháp của họ. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã đặt trách nhiệm giải trình như một phần quan trọng trong hệ thống các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải giải trình về quyết định, hành vi thực hiện nhiệm vụ, công vụ khi có yêu cầu; đồng thời, xác lập trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong lĩnh vực mình quản lý, trong đó có quản lý giáo dục. Các quy định này có ý nghĩa đặc biệt trong quản lý giáo dục, bởi hoạt động phân bổ nguồn lực, đầu tư cơ sở vật chất và triển khai chính sách hỗ trợ người học luôn tiềm ẩn nguy cơ thiếu minh bạch nếu không được đặt dưới cơ chế giải trình chặt chẽ và hiệu quả.

Trách nhiệm giải trình được cấu thành bởi hai thành tố cơ bản là nghĩa vụ giải trình và nghĩa vụ chịu trách nhiệm. Trong đó, nghĩa vụ chịu trách nhiệm chủ yếu được thể hiện gián tiếp thông qua các quy định chung về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm của người đứng đầu, chưa được gắn kết trực tiếp với nghĩa vụ giải trình. Bên cạnh đó, trách nhiệm giải trình hiện chủ yếu được thiết kế theo hướng bị động, phát sinh khi có yêu cầu[16], trong khi yêu cầu về trách nhiệm giải trình chủ động của các chủ thể quản lý giáo dục chưa được thể hiện rõ.

Có thể thấy, pháp luật Việt Nam đã hình thành khung pháp lý và quy định tương đối đầy đủ cho việc thực hiện trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục. Các quy định hiện hành về trách nhiệm giải trình được thiết kế theo hướng phân tán trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, song, có sự liên kết nhất định theo trật tự quản lý và phân cấp thẩm quyền. Tuy nhiên, hiệu quả và mức độ đáp ứng của các quy định đó chỉ có thể được nhận diện đầy đủ thông qua đánh giá thực tiễn triển khai trong các điều kiện quản lý đa dạng và phức tạp của hệ thống giáo dục ở Việt Nam.

2.2. Thực tiễn thực hiện trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục

Trong thời gian qua, việc thực hiện trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, thể hiện ở việc tăng cường minh bạch, nâng cao hiệu quả quản trị và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho các nhóm yếu thế. Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, kết quả đầu tư cơ sở vật chất cho các trường vùng khó khăn được công khai, tạo điều kiện thực hiện giám sát xã hội và cải thiện chất lượng giáo dục[17]. Cùng với đó, chuyển đổi số và triển khai Đề án 06[18] đã thúc đẩy minh bạch thông tin, với hơn 18 triệu hồ sơ học sinh được số hóa, gần 98% dữ liệu kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hỗ trợ hiệu quả việc thực hiện chính sách đối với học sinh dân tộc thiểu số và vùng đặc biệt khó khăn [19]. Trách nhiệm giải trình còn được gắn với mục tiêu mở rộng tiếp cận giáo dục thông qua việc công khai quy hoạch, nguồn lực và lộ trình đầu tư xây dựng 248 trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp, cùng sự hình thành các kênh phản hồi trực tuyến, tiếp nhận ý kiến phụ huynh - học sinh và công khai kết quả xử lý vi phạm góp phần tăng tính phản hồi và củng cố trách nhiệm giải trình của ngành giáo dục tại các địa bàn biên giới[20].

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện trách nhiệm giải trình trong quản lý giáo dục của Việt Nam còn một số hạn chế cần khắc phục.

Thứ nhất, tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý giáo dục còn hạn chế, đặc biệt trong phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính. Mặc dù, 20% ngân sách nhà nước đã dành cho giáo dục, song, việc phân bổ và sử dụng tổng thể nguồn ngân sách này chưa được giải trình cụ thể, công khai và dễ tiếp cận, nhất là ở các địa bàn biên giới. Trên thực tế, chủ trương “giáo dục là quốc sách hàng đầu” vẫn chủ yếu thể hiện ở khẩu hiệu và nghị quyết[21], chưa được lượng hóa rõ ràng và chưa trở thành hoạt động quản trị thường xuyên của toàn bộ hệ thống, làm suy giảm hiệu quả giám sát xã hội và niềm tin của người dân.

Thứ hai, việc thực hiện trách nhiệm giải trình trong quản lý giáo dục còn hạn chế do thiếu cơ chế gắn giải trình với trách nhiệm pháp lý cụ thể. Các quy định hiện hành về trách nhiệm giải trình còn thiên về yêu cầu giải trình thủ tục[22], trong khi việc gắn trách nhiệm với chế tài xử lý đối với các hành vi quản lý yếu kém, chậm trễ hoặc sai phạm chưa đủ nghiêm và thiếu tính răn đe. Điều này dẫn đến tình trạng trách nhiệm bị phân tán, việc giải trình mang tính hình thức, chưa tạo áp lực thực sự đối với người đứng đầu và các chủ thể quản lý giáo dục.

Thứ ba, trách nhiệm giải trình trong quản lý giáo dục ở Việt Nam còn hạn chế do nhiều nội dung giải trình mang tính chuyên môn cao, liên quan đến chương trình, chuẩn chất lượng, phân bổ nguồn lực và chính sách dân tộc. Trong khi đó, người dân và phụ huynh tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn còn hạn chế về khả năng tiếp cận thông tin và nhận thức pháp lý, nên việc theo dõi, giám sát chưa hiệu quả. Phản ứng từ cộng đồng đối với các vấn đề giáo dục tại một số địa phương còn mờ nhạt, thường được coi là chuyện riêng của từng gia đình[23], làm giảm hiệu quả thực chất của trách nhiệm giải trình.

Thứ tư, quy trình thực hiện trách nhiệm giải trình trong quản lý giáo dục còn mang tính hình thức, chưa khuyến khích sự tham gia rộng rãi của các chủ thể ngoài Nhà nước. Hoạt động giải trình hiện nay chủ yếu được thực hiện theo yêu cầu và khuôn mẫu thủ tục hành chính, thiên về báo cáo, tổng hợp kết quả, trong khi các hình thức đối thoại, tiếp nhận phản hồi và phản biện xã hội còn rất mờ nhạt. Trên thực tế, trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý giáo dục và cơ sở giáo dục vẫn chủ yếu chủ yếu là giải trình trong nội bộ, giải trình với cấp trên, còn trách nhiệm giải trình đối với người dân thì chưa được chú trọng[24].

3. Một số giải pháp nâng cao trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật và chính sách giáo dục. Vì vậy, từ những phân tích và đánh giá thực tiễn như trên, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình trong quản lý giáo dục ở Việt Nam.

Thứ nhất, hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm giải trình trong quản lý giáo dục theo hướng cụ thể hóa nghĩa vụ giải trình gắn với thẩm quyền quản lý ở từng cấp, đặc biệt tại các địa bàn biên giới đất liền. Trên cơ sở Luật Giáo dục năm 2019 và các luật về tổ chức bộ máy, cần làm rõ trách nhiệm giải trình của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và chính quyền địa phương trong ban hành, tổ chức thực hiện và đánh giá các chính sách giáo dục, nhất là đối với những quyết định liên quan đến phân bổ ngân sách, đầu tư cơ sở vật chất và chính sách hỗ trợ học sinh. Đồng thời, cần quy định rõ việc áp dụng các yêu cầu chung về trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước đối với hoạt động quản lý giáo dục, nhằm khắc phục tình trạng hiện nay chủ yếu dừng ở báo cáo nội bộ trong ngành, thiếu cơ chế giải trình trước cơ quan dân cử và cộng đồng thụ hưởng chính sách.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế công khai, minh bạch trong quản lý tài chính và đầu tư giáo dục, nhất là các địa bàn đặc biệt khó khăn. Việc phân bổ ngân sách, lựa chọn nhà thầu xây dựng trường lớp, mua sắm thiết bị, sách giáo khoa cần được công bố đầy đủ trên các cổng thông tin điện tử của tỉnh, xã, đặc biệt là trên nền tảng số cấp xã nơi triển khai. Các khoản thu, chi, nhất là trong các chương trình hỗ trợ như Chương trình 135[25], Chương trình 30a[26], Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 phải được giám sát liên tục bởi các cơ quan dân cử và cộng đồng địa phương.

Thứ ba, xây dựng cơ chế gắn giải trình với trách nhiệm pháp lý, quy định rõ chế tài xử lý đối với quản lý yếu kém, chậm trễ hoặc sai phạm trong quản lý giáo dục. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh huy động sự tham gia giám sát xã hội của phụ huynh, học sinh và tổ chức xã hội dân sự đối với hoạt động giáo dục tại địa phương. Cần thiết lập các kênh phản ánh vi phạm đơn giản, thuận tiện và bảo mật, như mô hình đường dây nóng độc lập hoặc ứng dụng phản ánh hiện trường, để người dân có thể tố cáo các biểu hiện thu, chi không minh bạch, lạm dụng chính sách hỗ trợ.

Thứ tư, thiết kế quy trình giải trình dễ tiếp cận và có ý nghĩa đối với tất cả các bên liên quan. Quy trình giải trình trong quản lý giáo dục cần bảo đảm sự tham gia thực chất của phụ huynh, học sinh, giáo viên, cộng đồng và các tổ chức xã hội trong việc xác định các ưu tiên, giải quyết bất bình đẳng về tiếp cận giáo dục và giám sát việc thực hiện chính sách. Quy trình này không chỉ đánh giá kết quả tích cực hay tiêu cực, mà còn xác định cơ hội mở rộng các chương trình thành công và khắc phục các sai sót khi kết quả không đạt yêu cầu. Các biện pháp khắc phục cần rõ ràng, dễ tiếp cận, gồm điều chỉnh chính sách, bổ sung nguồn lực, hoặc các giải pháp hỗ trợ học sinh bị ảnh hưởng. Toàn bộ quá trình phải liên tục, giúp phát hiện các vấn đề sớm, tránh để ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Đồng thời, việc giải trình cần gắn với các cam kết về quyền học tập và công bằng giáo dục, bảo đảm mọi điều chỉnh chính sách vẫn duy trì mục tiêu nâng cao quyền lợi và cơ hội học tập cho học sinh.

Thứ năm, xây dựng hệ thống chỉ số và dữ liệu giáo dục rõ ràng để giám sát và nâng cao trách nhiệm giải trình. Cần xác định mục tiêu cụ thể và thu thập dữ liệu giáo dục phân tách theo các yếu tố như trình độ học vấn, tình trạng kinh tế, vùng địa lý, giới tính, dân tộc, tình trạng di cư và các yếu tố xã hội khác. Việc này giúp nhận diện những nhóm học sinh dễ bị thiệt thòi hoặc có nguy cơ bị bỏ lại ngoài hệ thống giáo dục chính quy. Sử dụng các công cụ thu thập dữ liệu hiện đại kết hợp với điều chỉnh chính sách dựa trên các kết quả này sẽ giúp cải thiện công bằng trong tiếp cận và chất lượng giáo dục, đặc biệt ở các vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa.

Thứ sáu, thiết lập cơ chế kiểm toán độc lập định kỳ đối với các dự án giáo dục. Cần tách biệt các đơn vị kiểm tra nội bộ với bên thực hiện để tránh “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Theo khuyến nghị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), việc thiết lập các cơ chế đánh giá khách quan, công bố rộng rãi kết quả và xử lý vi phạm rõ ràng sẽ góp phần tạo niềm tin cho người dân và giảm thiểu sai lệch trong đầu tư công[27].

Thứ bảy, đẩy mạnh áp dụng cơ chế trách nhiệm giải trình theo các điều ước quốc tế về nhân quyền. Trong đó thực hiện tốt báo cáo định kỳ cho Ủy ban Liên hợp quốc về tiến trình thúc đẩy các quyền, gồm cả nghĩa vụ thực hiện quyền về sức khỏe cho tất cả mọi người. Bên cạnh đó, việc tham gia tích cực vào các thủ tục của Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc cũng có thể thúc đẩy trách nhiệm giải trình. Một số nghiên cứu cho thấy, trong một số trường hợp, Báo cáo viên đặc biệt đã giúp thúc đẩy Chính phủ của một quốc gia đảm nhận các nghĩa vụ nhân quyền quốc tế liên quan đến việc tiếp cận dịch vụ xã hội cho những người di cư không có giấy tờ[28].

Kết luận

Tăng cường trách nhiệm giải trình là yếu tố then chốt trong nhiều cuộc cải cách, từ các chiến dịch chống tham nhũng trên cả nước, đến các chương trình đổi mới hệ thống giáo dục, phân cấp quản lý trường học tại địa phương và sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước cũng như hỗ trợ từ cộng đồng. Trong quản lý giáo dục ở Việt Nam hiện nay, còn tồn tại nhiều bất bình đẳng trong tiếp cận cơ hội học tập, chất lượng dạy học và phân bổ nguồn lực. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về thực hiện trách nhiệm giải trình như một cơ chế bảo đảm công bằng trong giáo dục. Để nâng cao trách nhiệm giải trình, cần nhận diện rõ các rào cản đối với công bằng giáo dục và xây dựng các giải pháp cụ thể nhằm vượt qua những rào cản đó, hướng đến nền giáo dục công bằng, minh bạch và hiệu quả hơn ở Việt Nam.

ThS. Nguyễn Thanh Tùng

Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Ảnh: Internet

* Bài viết là sản phẩm của đề tài cấp Bộ “Thành tựu nhân loại về dân chủ tham gia, quản trị minh bạch và xây dựng nhà nước pháp quyền trong kỷ nguyên số và vận dụng cho Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế” do TS. Lê Thương Huyền là chủ nhiệm, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì.

[1]. Phạm Ngọc Yến (2019), Nâng cao chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số và miền núi, https://consosukien.vn/nang-cao-chat-luong-giao-duc-vung-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui.htm, truy cập ngày 22/01/2026.

[2]. Hoàng Trinh (2023), Những thầy cô giáo nặng lòng với học trò vùng cao, https://suckhoedoisong.vn/nhung-thay-co-giao-nang-long-voi-hoc-tro-vung-cao-16923111610013296.htm, truy cập ngày 10/12/2025.

[3]. McElwee, P (2008), Blood Relatives’ or Uneasy Neighbors? Kinh Migrant and Ethnic Minority Interactions in the Trường Sơn Mountains, Journal of Vietnamese Studies 3 (3): 81–116. doi:10.1525/vs.2008.3.3.81.

[4]. Rolleston, C., and P. Iyer (2019), Beyond the Basics: Access and Equity in the Expansion of Post-Compulsory Schooling in Vietnam, International Journal of Educational Development66:223-233. doi:10.1016/j.ijedudev.2018.09.002.

[5]. UNICEF (2015), Evaluation of UNICEF-Supported MOET’S Initiative of Mother Tongue Based Bilingual Education in Vietnam 2006–2014, Final report. Hanoi, Vietnam; Truong, H. C. 2011, They Think We Don’t Value Schooling’: Paradoxes of Education in the MultiEthnic Central Highlands of Vietnam, InProceedings of Canberra Vietnam Update Conference on Education (Working Title) Education in Vietnam, edited by J. D. London, 171-211. Singapore: National University of Singapore Press. doi:10.1355/9789814279062-008.

[6]. Dang, H.-A., and P. W. Glewwe (2018), Well Begun, but Aiming Higher: A Review of Vietnam’s Education Trends in the past 20 Years and Emerging Challenges, The Journal of Development Studies54 (7): 1171-1195, doi:10.1080/00220388.2017.1380797.

[7]. OECD (2016), PISA 2015 Results: Excellence and Equity in Education, Vol. 1. Paris: OECD Publishing.

[8]. Lê Thu Nguyệt (2025), Đẩy mạnh đầu tư cho phát triển giáo dục trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/06/12/day-manh-dau-tu-cho-phat-trien-giao-duc-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi-cua-dat-nuoc/, truy cập ngày 22/01/2026.

[9]. Mộc Trà (2023), Một số địa phương, tỉ lệ chi thường xuyên cho giáo dục chủ yếu là chi lương, https://giaoduc.net.vn/mot-so-dia-phuong-ti-le-chi-thuong-xuyen-cho-giao-duc-chu-yeu-la-chi-luong-post237332.gd, truy cập ngày 22/01/2026.

[10]. Thu Trang (2025), Miễn học phí và hóa giải nỗi lo “phụ phí”, https://baochinhphu.vn/mien-hoc-phi-va-hoa-giai-noi-lo-phu-phi-102250818224433555.htm, truy cập ngày 22/01/2026.

[11]. Nguyễn Đình Tuấn (2024), Bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục và dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân vùng dân tộc thiểu số vì mục tiêu phát triển con người, Tạp chí Nghiên cứu con người, số 3 (132), tr.64.

[12]. Lưu Bích Ngọc (2023), Ảnh hưởng của dân số tới phát triển giáo dục sau khi Việt Nam vượt qua “mốc” quy mô dân số đạt 100 triệu người, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 315 tháng 9, tr.32-33.

[13]. Đào Hiền (2025), Đề xuất giáo viên công tác vùng khó khăn được hưởng 70% mức trợ cấp trong 5 năm đầu, https://giaoduc.net.vn/de-xuat-gv-cong-tac-vung-kho-khan-duoc-huong-70-muc-tro-cap-trong-5-nam-dau-post250771.gd, truy cập ngày 22/01/2026.

[14]. Towards Transparency, Corruption in the Education Sector, https://towardstransparency.org/en/corruption-in-the-education-sector/, truy cập ngày 22/01/2026.

[15]. Gia Nguyễn (2022), Những “ung nhọt” của ngành giáo dục, https://diendandoanhnghiep.vn/nhung-ung-nhot-cua-nganh-giao-duc-10078381.html, truy cập ngày 22/01/2026.

[16]. Phạm Thị Giang Thu & Nguyễn Thị Phương Thảo (2024), Hoàn thiện quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của Doanh nghiệp nhà nước, Tạp chí Luật học, số 1, tr.58.

[17]. Phạm Mai (2025), Đồng bộ các giải pháp phát triển giáo dục, nâng chất lượng nhân lực vùng biên giới, https://www.vietnamplus.vn/dong-bo-cac-giai-phap-phat-trien-giao-duc-nang-chat-luong-nhan-luc-vung-bien-gioi-post1075907.vnp#google_vignette, truy cập ngày 22/01/2026.

[18]. Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

[19]. Linh An (2024), Những con số về kết quả thực hiện chuyển đổi số và Đề án 06 của ngành giáo dục, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, https://giaoduc.net.vn/nhung-con-so-ve-ket-qua-thuc-hien-chuyen-doi-so-va-de-an-06-cua-nganh-giao-duc-post244370.gd, truy cập ngày 22/01/2026.

[20]. Tường San (2025), Đề xuất có kênh phản ánh trực tuyến, công khai vi phạm dạy thêm: “Người trong cuộc” đồng tình, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, https://giaoduc.net.vn/de-xuat-co-kenh-phan-anh-truc-tuyen-cong-khai-vi-pham-day-them-nguoi-trong-cuoc-dong-tinh-post255695.gd, truy cập ngày 22/01/2026.

[21]. Chu Hồng Thanh (2021), Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị nhà nước về giáo dục, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/cong-khai-minh-bach-va-trach-nhiem-giai-trinh-trong-quan-tri-nha-nuoc-ve-giao-duc-a59510.html, truy cập ngày 22/01/2026.

[22]. Bùi Thị Ngọc Mai (2021), Hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm giải trình, https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/05/06/hoan-thien-quy-dinh-phap-luat-ve-trach-nhiem-giai-trinh/, truy cập ngày 22/01/2026.

[23]. Nguyễn Thị Mỹ Vân (2021), Đẩy mạnh công tác giáo dục- đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi tỉnh Quảng Trị, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Số 06, tr.86.

[24]. Bùi Thị Ngọc Mai (2021), tldđ.

[25]. Quyết định số 135/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa.

[26]. Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo.

[27]. OECD (2012), Strengthening integrity and fighting corruption in education: Serbia, OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/9789264179646-en, truy cập ngày 22/01/2026.

[28]. Hannigan A, O’Donnell P, O’Keeffe M, MacFarlane A (2016), How do variations in definitions of “migrant” and their application influence the access of migrants to health care services?Copenhagen: WHO Regional Office for Europe; (Health Evidence Network Synthesis Report 46; http://www.euro.who.int/en/publications/abstracts/how-do-variations-in-definitions-of-migrant-and-their-application-influence-the-access-of-migrants-to-health-care-services-2016, truy cập ngày 22/01/2026.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Thị Ngọc Mai (2021), Hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm giải trình, https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/05/06/hoan-thien-quy-dinh-phap-luat-ve-trach-nhiem-giai-trinh/, truy cập ngày 22/01/2026.

2. Chu Hồng Thanh (2021), Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị nhà nước về giáo dục, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/cong-khai-minh-bach-va-trach-nhiem-giai-trinh-trong-quan-tri-nha-nuoc-ve-giao-duc-a59510.html, truy cập ngày 22/01/2026.

3. Dang, H.-A., & Glewwe, P. W. (2018), Well Begun, but Aiming Higher: A Review of Vietnam’s Education Trends in the Past 20 Years and Emerging Challenges, The Journal of Development Studies, 54(7), tr.1171-1195, https://doi.org/10.1080/00220388.2017.1380797.

4. Đào Hiền (2025), Đề xuất GV công tác vùng khó khăn được hưởng 70% mức trợ cấp trong 5 năm đầu, https://giaoduc.net.vn/de-xuat-gv-cong-tac-vung-kho-khan-duoc-huong-70-muc-tro-cap-trong-5-nam-dau-post250771.gd, truy cập ngày 22/01/2026.

5. Hannigan, A., O’Donnell, P., O’Keeffe, M., & MacFarlane, A. (2016), How do variations in definitions of “migrant” and their application influence the access of migrants to health care services?, WHO Regional Office for Europe, Copenhagen.

6. Lê Thu Nguyệt (2025), Đẩy mạnh đầu tư cho phát triển giáo dục trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/06/12/day-manh-dau-tu-cho-phat-trien-giao-duc-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi-cua-dat-nuoc/, truy cập ngày 22/01/2026.

7. Linh An (2024), Những con số về kết quả thực hiện chuyển đổi số và Đề án 06 của ngành giáo dục, https://giaoduc.net.vn/nhung-con-so-ve-ket-qua-thuc-hien-chuyen-doi-so-va-de-an-06-cua-nganh-giao-duc-post244370. gd, truy cập ngày 22/01/2026.

8. Lưu Bích Ngọc (2023), Ảnh hưởng của dân số tới phát triển giáo dục sau khi Việt Nam vượt qua “mốc” quy mô dân số đạt 100 triệu người, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 315.

9. McElwee, P. (2008), ‘Blood Relatives’ or Uneasy Neighbors? Kinh Migrant and Ethnic Minority Interactions in the Trường Sơn Mountains”, Journal of Vietnamese Studies, 3(3).

10. Mộc Trà (2023), Một số địa phương, tỉ lệ chi thường xuyên cho giáo dục chủ yếu là chi lương, https://giaoduc.net.vn/mot-so-dia-phuong-ti-le-chi-thuong-xuyen-cho-giao-duc-chu-yeu-la-chi-luong-post237332.gd, truy cập ngày 22/01/2026.

11. Nguyễn Đình Tuấn (2024), Bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục và dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân vùng dân tộc thiểu số vì mục tiêu phát triển con người, Tạp chí Nghiên cứu Con người, số 3(132).

12. Nguyễn Thị Mỹ Vân (2021), Đẩy mạnh công tác giáo dục - đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi tỉnh Quảng Trị, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 06.

13. Phạm Thị Giang Thu & Nguyễn Thị Phương Thảo (2024), Hoàn thiện quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp nhà nước, Tạp chí Luật học, số 1.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (446) tháng 2/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh công tác xây dựng pháp luật được xác định là khâu đột phá nhằm hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện còn một số hạn chế như mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu rõ ràng, thiếu ổn định và chưa thực sự tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực phát triển. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, làm rõ các biểu hiện hạn chế và nguyên nhân chủ yếu từ góc độ thể chế, tổ chức thực hiện và năng lực xây dựng pháp luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao chất lượng thể chế trong kỷ nguyên mới.
Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Vợ, chồng bình đẳng đối với tài sản chung là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù quan hệ hôn nhân, việc thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung là vấn đề ngày càng đa dạng, phức tạp. Nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên, bài viết phân tích, làm rõ nội hàm về quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung, từ đó, chỉ ra những điểm còn hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật và đề xuất kiến nghị hoàn thiện, hướng tới phát huy bền vững chức năng kinh tế của gia đình trong bối cảnh hội nhập.
Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Tình trạng tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu tại ngân hàng thương mại ngày càng phổ biến, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định cụ thể, dẫn đến khó khăn trong quản lý và xử lý số dư các tài khoản này. Bài viết phân tích, làm sáng tỏ khái niệm tài khoản không xác định được chủ sở hữu, đồng thời, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, từ đó, đề xuất xây dựng khung pháp lý thống nhất, minh bạch điều chỉnh các tài khoản này.
Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Viên chức, các nghị định và văn bản liên quan. Tuy nhiên, quy định về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập còn những hạn chế, bất cập như tiêu chí chưa cụ thể theo vị trí việc làm, các tiêu chí còn định tính, chưa phản ánh đặc thù của viên chức giảng dạy và viên chức khác trong trường đại học công lập. Bài viết phân tích quy định của pháp luật hiện hành về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và gia tăng nhanh chóng của tội phạm công nghệ cao, dữ liệu điện tử ngày càng trở thành nguồn chứng cứ quan trọng trong tố tụng hình sự. Bài viết nghiên cứu việc thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự, tập trung vào bất cập trong quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025). Trên cơ sở phân tích pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn, bài viết đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ và nâng cao hiệu quả thu thập, bảo quản, giám định dữ liệu điện tử, bảo đảm tính hợp pháp và giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự.
Bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số ở trường học - Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số ở trường học - Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nên các quốc gia đều ban hành chính sách, pháp luật để gìn giữ. Bằng phương pháp phân tích văn bản pháp luật và đối chiếu với thực tiễn triển khai, bài viết đánh giá hai nội dung trọng tâm: giáo dục bằng ngôn ngữ dân tộc và giữ gìn các giá trị văn hóa dân tộc thông qua hoạt động giáo dục trong nhà trường ở tỉnh Gia Lai. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, mặc dù hệ thống chính sách tương đối đầy đủ, nhưng thực tiễn thi hành còn gặp nhiều hạn chế như quy mô dạy tiếng dân tộc thiểu số còn hạn hẹp, thiếu đội ngũ giáo viên đạt chuẩn; việc huy động nghệ nhân gặp khó khăn do các quy định hiện hành và thiếu cơ chế tài chính chi trả thù lao. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, linh hoạt về tiêu chuẩn nhân sự tham gia giáo dục và hoàn thiện cơ chế tài chính đặc thù tại địa phương.
Quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Hiện nay, quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số là một trong những vấn đề pháp lý - quản lý cấp thiết ở các quốc gia trên thế giới. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và tổ chức triển khai xã hội số tại Việt Nam; đồng thời, nhận diện một số hạn chế có nguyên nhân từ hoạt động quản trị quốc gia. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị về thể chế, pháp luật cũng như giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao cơ chế điều phối, năng lực thực thi; phát triển nguồn nhân lực, năng lực số cho khu vực công; phát triển hạ tầng dữ liệu, cơ chế quản trị dữ liệu quốc gia; thúc đẩy niềm tin xã hội và bảo đảm tính bao trùm số; qua đó, tăng cường hiệu quả quản trị quốc gia trong bối cảnh phát triển xã hội số.
Hợp đồng dịch vụ lái xe hộ qua ứng dụng trên điện thoại di động

Hợp đồng dịch vụ lái xe hộ qua ứng dụng trên điện thoại di động

Tóm tắt: Trong bối cảnh Nhà nước ban hành các chế tài ngày càng nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm nồng độ cồn khi lái xe, làm nhu cầu sử dụng dịch vụ lái xe hộ tăng mạnh. Tuy nhiên, loại hình này chưa được pháp luật điều chỉnh trực tiếp, dẫn đến khoảng trống về xác định quan hệ hợp đồng, quyền, nghĩa vụ của các bên và cơ chế chịu trách nhiệm khi phát sinh rủi ro. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở pháp lý của hợp đồng lái xe hộ, đánh giá thực trạng điều chỉnh và đề xuất giải pháp hoàn thiện để vừa bảo đảm an toàn pháp lý, vừa phù hợp định hướng phát triển kinh tế số.
Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu về điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định pháp luật Việt Nam, sử dụng các quyết định, bản án và các vụ việc diễn ra trên thực tế để làm rõ nội dung khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghiên cứu cho thấy, quy định pháp luật về hoàn cảnh thay đổi cơ bản hiện nay chưa thật sự phù hợp với thực tiễn. Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, nghiên cứu làm rõ một số vấn đề bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nội dung này.
Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Tóm tắt: Trí tuệ nhân tạo đang trở thành nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng khung pháp lý tương xứng. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này còn tồn tại những thách thức nhất định. Để giải quyết các vấn đề này, nghiên cứu đề xuất mô hình pháp lý ba lớp nhằm kiến tạo hành lang pháp lý đồng bộ, có khả năng thích ứng, qua đó, cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới công nghệ và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm sự phát triển bền vững của trí tuệ nhân tạo trong khu vực công.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Tóm tắt: Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các rủi ro về xâm phạm dữ liệu cá nhân của các chủ thể, đặc biệt khi tham gia vào hoạt động thương mại điện tử, cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, bảo vệ dữ liệu cá nhân đang trở thành vấn đề cấp thiết trong kỷ nguyên số. Bài viết phân tích quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử, trọng tâm là Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, chỉ ra những tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật với mục tiêu bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển thương mại điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể trong môi trường số.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tóm tắt: Tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền công vụ vì Nhân dân, lấy Nhân dân làm gốc. Bài viết phân tích vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh về “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm” làm nền tảng cho hoạt động công vụ trong bối cảnh hiện nay, đồng thời, chỉ ra hạn chế trong thực thi pháp luật khi thiếu hành lang pháp lý phù hợp, dẫn đến tâm lý né tránh, sợ trách nhiệm của công chức. Từ đó, đề xuất giải pháp pháp lý nhằm bảo đảm pháp quyền, thúc đẩy sáng tạo, nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân.
Chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh Việt Nam - Từ quy định đến thực thi

Chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh Việt Nam - Từ quy định đến thực thi

Tóm tắt: Để chống lại các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh nhiều nước trên thế giới không chỉ quy định việc áp dụng các hình phạt đối với hành vi này, mà còn quy định về chính sách khoan hồng, theo đó, miễn hoặc giảm mức hình phạt đối với người cung cấp thông tin, chứng cứ cho cơ quan quản lý cạnh tranh về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Tiếp thu kinh nghiệm pháp luật cạnh tranh thế giới, Việt Nam đã quy định về chính sách khoan hồng tại Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018, tuy nhiên, tính khả thi của các chính sách này trên thực tế còn hạn chế. Thông qua việc nhận diện nội hàm và bản chất của chính sách khoan hồng, bài viết phân tích, so sánh về chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh của Việt Nam với một số nước, chỉ ra những vấn đề cần khắc phục để chính sách này thực thi hiệu quả trên thực tế.
Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong thời kỳ mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong thời kỳ mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đẩy mạnh cải cách tư pháp, yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ tư pháp vững mạnh, đủ phẩm chất và năng lực đang trở nên cấp thiết. Trước những tác động mạnh mẽ của quá trình hội nhập quốc tế và chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp, việc nghiên, cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ có ý nghĩa quan trọng, góp phần xác định cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp “vừa hồng, vừa chuyên”. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại. Kết quả cho thấy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới là yếu tố then chốt bảo đảm hiệu quả cải cách tư pháp và củng cố niềm tin của Nhân dân vào công lý.
Pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số

Pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong bối cảnh các nền tảng trực tuyến phát triển mạnh mẽ, hoạt động quảng cáo thương mại tại Việt Nam ngày càng đa dạng về hình thức, đối tượng tác động nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật hiện hành còn nhiều khoảng trống trong điều chỉnh hành vi quảng cáo trên môi trường số, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng. Trên cơ sở nghiên cứu, kinh nghiệm pháp luật một số quốc gia trên thế giới, bài viết làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số, chỉ ra những điểm hạn chế, từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về quảng cáo, tăng cường cơ chế giám sát và phối hợp giữa các cơ quan quản lý, hướng tới xây dựng môi trường quảng cáo số lành mạnh.

Theo dõi chúng tôi trên: