Chủ nhật 11/01/2026 20:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu về điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định pháp luật Việt Nam, sử dụng các quyết định, bản án và các vụ việc diễn ra trên thực tế để làm rõ nội dung khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghiên cứu cho thấy, quy định pháp luật về hoàn cảnh thay đổi cơ bản hiện nay chưa thật sự phù hợp với thực tiễn. Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, nghiên cứu làm rõ một số vấn đề bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nội dung này.

Từ khóa: hợp đồng; hoàn cảnh thay đổi cơ bản; pháp luật Việt Nam.

Abstract: The article focuses on the research on the conditions for determining the circumstances of fundamental change according to the provisions of Vietnamese law, using decisions, judgments and cases that have occurred in practice to clarify the content of Clause 1, Article 420 of the 2015 Civil Code. The research shows that the current legal provisions on fundamental change are not really suitable to reality. Based on theory and practice, the research clarifies a number of inadequacies and makes recommendations to improve the legal provisions on this content.

Keywords: Contract; circumstances of fundamental change; Vietnamese law.

Đặt vấn đề

Luật quốc tế ghi nhận nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế (pacta sunt servanda), nguyên tắc này ràng buộc các bên tham gia vào hợp đồng phải thực hiện đúng và đủ các điều khoản đã cam kết. Thông thường, tại thời điểm giao kết hợp đồng, lợi ích của các bên đều cân bằng, tuy nhiên, vì nhiều lý do khiến cho lợi ích của các bên không còn như ban đầu[1], dẫn đến mục đích của các bên không thể đạt được. Vì vậy, quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản và thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là quy định thực tế và cần thiết trong pháp luật dân sự.

Trên tinh thần bảo đảm công bằng lợi ích các bên, pháp luật đã dự liệu về trường hợp thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản quy định tại Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm loại bỏ sự không công bằng lợi ích giữa các bên, khắc phục tình trạng nếu tiếp tục hợp đồng thì một bên sẽ bị ảnh hưởng lợi ích nghiêm trọng[2].

Nghiên cứu này phân tích quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về việc xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản, đồng thời, liên hệ với việc áp dụng pháp luật trong các quyết định, bản án của Tòa án để làm rõ nội dung các vấn đề, cũng như tham khảo quy định pháp luật nước ngoài để đưa ra kiến nghị hoàn thiện.

1. Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Theo khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015, hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau:

1.1. Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng

Bộ luật Dân sự năm 2015 không xác định “nguyên nhân khách quan”, tuy nhiên, quy định này nhằm tạo điều kiện cho các bên sửa đổi hợp đồng. Từ đó, có thể hiểu, nguyên nhân khách quan là các yếu tố, trở ngại vượt khỏi sự kiểm soát của các bên, gây cản trở thực hiện hợp đồng dẫn đến vi phạm nghĩa vụ. Tính khách quan ở điều kiện này không nên hiểu theo hướng các sự vật, hiện tượng tồn tại độc lập với ý thức con người, không phụ thuộc vào ý thức con người (định nghĩa của triết học Mác - Lênin) bởi hợp đồng mang tính ràng buộc giữa các bên tham gia. Theo đó, yếu tố khách quan cần được hiểu theo nghĩa hẹp là yếu tố không phải do sự tác động của các bên trong hợp đồng. Điều đó đồng nghĩa với việc yếu tố khách quan có thể là các tác động từ tự nhiên (thiên tai, bão lũ, dịch bệnh…) hoặc do người thứ ba không trong hợp đồng (cơ quan nhà nước, người không trong hợp đồng tác động vào các bên trong hợp đồng…).

Thực tiễn xét xử cũng xác định nguyên nhân khách quan có thể là yếu tố tự nhiên hoặc từ con người.

Tại Bản án số 32/2023/KDTM-PT ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xác định, dịch bệnh Covid-19 là nguyên nhân khách quan xuất phát từ tự nhiên: trước tình hình dịch bệnh Covid-19, bị đơn có Thông báo về việc trả nhà xưởng từ ngày 05/8/2022 là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong trường hợp này, nguyên nhân khách quan là yếu tố tự nhiên, không có sự tác động từ phía con người.

Tại Bản án số 121/2023/DS-PT ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, nguyên nhân khách quan có yếu tố con người là các quyết định của Ủy ban nhân dân (UBND) dẫn đến các bên không đạt được mục đích ban đầu, cụ thể “mục đích mua bán căn hộ, thời gian sử dụng đất được Nhà nước công nhận trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá trình thi công và bàn giao căn hộ thực tế,… đã thay đổi do nguyên nhân khách quan so với thời điểm Công ty Đ và bà Huỳnh Thị Hà T giao kết hợp đồng và các bên tham gia hợp đồng đều không thể lường trước về sự thay đổi này”.

Về cơ bản, Tòa án đều nhận định theo hướng nguyên nhân trên không mang tính chủ quan, mà là các yếu tố tự nhiên hoặc người thứ ba không trong hợp đồng - quan điểm này cũng được đa số các nhà nghiên cứu ủng hộ[3].

1.2. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh

Đây là điều kiện quan trọng, phản ánh bản chất của quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Cụ thể, điều kiện này đặt ra yêu cầu thay đổi về hoàn cảnh là những thay đổi mà các bên tham gia vào hợp đồng không thể lường trước, không thể biết trước được.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “các bên không thể lường trước được” sẽ phát sinh yêu cầu tất cả các bên tham gia hợp đồng phải không thể lường trước được hoàn cảnh sẽ thay đổi. Như vậy, nếu một bên có thể lường trước hoàn cảnh sẽ thay đổi thì điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ không được đáp ứng. Quy định này nhằm cân bằng lợi ích của các bên, buộc bên không/ít bị ảnh hưởng chia sẻ lợi ích với bên bị ảnh hưởng. Bởi, thông thường, bên không/ ít bị ảnh hưởng không sẵn sàng chia sẻ một phần lợi ích cho bên bị ảnh hưởng (vì việc chia sẻ lợi ích sẽ không đạt được mục đích ban đầu của hợp đồng của bên không/ít bị ảnh hưởng). Do đó, nếu quy định bên không/ ít bị ảnh hưởng “không thể lường trước được” là điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản thì bên không/ít bị ảnh hưởng chỉ cần lập luận rằng, sự thay đổi đã được dự trù từ trước, lỗi là do bên có lợi ích bị ảnh hưởng không dự trù được, vì vậy, không đáp ứng điều kiện để xác định “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”. Mục đích cân bằng lợi ích của các bên sẽ không còn tồn tại vì quyền xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản thuộc về bên có lợi ích không/ít bị ảnh hưởng.

Khi so sánh với điểm b Điều 6.2.2 Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng Thương mại Quốc tế năm 2016 cho thấy, sự kiện dẫn đến hoàn cảnh thay đổi cơ bản là sự kiện mà bên gặp bất lợi không thể dự liệu hợp lý tại thời điểm giao kết hợp đồng. Vậy, Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2016 cũng không căn cứ vào khả năng lường trước về hoàn cảnh thay đổi của tất cả các bên mà chỉ dựa trên khả năng dự liệu về hoàn cảnh thay đổi của bên gặp bất lợi tại thời điểm giao kết hợp đồng. Đây là điểm bất cập trong quy định pháp luật Việt Nam và cần sửa đổi, bổ sung.

1.3. Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác

Có quan điểm cho rằng, điều kiện này không thực sự cần thiết vì mang nhiều đặc điểm của một giả định, đặc biệt là giả định về ý chí vô hình nên trường hợp xảy ra tranh chấp thì rất khó để giải quyết[4]. Tuy nhiên, đây là điều kiện quan trọng, phản ánh bản chất của quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Theo đó, các nhà làm luật yêu cầu trong trường hợp các bên biết trước về hoàn cảnh thay đổi lớn và hệ quả là các bên đã không giao kết hợp đồng hoặc giao kết với nội dung hoàn toàn khác cho thấy đây là một giả định. Mặc dù vậy, giả định này không phải không có căn cứ, vì trong thực tiễn vẫn có thể chứng minh giả định này là hợp lý thông qua sự giảm sút lợi ích hoặc có thiệt hại thực tế mà bên bị ảnh hưởng phải gánh chịu, từ đó cho rằng, hợp đồng không được giao kết hoặc giao kết với nội dung hoàn toàn khác. Cụ thể:

Trường hợp thứ nhất, bên bị ảnh hưởng có thể chỉ ra sự giảm sút lợi ích mà các bên hướng đến như giá trị nhận lại khi thực hiện hợp đồng vô cùng thấp, ảnh hưởng đến khả năng duy trì hoạt động kinh doanh…

Ví dụ: giữa tháng 02/2020, A giao kết hợp đồng thuê xe của B nhằm mục đích tổ chức tour du lịch trong tháng 3/2020. Cuối tháng 02/2020, do ảnh hưởng của bão, A không thể tổ chức tour du lịch, nên A không có doanh thu. Đồng thời, nếu tiếp tục hợp đồng, A vẫn phải thanh toán tiền thuê xe cho B. Lúc này, A có thể viện dẫn lý do vì ảnh hưởng tiêu cực của bão nên A không thể sử dụng xe đã thuê của B, nghĩa là phía A đã bị giảm sút về mặt lợi ích nên trường hợp này có thể xem xét là hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp thứ hai, bên bị ảnh hưởng có thể chỉ ra các thiệt hại thực tế đã xảy ra để lập luận rằng, các thiệt hại này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của mình, do đó, nếu thiệt hại lường trước được thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc giao kết với nội dung này hoàn toàn khác.

Ví dụ: tháng 10/2021, thấy lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu một mặt hàng nông sản nên công ty A đã thu mua từ hợp tác xã B với giá 30.000 đồng/kg. Đợt hàng xuất khẩu đầu tiên của công ty A sang Trung Quốc không thể thực hiện được do Trung Quốc tạm thời đóng cửa khẩu, làm cho hàng nghìn xe vận chuyển nông sản bị ùn ứ tại cửa khẩu nhiều ngày, dẫn đến phát sinh chi phí bảo quản cao. Tại thời điểm có thông tin Trung Quốc đóng cửa khẩu giao thương, các thương lái không tiếp tục thu mua nông sản của hợp tác xã B, nên giá nông sản giảm còn 5.000 đồng/kg. Do thời gian bảo quản nông sản tương đối ngắn, nên công ty A buộc phải cho xe vận chuyển quay về để tiêu thụ tại thị trường Việt Nam với giá 5.000 đồng/kg (trong khi giá nhập là 30.000 đồng/kg) dẫn đến giảm sút về mặt lợi ích kinh tế[5]. Vì vậy, công ty A có thể viện dẫn lý do bên cạnh sự giảm sút về mặt lợi ích kinh tế, công ty phải mất chi phí phát sinh để bảo quản nông sản - đây được xem là thiệt hại thực tế, nên có thể xem xét là hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Quy định trên không mới, thực tế đã xuất hiện trong pháp luật một số quốc gia. Điều 1195 Bộ luật Dân sự năm 1804 của Pháp quy định: “nếu một sự thay đổi hoàn cảnh không thể dự đoán tại thời điểm ký kết hợp đồng làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên quá tốn kém đối với một bên mà bên đó chưa chấp nhận chịu rủi ro này, bên đó có thể yêu cầu bên còn lại đàm phán lại hợp đồng. Trong quá trình đàm phán, bên này vẫn tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ của mình”. Điều 1467 Bộ luật Dân sự năm 1942 của Ý quy định: “Trong các hợp đồng thực hiện liên tục hoặc định kỳ hoặc có thực hiện trì hoãn, nếu nghĩa vụ của một bên trở nên quá nặng nề do sự xuất hiện của các sự kiện đặc biệt và không thể dự đoán trước, bên phải thực hiện nghĩa vụ đó có thể yêu cầu hủy bỏ hợp đồng, với các hiệu lực được quy định tại Điều 1458”.

1.4. Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên

Xét về việc xác định thiệt hại, nếu không có sự thay đổi nội dung hợp đồng, căn cứ tiêu chí thời điểm xảy ra thiệt hại, có thể phân loại thiệt hại thành hai nhóm gồm thiệt hại thực tế (thiệt hại đã xảy ra trên thực tế) và thiệt hại suy đoán (thiệt hại chưa xảy ra trên thực tế). Thiệt hại thực tế là các thiệt hại đã xảy ra, có thể định lượng cụ thể dựa trên các tổn thất phát sinh và có căn cứ chứng minh rõ ràng. Thiệt hại suy đoán là thiệt hại nằm trong dự trù, không thể định lượng cụ thể mà chỉ có thể ước lượng dựa trên những lập luận, giả định và chưa diễn ra nên không thể có căn cứ chứng minh.

Có quan điểm cho rằng, “việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên” là yếu tố cần thiết để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản, như Điều 1195 Bộ luật Dân sự năm 1804 của Pháp. Ngược lại, cũng có quan điểm cho rằng, không cần thiết chứng minh “việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên”, như quy định tại điểm b Điều 6.2.2 Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng Thương mại Quốc tế năm 2016. Điều này cho thấy, hiện có hai xu hướng quy định về việc có cần thiết chứng minh, tiếp tục hợp đồng ban đầu sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên để làm căn cứ xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay không. Nghiên cứu cho thấy, đây là nội dung không cần thiết để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Tại điểm d khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015, nhà làm luật dùng từ “sẽ” trong quy định “Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên”, cho thấy tính dự liệu xác định thiệt hại xảy ra trong tương lai để làm căn cứ áp dụng quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Tuy nhiên, quy định này dẫn đến bất cập buộc bên bị ảnh hưởng phải chứng minh có thiệt hại xảy ra trong tương lai, nghĩa là bên bị ảnh hưởng có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại sẽ xảy ra nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng. Nghiên cứu cho thấy, điều kiện này không hợp lý vì:

Một là, điều kiện này khó áp dụng, bởi các thiệt hại sẽ xảy ra là thiệt hại do các bên suy đoán, suy luận nên không thể định lượng cụ thể, không thể chứng minh rõ ràng, mà chỉ mang tính tương đối. Từ đó, phát sinh vấn đề, nếu thiệt hại được dự đoán không hợp lý thì Tòa án căn cứ vào đâu để giải quyết.

Hai là, quy định này chưa bao quát, vì một trong những căn cứ để xác định hoàn cảnh được xác định là thay đổi cơ bản là phải có thiệt hại sẽ xảy ra nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng. Vậy, nếu trong thời gian thực hiện hợp đồng, đã có thiệt hại diễn ra (do hoàn cảnh thay đổi) và tiếp tục hợp đồng mà không phát sinh thiệt hại thì không được xem là hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Theo đó, không thể áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 để điều chỉnh hợp đồng theo hướng cân bằng lợi ích của các bên để bù đắp lại phần thiệt hại đã diễn ra. Như vậy, điều này không đúng với tinh thần của quy định.

Ba là, điều kiện này đã được dự trù bởi quy định tại điểm c khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015: hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác. Bởi lẽ, theo logic, khi xác lập hợp đồng, các bên thường hướng đến lợi ích nhất định và giảm thiểu thiệt hại tối đa cho mình. Vì vậy, nội hàm của quy định “tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng” đã nằm trong quy định “hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác”. Do đó, không cần thiết buộc bên bị ảnh hưởng đưa ra con số cụ thể về thiệt hại để yêu cầu đàm phán sửa đổi hợp đồng.

Thực tiễn xét xử, Tòa án cũng không dựa vào điều kiện “việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên”. Trong các vụ tranh chấp liên quan đến hoàn cảnh thay đổi cơ bản, các bên và Tòa án thường không chứng minh sẽ có thiệt hại xảy ra nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng, mà chỉ xem xét hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác, nghĩa là, chỉ cần xem xét về sự giảm sút về mặt lợi ích hoặc thiệt hại đã diễn ra trên thực tế.

Tại Bản án số 66/2023/DS-PT ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông: theo hợp đồng đặt cọc ngày 22/4/2022, hai bên thỏa thuận ông D đặt cọc cho bà M để nhận chuyển nhượng diện tích đất 1.000m2 là một phần diện tích đất của các thửa đất số 04, 21. Trong thời gian gia hạn thực hiện hợp đồng đặt cọc, bà M đã yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục tách thửa. Tuy nhiên, tại Kết luận Thanh tra số 99/KL-TTr thể hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định pháp luật. Do đó, ngày 14/9/2022, UBND huyện Đ đã ban hành Quyết định về việc thu hồi 26.880m2 đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 105 của hộ ông Lý Ngọc V (chồng bà M). Với các tình tiết trên, có cơ sở xác định, để bảo đảm việc giao kết và thực hiện hợp đồng, bên nhận cọc phải tiến hành làm thủ tục tách thửa. Tuy nhiên, sau khi giao kết hợp đồng đặt cọc, đến ngày 14/9/2022, UBND huyện Đ đã ban hành quyết định thu hồi đất. Như vậy, nguyên nhân dẫn đến việc bà M không thực hiện được nghĩa vụ là do hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định tại khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bà M không có lỗi trong việc thực hiện hợp đồng đặt cọc vì việc không tách thửa được là do yếu tố khách quan.

Bản án số 121/2023/DS-PT ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng lập luận: “cụ thể, mục đích mua bán căn hộ, thời gian sử dụng đất được Nhà nước công nhận trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá trình thi công và bàn giao căn hộ thực tế đã thay đổi do nguyên nhân khách quan so với thời điểm Công ty Đ và bà Huỳnh Thị Hà T giao kết hợp đồng và các bên tham gia hợp đồng đều không thể lường trước về sự thay đổi này”.

Qua các vụ việc trên cho thấy, quy định về xác định thiệt hại trong tương lai là không cần thiết. Trong thực tiễn, Tòa án và các bên dường như không quan tâm đến việc tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ dẫn đến thiệt hại như thế nào, mà chỉ quan tâm đến hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác.

Nghiên cứu cho thấy, không bắt buộc bên bị thiệt hại phải chứng minh “việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên” không đồng nghĩa với việc trở thành lý do để thoát khỏi hợp đồng mà là giảm bớt nghĩa vụ chứng minh đối với bên bị thiệt hại. Bởi lẽ, trên thực tế, nếu thiệt hại nghiêm trọng mang tính chất của hoàn cảnh thay đổi cơ bản đã diễn ra với một bên thì thực chất lợi ích từ hợp đồng đối với họ không còn như kỳ vọng ban đầu. Do đó, cần điều chỉnh hợp đồng để cân bằng lợi ích này, dù việc tiếp tục thực hiện hợp đồng gây thiệt hại hay không. Điều này mang bản chất chia sẻ thiệt hại hơn so với việc trốn tránh nghĩa vụ hợp đồng.

Ví dụ: A thuê quyền sử dụng đất của B với phí thuê 100 triệu/tháng để đặt nhà máy sản xuất, trong thời hạn thực hiện hợp đồng, tình hình dịch Covid-19 diễn ra phức tạp ở Việt Nam và theo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện giãn cách xã hội trong khoảng thời gian nhất định làm cho nhà máy của A phải tạm ngưng hoạt động, sau khi hết giãn cách xã hội, công việc kinh doanh của A trở lại bình thường. Vậy, nếu A thực hiện quyền khởi kiện tại thời điểm vừa mới giãn cách xã hội, A có thể chứng minh việc tiếp tục hợp đồng sẽ dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng, từ đó, làm cơ sở đề nghị Tòa án sửa đổi hợp đồng để cân bằng lợi ích giữa các bên. Tuy nhiên, nếu thời điểm A yêu cầu Tòa án sửa đổi hợp đồng để cân bằng lợi ích là thời điểm sau khi hết giãn cách xã hội thì A không thể chứng minh việc tiếp tục hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng để làm cơ sở yêu cầu giảm tiền thuê mặt bằng mặc dù đã bị thiệt hại vì tạm ngưng hoạt động sản xuất một thời gian. Qua đó cho thấy, chứng minh thiệt hại sẽ xảy ra nếu tiếp tục hợp đồng ban đầu dường như bất khả thi nếu bên bị thiệt hại thực hiện quyền khởi kiện sau khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản đã qua đi.

1.5. Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích

Điều kiện này xuất phát từ nguyên tắc thiện chí khi thực hiện hợp đồng ghi nhận tại khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể, điều kiện này gồm hai dấu hiệu “bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng” và “không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích”.

Theo đó, nghĩa vụ ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích là nghĩa vụ của bên bị ảnh hưởng. Điều này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc thiện chí vì bên cạnh quyền yêu cầu thay đổi hoặc chấm dứt hợp đồng của bên bị ảnh hưởng, Bộ luật Dân sự năm 2015 còn quy định nghĩa vụ tương ứng để hưởng quyền trên là phải áp dụng các biện pháp cần thiết để hạn chế lợi ích bị ảnh hưởng.

Khả năng đánh giá và áp dụng biện pháp ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích của mỗi bên trong hợp đồng phụ thuộc vào quan điểm của mỗi bên. Nghĩa là, việc áp dụng biện pháp nào đó có thể không trong khả năng của bên bị ảnh hưởng nhưng lại trong khả năng của bên kia. Điều này cho thấy, dưới góc độ đánh giá của mỗi bên, “mọi biện pháp cần thiết” cũng chỉ mang tính tương đối. Tuy nhiên, nội hàm quy định chỉ đề cập đến bên có lợi ích bị ảnh hưởng và không đặt ra yêu cầu đối với bên kia. Qua đó cho thấy, Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ yêu cầu bên bị ảnh hưởng đánh giá, áp dụng các biện pháp cần thiết trong khả năng, phù hợp với tính chất hợp đồng và chỉ căn cứ vào khả năng để áp dụng các biện pháp của bên có lợi ích bị ảnh hưởng. Quy định trên tương đối ổn định, công bằng, khách quan vì chỉ xem xét khả năng ngăn chặn, giảm thiểu lợi ích bị ảnh hưởng của bên bị ảnh hưởng để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản cuối cùng nhằm mục đích bảo vệ bên thiện chí thực hiện hợp đồng, hạn chế các yêu cầu vô lý của bên kia. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa cho biết trường hợp bên bị ảnh hưởng không thể thực hiện các biện pháp cần thiết để hạn chế sự ảnh hưởng thì có đáp ứng điều kiện trên hay không. Bởi lẽ, Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định “đã áp dụng” mà không quy định “không thể áp dụng”, điều này dẫn đến hệ quả, nếu bên bị ảnh hưởng không thể áp dụng các biện pháp cần thiết thì không được xem là hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Nghiên cứu cho thấy, quy định này chưa chặt chẽ, vì trong nhiều trường hợp, khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên bị ảnh hưởng không thể áp dụng bất kỳ biện pháp nào để hạn chế lợi ích bị ảnh hưởng. Tại Bản án số 66/2023/DS-PT ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông đã phân tích: “việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên”. Theo đó, ông D là bên bị ảnh hưởng, ông D cũng không thể thực hiện bất kỳ biện pháp nào để chống đối quyết định của UBND nhằm ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích nhưng Tòa án vẫn tuyên theo hướng hoàn cảnh có sự thay đổi cơ bản. Điều đó cho thấy, nếu áp dụng “cứng” Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp này không được xem là hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Tuy nhiên, để bảo đảm cân bằng lợi ích của các bên, Tòa án vẫn theo hướng xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Đối chiếu với quy định của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng Thương mại Quốc tế năm 2016 cho thấy, liên quan đến nghĩa vụ ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích trong hợp đồng, Bộ nguyên tắc căn cứ vào sự kiện dẫn đến hoàn cảnh thay đổi cơ bản nằm ngoài sự kiểm soát của bên bất lợi, nghĩa là hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức không thể áp dụng các biện pháp cần thiết, trong khả năng cho phép của bên bất lợi để vượt qua[6].

2. Một số kiến nghị

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản là quy định cần thiết nhằm bảo đảm lợi ích của các bên tham gia hợp đồng khi hoàn cảnh có sự thay đổi cơ bản. Từ những phân tích và thực tiễn trên, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật như sau:

Thứ nhất, sửa đổi điều kiện “tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh”. Khi quy định như vậy, một trong những điều kiện để Tòa án xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản là “các bên” phải không lường trước được, nếu một trong các bên lường trước được thì không thể áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như đã phân tích tại phần 1.2, nghiên cứu kiến nghị sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: “Tại thời điểm giao kết hợp đồng, bên bị thiệt hại không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh”.

Thứ hai, kiến nghị bỏ điều kiện “việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên”. Vì quy định này dẫn đến bất cập buộc bên bị ảnh hưởng phải chứng minh có thiệt hại xảy ra trong tương lai - thiệt hại không thể định lượng cụ thể mà chỉ dựa trên những lập luận, giả định, suy đoán và vì chưa xảy ra nên không thể có căn cứ chứng minh. Bởi lẽ, quy định này khó áp dụng, chưa bao quát các trường hợp có thể xảy ra và đã được dự trù bởi quy định khác. Thực tiễn xét xử cho thấy, Tòa án không áp dụng quy định này để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản như được phân tích ở trên; đồng thời, pháp luật quốc tế và quy định pháp luật một số nước như Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng Thương mại Quốc tế năm 2016 cũng không xem việc tiếp tục hợp đồng ban đầu sẽ gây thiệt hại là dấu hiệu xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Vì vậy, điều kiện tại điểm d khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 kém hiệu quả khi áp dụng.

Thứ ba, sửa đổi điều kiện “bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích”. Như đã phân tích, nếu giữ nguyên quy định như vậy thì trường hợp bên bị ảnh hưởng vì những lý do khách quan không thể thực hiện các biện pháp cần thiết để hạn chế sự ảnh hưởng sẽ không được xem là “đã áp dụng mọi biện pháp…” và về mặt lý thuyết sẽ không đáp ứng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, quy định này không hợp lý và không được Tòa án áp dụng.

Tham khảo kinh nghiệm pháp luật một số nước cho thấy, liên quan đến nghĩa vụ ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích trong hợp đồng, một trong những căn cứ xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản là sự kiện nằm ngoài sự kiểm soát của bên bất lợi[7], nghĩa là hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức không thể áp dụng các biện pháp cần thiết, trong khả năng cho phép của bên bất lợi để vượt qua. Vì vậy, nghiên cứu kiến nghị sửa đổi theo hướng: “trừ trường hợp không thể áp dụng bất cứ biện pháp cần thiết nào để ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích, bên có lợi ích bị ảnh hưởng phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng để ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích”.

Kết luận

Cơ chế điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là ngoại lệ của nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết với mục đích cho phép Tòa án sửa đổi hợp đồng để cân bằng lợi ích của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản so với thời điểm giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy, quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản của Bộ luật Dân sự năm 2015 còn một số hạn chế về điều kiện áp dụng. Nghiên cứu này đã đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nội dung này để bảo đảm lợi ích của các chủ thể bị ảnh hưởng trong hợp đồng./.

Nguyễn Công Danh

Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Nguyễn Thị Thu Trang (2018), Bảo đảm quyền tự do hợp đồng trong tình huống “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí Luật học, số 10/2018, tr. 53.

[2]. Đinh Trung Tụng (2017), Những điểm mới cơ bản của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, tr. 184.

[3]. Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - bản án và bình luận bản án, Tập 2, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 517; Đinh Văn Cường, Thực hiện hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam, https://danchuphapluat.vn/thuc-hien-hop-dong-thuong-mai-khi-hoan-canh-thay-doi-co-ban-theo-phap-luat-viet-nam, truy cập ngày 04/7/2025.

[4]. Trần Chí Thành, Bùi Thị Quỳnh Trang (2020), Áp dụng quy định của pháp luật về sự kiện bất khả kháng và thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong bối cảnh dịch Covid-19 tại Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 43/2020, tr. 97 - 98.

[5]. Bình Nguyên (2021), Nông sản ùn ứ vì Trung Quốc đóng cửa khẩu, https://baodongnai.com.vn/kinhte/202112/nong-san-un-u-vi-trung-quoc-dong-cua-khau-3095604/, truy cập ngày 04/7/2025.

[6]. Schwenzer, I., Muñoz, E. (2019), Duty to renegotiate and contract adaptation in case of hardship, Uniform Law Review, 24(1), 149 - 174.

[7]. Schwenzer, I., Muñoz, E. (2019), tlđd, tr. 149 - 174.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bình Nguyên (2021), Nông sản ùn ứ vì Trung Quốc đóng cửa khẩu, https://baodongnai.com.vn/kinhte/202112/nong-san-un-u-vi-trung-quoc-dong-cua-khau-3095604/, truy cập ngày 04/7/2025.

2. Đinh Trung Tụng (2017), Những điểm mới cơ bản của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động.

3. Đinh Văn Cường, Thực hiện hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam, https://danchuphapluat.vn/thuc-hien-hop-dong-thuong-mai-khi-hoan-canh-thay-doi-co-ban-theo-phap-luat-viet-nam, truy cập ngày 04/7/2025.

4. Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - bản án và bình luận bản án, Tập 2, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Nguyễn Thị Thu Trang (2018), Bảo đảm quyền tự do hợp đồng trong tình huống “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí Luật học, số 10/2018.

6. Schwenzer, I., Muñoz, E. (2019), Duty to renegotiate and contract adaptation in case of hardship, Uniform Law Review, 24(1).

7. Trần Chí Thành, Bùi Thị Quỳnh Trang (2020), Áp dụng quy định của pháp luật về sự kiện bất khả kháng và thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong bối cảnh dịch Covid-19 tại Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 43/2020.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (439) tháng 10/2025))

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Tóm tắt: Trí tuệ nhân tạo đang trở thành nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng khung pháp lý tương xứng. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này còn tồn tại những thách thức nhất định. Để giải quyết các vấn đề này, nghiên cứu đề xuất mô hình pháp lý ba lớp nhằm kiến tạo hành lang pháp lý đồng bộ, có khả năng thích ứng, qua đó, cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới công nghệ và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm sự phát triển bền vững của trí tuệ nhân tạo trong khu vực công.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Tóm tắt: Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các rủi ro về xâm phạm dữ liệu cá nhân của các chủ thể, đặc biệt khi tham gia vào hoạt động thương mại điện tử, cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, bảo vệ dữ liệu cá nhân đang trở thành vấn đề cấp thiết trong kỷ nguyên số. Bài viết phân tích quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử, trọng tâm là Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, chỉ ra những tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật với mục tiêu bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển thương mại điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể trong môi trường số.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tóm tắt: Tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền công vụ vì Nhân dân, lấy Nhân dân làm gốc. Bài viết phân tích vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh về “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm” làm nền tảng cho hoạt động công vụ trong bối cảnh hiện nay, đồng thời, chỉ ra hạn chế trong thực thi pháp luật khi thiếu hành lang pháp lý phù hợp, dẫn đến tâm lý né tránh, sợ trách nhiệm của công chức. Từ đó, đề xuất giải pháp pháp lý nhằm bảo đảm pháp quyền, thúc đẩy sáng tạo, nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân.
Chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh Việt Nam - Từ quy định đến thực thi

Chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh Việt Nam - Từ quy định đến thực thi

Tóm tắt: Để chống lại các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh nhiều nước trên thế giới không chỉ quy định việc áp dụng các hình phạt đối với hành vi này, mà còn quy định về chính sách khoan hồng, theo đó, miễn hoặc giảm mức hình phạt đối với người cung cấp thông tin, chứng cứ cho cơ quan quản lý cạnh tranh về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Tiếp thu kinh nghiệm pháp luật cạnh tranh thế giới, Việt Nam đã quy định về chính sách khoan hồng tại Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018, tuy nhiên, tính khả thi của các chính sách này trên thực tế còn hạn chế. Thông qua việc nhận diện nội hàm và bản chất của chính sách khoan hồng, bài viết phân tích, so sánh về chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh của Việt Nam với một số nước, chỉ ra những vấn đề cần khắc phục để chính sách này thực thi hiệu quả trên thực tế.
Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong thời kỳ mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong thời kỳ mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đẩy mạnh cải cách tư pháp, yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ tư pháp vững mạnh, đủ phẩm chất và năng lực đang trở nên cấp thiết. Trước những tác động mạnh mẽ của quá trình hội nhập quốc tế và chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp, việc nghiên, cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ có ý nghĩa quan trọng, góp phần xác định cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp “vừa hồng, vừa chuyên”. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại. Kết quả cho thấy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới là yếu tố then chốt bảo đảm hiệu quả cải cách tư pháp và củng cố niềm tin của Nhân dân vào công lý.
Pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số

Pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong bối cảnh các nền tảng trực tuyến phát triển mạnh mẽ, hoạt động quảng cáo thương mại tại Việt Nam ngày càng đa dạng về hình thức, đối tượng tác động nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật hiện hành còn nhiều khoảng trống trong điều chỉnh hành vi quảng cáo trên môi trường số, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng. Trên cơ sở nghiên cứu, kinh nghiệm pháp luật một số quốc gia trên thế giới, bài viết làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số, chỉ ra những điểm hạn chế, từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về quảng cáo, tăng cường cơ chế giám sát và phối hợp giữa các cơ quan quản lý, hướng tới xây dựng môi trường quảng cáo số lành mạnh.
Thực tiễn áp dụng quy định tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài và một số kiến nghị

Thực tiễn áp dụng quy định tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài và một số kiến nghị

Tóm tắt: Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thay thế, ngoài Tòa án được điều chỉnh bởi Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc áp dụng các quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài, dẫn đến việc áp dụng và giải thích pháp luật thiếu nhất quán. Bài viết phân tích, làm rõ về việc áp dụng quy định trong tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài qua một số vụ việc thực tế để đánh giá tính hợp lý trong việc áp dụng; từ đó, đưa ra một số đề xuất bảo đảm tính thống nhất trong giải thích và áp dụng pháp luật.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số y tế đang diễn ra mạnh mẽ, hồ sơ sức khỏe điện tử không chỉ là công cụ nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe mà còn đặt ra thách thức lớn về bảo mật dữ liệu cá nhân. Mặc dù, hệ thống pháp luật hiện hành đã có những tiến bộ quan trọng, đặc biệt với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và các văn bản chuyên ngành của Bộ Y tế, song còn tồn tại những hạn chế về chuẩn mực kỹ thuật, quyền tiếp cận dữ liệu, nghĩa vụ bảo mật của nhân viên y tế và chế tài xử lý. Bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật và thực tiễn bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử ở Việt Nam, kế thừa kinh nghiệm quốc tế và đặt trong tổng thể chính sách chuyển đổi số y tế. Từ đó, đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi theo hướng đồng bộ, hiện đại và nhân văn, nhằm bảo đảm quyền riêng tư, tăng cường niềm tin xã hội và xây dựng hệ sinh thái y tế số an toàn, bền vững.
Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Tóm tắt: Những năm gần đây, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, còn nhiều bất cập trong quy định và tổ chức thực thi, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Nhà nước. Trên cơ sở đánh giá, thực trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu này đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong đào tạo luật - Cơ hội, thách thức và một số giải pháp

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong đào tạo luật - Cơ hội, thách thức và một số giải pháp

Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ hội và thách thức đặt ra cho hoạt động đào tạo luật trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang phát triển nhanh và tác động mạnh mẽ đến giáo dục pháp luật. Từ việc nhận diện các yêu cầu đổi mới theo định hướng của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu đánh giá tiềm năng ứng dụng của trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong đào tạo luật; đồng thời, chỉ ra những rủi ro liên quan như gian lận học thuật, sai lệch thông tin, định kiến thuật toán và các vấn đề đạo đức, pháp lý. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện khi tích hợp trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong đào tạo luật tại Việt Nam.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống hàng giả tại Việt Nam

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống hàng giả tại Việt Nam

Tóm tắt: Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, giải pháp quyết liệt về phòng, chống hàng giả, tuy nhiên, tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và hình thức. Bài viết nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng vi phạm hàng giả và những khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng, chống hàng giả tại Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật thu hút chuyên gia pháp luật Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện chính sách, pháp luật thu hút chuyên gia pháp luật Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Bài viết phân tích sự cần thiết phải thu hút và trọng dụng chuyên gia, trí thức, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia pháp luật Việt Nam ở nước ngoài, nhằm tạo đột phá trong xây dựng và phát triển đất nước. Trên cơ sở phân tích, đánh giá một số quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện cho thấy chính sách thu hút chuyên gia pháp luật ở nước ngoài của Việt Nam chưa hiệu quả, chưa khai thác được tiềm năng khoa học, trí thức của kiều bào. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp mang tính đột phá, gồm hoàn thiện cơ chế pháp lý, thiết lập tiêu chí, tiêu chuẩn lựa chọn, ban hành chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút và phát huy tối đa vai trò của lực lượng này phục vụ xây dựng, phát triển đất nước.
Một số vấn đề về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật tại Việt Nam - thực trạng và giải pháp

Một số vấn đề về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật tại Việt Nam - thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, vấn đề phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật là yêu cầu quan trọng được Đảng và Nhà nước đặt biệt quan tâm. Ngày 27/6/2024, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 178-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, hiện, các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật chưa quy định cụ thể, rõ ràng. Bài viết nghiên cứu một số vấn đề về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này.
Hoàn thiện pháp luật về cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú

Hoàn thiện pháp luật về cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú

Tóm tắt: Thời gian qua, nhiều cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, đặc biệt là các cơ sở nhỏ lẻ, chưa tuân thủ nghiêm các điều kiện về an ninh, trật tự; một số cơ sở hoạt động không phép hoặc cố tình lợi dụng “kẽ hở” của pháp luật để không thực hiện đúng các quy định pháp luật đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú. Từ thực tiễn này, bài viết nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn - thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn - thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn xét xử liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp không có thỏa thuận về chế độ tài sản. Trên cơ sở phân tích khung pháp lý, các nguyên tắc chia tài sản và một số bản án điển hình, nghiên cứu làm rõ những vướng mắc như xác định tài sản chung - riêng, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung khi ly hôn theo hướng công bằng và hiệu quả hơn.

Theo dõi chúng tôi trên: