Thứ năm 28/05/2026 00:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu về điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định pháp luật Việt Nam, sử dụng các quyết định, bản án và các vụ việc diễn ra trên thực tế để làm rõ nội dung khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghiên cứu cho thấy, quy định pháp luật về hoàn cảnh thay đổi cơ bản hiện nay chưa thật sự phù hợp với thực tiễn. Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, nghiên cứu làm rõ một số vấn đề bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nội dung này.

Từ khóa: hợp đồng; hoàn cảnh thay đổi cơ bản; pháp luật Việt Nam.

Abstract: The article focuses on the research on the conditions for determining the circumstances of fundamental change according to the provisions of Vietnamese law, using decisions, judgments and cases that have occurred in practice to clarify the content of Clause 1, Article 420 of the 2015 Civil Code. The research shows that the current legal provisions on fundamental change are not really suitable to reality. Based on theory and practice, the research clarifies a number of inadequacies and makes recommendations to improve the legal provisions on this content.

Keywords: Contract; circumstances of fundamental change; Vietnamese law.

Đặt vấn đề

Luật quốc tế ghi nhận nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế (pacta sunt servanda), nguyên tắc này ràng buộc các bên tham gia vào hợp đồng phải thực hiện đúng và đủ các điều khoản đã cam kết. Thông thường, tại thời điểm giao kết hợp đồng, lợi ích của các bên đều cân bằng, tuy nhiên, vì nhiều lý do khiến cho lợi ích của các bên không còn như ban đầu[1], dẫn đến mục đích của các bên không thể đạt được. Vì vậy, quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản và thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là quy định thực tế và cần thiết trong pháp luật dân sự.

Trên tinh thần bảo đảm công bằng lợi ích các bên, pháp luật đã dự liệu về trường hợp thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản quy định tại Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm loại bỏ sự không công bằng lợi ích giữa các bên, khắc phục tình trạng nếu tiếp tục hợp đồng thì một bên sẽ bị ảnh hưởng lợi ích nghiêm trọng[2].

Nghiên cứu này phân tích quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về việc xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản, đồng thời, liên hệ với việc áp dụng pháp luật trong các quyết định, bản án của Tòa án để làm rõ nội dung các vấn đề, cũng như tham khảo quy định pháp luật nước ngoài để đưa ra kiến nghị hoàn thiện.

1. Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Theo khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015, hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau:

1.1. Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng

Bộ luật Dân sự năm 2015 không xác định “nguyên nhân khách quan”, tuy nhiên, quy định này nhằm tạo điều kiện cho các bên sửa đổi hợp đồng. Từ đó, có thể hiểu, nguyên nhân khách quan là các yếu tố, trở ngại vượt khỏi sự kiểm soát của các bên, gây cản trở thực hiện hợp đồng dẫn đến vi phạm nghĩa vụ. Tính khách quan ở điều kiện này không nên hiểu theo hướng các sự vật, hiện tượng tồn tại độc lập với ý thức con người, không phụ thuộc vào ý thức con người (định nghĩa của triết học Mác - Lênin) bởi hợp đồng mang tính ràng buộc giữa các bên tham gia. Theo đó, yếu tố khách quan cần được hiểu theo nghĩa hẹp là yếu tố không phải do sự tác động của các bên trong hợp đồng. Điều đó đồng nghĩa với việc yếu tố khách quan có thể là các tác động từ tự nhiên (thiên tai, bão lũ, dịch bệnh…) hoặc do người thứ ba không trong hợp đồng (cơ quan nhà nước, người không trong hợp đồng tác động vào các bên trong hợp đồng…).

Thực tiễn xét xử cũng xác định nguyên nhân khách quan có thể là yếu tố tự nhiên hoặc từ con người.

Tại Bản án số 32/2023/KDTM-PT ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xác định, dịch bệnh Covid-19 là nguyên nhân khách quan xuất phát từ tự nhiên: trước tình hình dịch bệnh Covid-19, bị đơn có Thông báo về việc trả nhà xưởng từ ngày 05/8/2022 là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong trường hợp này, nguyên nhân khách quan là yếu tố tự nhiên, không có sự tác động từ phía con người.

Tại Bản án số 121/2023/DS-PT ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, nguyên nhân khách quan có yếu tố con người là các quyết định của Ủy ban nhân dân (UBND) dẫn đến các bên không đạt được mục đích ban đầu, cụ thể “mục đích mua bán căn hộ, thời gian sử dụng đất được Nhà nước công nhận trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá trình thi công và bàn giao căn hộ thực tế,… đã thay đổi do nguyên nhân khách quan so với thời điểm Công ty Đ và bà Huỳnh Thị Hà T giao kết hợp đồng và các bên tham gia hợp đồng đều không thể lường trước về sự thay đổi này”.

Về cơ bản, Tòa án đều nhận định theo hướng nguyên nhân trên không mang tính chủ quan, mà là các yếu tố tự nhiên hoặc người thứ ba không trong hợp đồng - quan điểm này cũng được đa số các nhà nghiên cứu ủng hộ[3].

1.2. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh

Đây là điều kiện quan trọng, phản ánh bản chất của quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Cụ thể, điều kiện này đặt ra yêu cầu thay đổi về hoàn cảnh là những thay đổi mà các bên tham gia vào hợp đồng không thể lường trước, không thể biết trước được.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “các bên không thể lường trước được” sẽ phát sinh yêu cầu tất cả các bên tham gia hợp đồng phải không thể lường trước được hoàn cảnh sẽ thay đổi. Như vậy, nếu một bên có thể lường trước hoàn cảnh sẽ thay đổi thì điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ không được đáp ứng. Quy định này nhằm cân bằng lợi ích của các bên, buộc bên không/ít bị ảnh hưởng chia sẻ lợi ích với bên bị ảnh hưởng. Bởi, thông thường, bên không/ ít bị ảnh hưởng không sẵn sàng chia sẻ một phần lợi ích cho bên bị ảnh hưởng (vì việc chia sẻ lợi ích sẽ không đạt được mục đích ban đầu của hợp đồng của bên không/ít bị ảnh hưởng). Do đó, nếu quy định bên không/ ít bị ảnh hưởng “không thể lường trước được” là điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản thì bên không/ít bị ảnh hưởng chỉ cần lập luận rằng, sự thay đổi đã được dự trù từ trước, lỗi là do bên có lợi ích bị ảnh hưởng không dự trù được, vì vậy, không đáp ứng điều kiện để xác định “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”. Mục đích cân bằng lợi ích của các bên sẽ không còn tồn tại vì quyền xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản thuộc về bên có lợi ích không/ít bị ảnh hưởng.

Khi so sánh với điểm b Điều 6.2.2 Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng Thương mại Quốc tế năm 2016 cho thấy, sự kiện dẫn đến hoàn cảnh thay đổi cơ bản là sự kiện mà bên gặp bất lợi không thể dự liệu hợp lý tại thời điểm giao kết hợp đồng. Vậy, Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2016 cũng không căn cứ vào khả năng lường trước về hoàn cảnh thay đổi của tất cả các bên mà chỉ dựa trên khả năng dự liệu về hoàn cảnh thay đổi của bên gặp bất lợi tại thời điểm giao kết hợp đồng. Đây là điểm bất cập trong quy định pháp luật Việt Nam và cần sửa đổi, bổ sung.

1.3. Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác

Có quan điểm cho rằng, điều kiện này không thực sự cần thiết vì mang nhiều đặc điểm của một giả định, đặc biệt là giả định về ý chí vô hình nên trường hợp xảy ra tranh chấp thì rất khó để giải quyết[4]. Tuy nhiên, đây là điều kiện quan trọng, phản ánh bản chất của quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Theo đó, các nhà làm luật yêu cầu trong trường hợp các bên biết trước về hoàn cảnh thay đổi lớn và hệ quả là các bên đã không giao kết hợp đồng hoặc giao kết với nội dung hoàn toàn khác cho thấy đây là một giả định. Mặc dù vậy, giả định này không phải không có căn cứ, vì trong thực tiễn vẫn có thể chứng minh giả định này là hợp lý thông qua sự giảm sút lợi ích hoặc có thiệt hại thực tế mà bên bị ảnh hưởng phải gánh chịu, từ đó cho rằng, hợp đồng không được giao kết hoặc giao kết với nội dung hoàn toàn khác. Cụ thể:

Trường hợp thứ nhất, bên bị ảnh hưởng có thể chỉ ra sự giảm sút lợi ích mà các bên hướng đến như giá trị nhận lại khi thực hiện hợp đồng vô cùng thấp, ảnh hưởng đến khả năng duy trì hoạt động kinh doanh…

Ví dụ: giữa tháng 02/2020, A giao kết hợp đồng thuê xe của B nhằm mục đích tổ chức tour du lịch trong tháng 3/2020. Cuối tháng 02/2020, do ảnh hưởng của bão, A không thể tổ chức tour du lịch, nên A không có doanh thu. Đồng thời, nếu tiếp tục hợp đồng, A vẫn phải thanh toán tiền thuê xe cho B. Lúc này, A có thể viện dẫn lý do vì ảnh hưởng tiêu cực của bão nên A không thể sử dụng xe đã thuê của B, nghĩa là phía A đã bị giảm sút về mặt lợi ích nên trường hợp này có thể xem xét là hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp thứ hai, bên bị ảnh hưởng có thể chỉ ra các thiệt hại thực tế đã xảy ra để lập luận rằng, các thiệt hại này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của mình, do đó, nếu thiệt hại lường trước được thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc giao kết với nội dung này hoàn toàn khác.

Ví dụ: tháng 10/2021, thấy lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu một mặt hàng nông sản nên công ty A đã thu mua từ hợp tác xã B với giá 30.000 đồng/kg. Đợt hàng xuất khẩu đầu tiên của công ty A sang Trung Quốc không thể thực hiện được do Trung Quốc tạm thời đóng cửa khẩu, làm cho hàng nghìn xe vận chuyển nông sản bị ùn ứ tại cửa khẩu nhiều ngày, dẫn đến phát sinh chi phí bảo quản cao. Tại thời điểm có thông tin Trung Quốc đóng cửa khẩu giao thương, các thương lái không tiếp tục thu mua nông sản của hợp tác xã B, nên giá nông sản giảm còn 5.000 đồng/kg. Do thời gian bảo quản nông sản tương đối ngắn, nên công ty A buộc phải cho xe vận chuyển quay về để tiêu thụ tại thị trường Việt Nam với giá 5.000 đồng/kg (trong khi giá nhập là 30.000 đồng/kg) dẫn đến giảm sút về mặt lợi ích kinh tế[5]. Vì vậy, công ty A có thể viện dẫn lý do bên cạnh sự giảm sút về mặt lợi ích kinh tế, công ty phải mất chi phí phát sinh để bảo quản nông sản - đây được xem là thiệt hại thực tế, nên có thể xem xét là hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Quy định trên không mới, thực tế đã xuất hiện trong pháp luật một số quốc gia. Điều 1195 Bộ luật Dân sự năm 1804 của Pháp quy định: “nếu một sự thay đổi hoàn cảnh không thể dự đoán tại thời điểm ký kết hợp đồng làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên quá tốn kém đối với một bên mà bên đó chưa chấp nhận chịu rủi ro này, bên đó có thể yêu cầu bên còn lại đàm phán lại hợp đồng. Trong quá trình đàm phán, bên này vẫn tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ của mình”. Điều 1467 Bộ luật Dân sự năm 1942 của Ý quy định: “Trong các hợp đồng thực hiện liên tục hoặc định kỳ hoặc có thực hiện trì hoãn, nếu nghĩa vụ của một bên trở nên quá nặng nề do sự xuất hiện của các sự kiện đặc biệt và không thể dự đoán trước, bên phải thực hiện nghĩa vụ đó có thể yêu cầu hủy bỏ hợp đồng, với các hiệu lực được quy định tại Điều 1458”.

1.4. Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên

Xét về việc xác định thiệt hại, nếu không có sự thay đổi nội dung hợp đồng, căn cứ tiêu chí thời điểm xảy ra thiệt hại, có thể phân loại thiệt hại thành hai nhóm gồm thiệt hại thực tế (thiệt hại đã xảy ra trên thực tế) và thiệt hại suy đoán (thiệt hại chưa xảy ra trên thực tế). Thiệt hại thực tế là các thiệt hại đã xảy ra, có thể định lượng cụ thể dựa trên các tổn thất phát sinh và có căn cứ chứng minh rõ ràng. Thiệt hại suy đoán là thiệt hại nằm trong dự trù, không thể định lượng cụ thể mà chỉ có thể ước lượng dựa trên những lập luận, giả định và chưa diễn ra nên không thể có căn cứ chứng minh.

Có quan điểm cho rằng, “việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên” là yếu tố cần thiết để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản, như Điều 1195 Bộ luật Dân sự năm 1804 của Pháp. Ngược lại, cũng có quan điểm cho rằng, không cần thiết chứng minh “việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên”, như quy định tại điểm b Điều 6.2.2 Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng Thương mại Quốc tế năm 2016. Điều này cho thấy, hiện có hai xu hướng quy định về việc có cần thiết chứng minh, tiếp tục hợp đồng ban đầu sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên để làm căn cứ xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay không. Nghiên cứu cho thấy, đây là nội dung không cần thiết để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Tại điểm d khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015, nhà làm luật dùng từ “sẽ” trong quy định “Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên”, cho thấy tính dự liệu xác định thiệt hại xảy ra trong tương lai để làm căn cứ áp dụng quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Tuy nhiên, quy định này dẫn đến bất cập buộc bên bị ảnh hưởng phải chứng minh có thiệt hại xảy ra trong tương lai, nghĩa là bên bị ảnh hưởng có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại sẽ xảy ra nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng. Nghiên cứu cho thấy, điều kiện này không hợp lý vì:

Một là, điều kiện này khó áp dụng, bởi các thiệt hại sẽ xảy ra là thiệt hại do các bên suy đoán, suy luận nên không thể định lượng cụ thể, không thể chứng minh rõ ràng, mà chỉ mang tính tương đối. Từ đó, phát sinh vấn đề, nếu thiệt hại được dự đoán không hợp lý thì Tòa án căn cứ vào đâu để giải quyết.

Hai là, quy định này chưa bao quát, vì một trong những căn cứ để xác định hoàn cảnh được xác định là thay đổi cơ bản là phải có thiệt hại sẽ xảy ra nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng. Vậy, nếu trong thời gian thực hiện hợp đồng, đã có thiệt hại diễn ra (do hoàn cảnh thay đổi) và tiếp tục hợp đồng mà không phát sinh thiệt hại thì không được xem là hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Theo đó, không thể áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 để điều chỉnh hợp đồng theo hướng cân bằng lợi ích của các bên để bù đắp lại phần thiệt hại đã diễn ra. Như vậy, điều này không đúng với tinh thần của quy định.

Ba là, điều kiện này đã được dự trù bởi quy định tại điểm c khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015: hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác. Bởi lẽ, theo logic, khi xác lập hợp đồng, các bên thường hướng đến lợi ích nhất định và giảm thiểu thiệt hại tối đa cho mình. Vì vậy, nội hàm của quy định “tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng” đã nằm trong quy định “hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác”. Do đó, không cần thiết buộc bên bị ảnh hưởng đưa ra con số cụ thể về thiệt hại để yêu cầu đàm phán sửa đổi hợp đồng.

Thực tiễn xét xử, Tòa án cũng không dựa vào điều kiện “việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên”. Trong các vụ tranh chấp liên quan đến hoàn cảnh thay đổi cơ bản, các bên và Tòa án thường không chứng minh sẽ có thiệt hại xảy ra nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng, mà chỉ xem xét hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác, nghĩa là, chỉ cần xem xét về sự giảm sút về mặt lợi ích hoặc thiệt hại đã diễn ra trên thực tế.

Tại Bản án số 66/2023/DS-PT ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông: theo hợp đồng đặt cọc ngày 22/4/2022, hai bên thỏa thuận ông D đặt cọc cho bà M để nhận chuyển nhượng diện tích đất 1.000m2 là một phần diện tích đất của các thửa đất số 04, 21. Trong thời gian gia hạn thực hiện hợp đồng đặt cọc, bà M đã yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục tách thửa. Tuy nhiên, tại Kết luận Thanh tra số 99/KL-TTr thể hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định pháp luật. Do đó, ngày 14/9/2022, UBND huyện Đ đã ban hành Quyết định về việc thu hồi 26.880m2 đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 105 của hộ ông Lý Ngọc V (chồng bà M). Với các tình tiết trên, có cơ sở xác định, để bảo đảm việc giao kết và thực hiện hợp đồng, bên nhận cọc phải tiến hành làm thủ tục tách thửa. Tuy nhiên, sau khi giao kết hợp đồng đặt cọc, đến ngày 14/9/2022, UBND huyện Đ đã ban hành quyết định thu hồi đất. Như vậy, nguyên nhân dẫn đến việc bà M không thực hiện được nghĩa vụ là do hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định tại khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bà M không có lỗi trong việc thực hiện hợp đồng đặt cọc vì việc không tách thửa được là do yếu tố khách quan.

Bản án số 121/2023/DS-PT ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng lập luận: “cụ thể, mục đích mua bán căn hộ, thời gian sử dụng đất được Nhà nước công nhận trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá trình thi công và bàn giao căn hộ thực tế đã thay đổi do nguyên nhân khách quan so với thời điểm Công ty Đ và bà Huỳnh Thị Hà T giao kết hợp đồng và các bên tham gia hợp đồng đều không thể lường trước về sự thay đổi này”.

Qua các vụ việc trên cho thấy, quy định về xác định thiệt hại trong tương lai là không cần thiết. Trong thực tiễn, Tòa án và các bên dường như không quan tâm đến việc tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ dẫn đến thiệt hại như thế nào, mà chỉ quan tâm đến hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác.

Nghiên cứu cho thấy, không bắt buộc bên bị thiệt hại phải chứng minh “việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên” không đồng nghĩa với việc trở thành lý do để thoát khỏi hợp đồng mà là giảm bớt nghĩa vụ chứng minh đối với bên bị thiệt hại. Bởi lẽ, trên thực tế, nếu thiệt hại nghiêm trọng mang tính chất của hoàn cảnh thay đổi cơ bản đã diễn ra với một bên thì thực chất lợi ích từ hợp đồng đối với họ không còn như kỳ vọng ban đầu. Do đó, cần điều chỉnh hợp đồng để cân bằng lợi ích này, dù việc tiếp tục thực hiện hợp đồng gây thiệt hại hay không. Điều này mang bản chất chia sẻ thiệt hại hơn so với việc trốn tránh nghĩa vụ hợp đồng.

Ví dụ: A thuê quyền sử dụng đất của B với phí thuê 100 triệu/tháng để đặt nhà máy sản xuất, trong thời hạn thực hiện hợp đồng, tình hình dịch Covid-19 diễn ra phức tạp ở Việt Nam và theo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện giãn cách xã hội trong khoảng thời gian nhất định làm cho nhà máy của A phải tạm ngưng hoạt động, sau khi hết giãn cách xã hội, công việc kinh doanh của A trở lại bình thường. Vậy, nếu A thực hiện quyền khởi kiện tại thời điểm vừa mới giãn cách xã hội, A có thể chứng minh việc tiếp tục hợp đồng sẽ dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng, từ đó, làm cơ sở đề nghị Tòa án sửa đổi hợp đồng để cân bằng lợi ích giữa các bên. Tuy nhiên, nếu thời điểm A yêu cầu Tòa án sửa đổi hợp đồng để cân bằng lợi ích là thời điểm sau khi hết giãn cách xã hội thì A không thể chứng minh việc tiếp tục hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng để làm cơ sở yêu cầu giảm tiền thuê mặt bằng mặc dù đã bị thiệt hại vì tạm ngưng hoạt động sản xuất một thời gian. Qua đó cho thấy, chứng minh thiệt hại sẽ xảy ra nếu tiếp tục hợp đồng ban đầu dường như bất khả thi nếu bên bị thiệt hại thực hiện quyền khởi kiện sau khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản đã qua đi.

1.5. Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích

Điều kiện này xuất phát từ nguyên tắc thiện chí khi thực hiện hợp đồng ghi nhận tại khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể, điều kiện này gồm hai dấu hiệu “bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng” và “không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích”.

Theo đó, nghĩa vụ ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích là nghĩa vụ của bên bị ảnh hưởng. Điều này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc thiện chí vì bên cạnh quyền yêu cầu thay đổi hoặc chấm dứt hợp đồng của bên bị ảnh hưởng, Bộ luật Dân sự năm 2015 còn quy định nghĩa vụ tương ứng để hưởng quyền trên là phải áp dụng các biện pháp cần thiết để hạn chế lợi ích bị ảnh hưởng.

Khả năng đánh giá và áp dụng biện pháp ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích của mỗi bên trong hợp đồng phụ thuộc vào quan điểm của mỗi bên. Nghĩa là, việc áp dụng biện pháp nào đó có thể không trong khả năng của bên bị ảnh hưởng nhưng lại trong khả năng của bên kia. Điều này cho thấy, dưới góc độ đánh giá của mỗi bên, “mọi biện pháp cần thiết” cũng chỉ mang tính tương đối. Tuy nhiên, nội hàm quy định chỉ đề cập đến bên có lợi ích bị ảnh hưởng và không đặt ra yêu cầu đối với bên kia. Qua đó cho thấy, Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ yêu cầu bên bị ảnh hưởng đánh giá, áp dụng các biện pháp cần thiết trong khả năng, phù hợp với tính chất hợp đồng và chỉ căn cứ vào khả năng để áp dụng các biện pháp của bên có lợi ích bị ảnh hưởng. Quy định trên tương đối ổn định, công bằng, khách quan vì chỉ xem xét khả năng ngăn chặn, giảm thiểu lợi ích bị ảnh hưởng của bên bị ảnh hưởng để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản cuối cùng nhằm mục đích bảo vệ bên thiện chí thực hiện hợp đồng, hạn chế các yêu cầu vô lý của bên kia. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa cho biết trường hợp bên bị ảnh hưởng không thể thực hiện các biện pháp cần thiết để hạn chế sự ảnh hưởng thì có đáp ứng điều kiện trên hay không. Bởi lẽ, Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định “đã áp dụng” mà không quy định “không thể áp dụng”, điều này dẫn đến hệ quả, nếu bên bị ảnh hưởng không thể áp dụng các biện pháp cần thiết thì không được xem là hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Nghiên cứu cho thấy, quy định này chưa chặt chẽ, vì trong nhiều trường hợp, khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên bị ảnh hưởng không thể áp dụng bất kỳ biện pháp nào để hạn chế lợi ích bị ảnh hưởng. Tại Bản án số 66/2023/DS-PT ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông đã phân tích: “việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên”. Theo đó, ông D là bên bị ảnh hưởng, ông D cũng không thể thực hiện bất kỳ biện pháp nào để chống đối quyết định của UBND nhằm ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích nhưng Tòa án vẫn tuyên theo hướng hoàn cảnh có sự thay đổi cơ bản. Điều đó cho thấy, nếu áp dụng “cứng” Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp này không được xem là hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Tuy nhiên, để bảo đảm cân bằng lợi ích của các bên, Tòa án vẫn theo hướng xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Đối chiếu với quy định của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng Thương mại Quốc tế năm 2016 cho thấy, liên quan đến nghĩa vụ ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích trong hợp đồng, Bộ nguyên tắc căn cứ vào sự kiện dẫn đến hoàn cảnh thay đổi cơ bản nằm ngoài sự kiểm soát của bên bất lợi, nghĩa là hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức không thể áp dụng các biện pháp cần thiết, trong khả năng cho phép của bên bất lợi để vượt qua[6].

2. Một số kiến nghị

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản là quy định cần thiết nhằm bảo đảm lợi ích của các bên tham gia hợp đồng khi hoàn cảnh có sự thay đổi cơ bản. Từ những phân tích và thực tiễn trên, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật như sau:

Thứ nhất, sửa đổi điều kiện “tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh”. Khi quy định như vậy, một trong những điều kiện để Tòa án xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản là “các bên” phải không lường trước được, nếu một trong các bên lường trước được thì không thể áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như đã phân tích tại phần 1.2, nghiên cứu kiến nghị sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: “Tại thời điểm giao kết hợp đồng, bên bị thiệt hại không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh”.

Thứ hai, kiến nghị bỏ điều kiện “việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên”. Vì quy định này dẫn đến bất cập buộc bên bị ảnh hưởng phải chứng minh có thiệt hại xảy ra trong tương lai - thiệt hại không thể định lượng cụ thể mà chỉ dựa trên những lập luận, giả định, suy đoán và vì chưa xảy ra nên không thể có căn cứ chứng minh. Bởi lẽ, quy định này khó áp dụng, chưa bao quát các trường hợp có thể xảy ra và đã được dự trù bởi quy định khác. Thực tiễn xét xử cho thấy, Tòa án không áp dụng quy định này để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản như được phân tích ở trên; đồng thời, pháp luật quốc tế và quy định pháp luật một số nước như Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng Thương mại Quốc tế năm 2016 cũng không xem việc tiếp tục hợp đồng ban đầu sẽ gây thiệt hại là dấu hiệu xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Vì vậy, điều kiện tại điểm d khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 kém hiệu quả khi áp dụng.

Thứ ba, sửa đổi điều kiện “bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích”. Như đã phân tích, nếu giữ nguyên quy định như vậy thì trường hợp bên bị ảnh hưởng vì những lý do khách quan không thể thực hiện các biện pháp cần thiết để hạn chế sự ảnh hưởng sẽ không được xem là “đã áp dụng mọi biện pháp…” và về mặt lý thuyết sẽ không đáp ứng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, quy định này không hợp lý và không được Tòa án áp dụng.

Tham khảo kinh nghiệm pháp luật một số nước cho thấy, liên quan đến nghĩa vụ ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích trong hợp đồng, một trong những căn cứ xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản là sự kiện nằm ngoài sự kiểm soát của bên bất lợi[7], nghĩa là hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức không thể áp dụng các biện pháp cần thiết, trong khả năng cho phép của bên bất lợi để vượt qua. Vì vậy, nghiên cứu kiến nghị sửa đổi theo hướng: “trừ trường hợp không thể áp dụng bất cứ biện pháp cần thiết nào để ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích, bên có lợi ích bị ảnh hưởng phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng để ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích”.

Kết luận

Cơ chế điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là ngoại lệ của nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết với mục đích cho phép Tòa án sửa đổi hợp đồng để cân bằng lợi ích của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản so với thời điểm giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy, quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản của Bộ luật Dân sự năm 2015 còn một số hạn chế về điều kiện áp dụng. Nghiên cứu này đã đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nội dung này để bảo đảm lợi ích của các chủ thể bị ảnh hưởng trong hợp đồng./.

Nguyễn Công Danh

Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Nguyễn Thị Thu Trang (2018), Bảo đảm quyền tự do hợp đồng trong tình huống “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí Luật học, số 10/2018, tr. 53.

[2]. Đinh Trung Tụng (2017), Những điểm mới cơ bản của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, tr. 184.

[3]. Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - bản án và bình luận bản án, Tập 2, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 517; Đinh Văn Cường, Thực hiện hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam, https://danchuphapluat.vn/thuc-hien-hop-dong-thuong-mai-khi-hoan-canh-thay-doi-co-ban-theo-phap-luat-viet-nam, truy cập ngày 04/7/2025.

[4]. Trần Chí Thành, Bùi Thị Quỳnh Trang (2020), Áp dụng quy định của pháp luật về sự kiện bất khả kháng và thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong bối cảnh dịch Covid-19 tại Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 43/2020, tr. 97 - 98.

[5]. Bình Nguyên (2021), Nông sản ùn ứ vì Trung Quốc đóng cửa khẩu, https://baodongnai.com.vn/kinhte/202112/nong-san-un-u-vi-trung-quoc-dong-cua-khau-3095604/, truy cập ngày 04/7/2025.

[6]. Schwenzer, I., Muñoz, E. (2019), Duty to renegotiate and contract adaptation in case of hardship, Uniform Law Review, 24(1), 149 - 174.

[7]. Schwenzer, I., Muñoz, E. (2019), tlđd, tr. 149 - 174.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bình Nguyên (2021), Nông sản ùn ứ vì Trung Quốc đóng cửa khẩu, https://baodongnai.com.vn/kinhte/202112/nong-san-un-u-vi-trung-quoc-dong-cua-khau-3095604/, truy cập ngày 04/7/2025.

2. Đinh Trung Tụng (2017), Những điểm mới cơ bản của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động.

3. Đinh Văn Cường, Thực hiện hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam, https://danchuphapluat.vn/thuc-hien-hop-dong-thuong-mai-khi-hoan-canh-thay-doi-co-ban-theo-phap-luat-viet-nam, truy cập ngày 04/7/2025.

4. Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - bản án và bình luận bản án, Tập 2, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Nguyễn Thị Thu Trang (2018), Bảo đảm quyền tự do hợp đồng trong tình huống “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí Luật học, số 10/2018.

6. Schwenzer, I., Muñoz, E. (2019), Duty to renegotiate and contract adaptation in case of hardship, Uniform Law Review, 24(1).

7. Trần Chí Thành, Bùi Thị Quỳnh Trang (2020), Áp dụng quy định của pháp luật về sự kiện bất khả kháng và thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong bối cảnh dịch Covid-19 tại Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 43/2020.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (439) tháng 10/2025))

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Tóm tắt: Trong bối cảnh Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) chính thức có hiệu lực, việc bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong áp dụng các biện pháp giáo dục mang tính hướng thiện là yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích, làm rõ các quy định của Luật về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nhằm đánh giá sự tương thích giữa quy định hiện hành và các chuẩn mực tư pháp quốc tế; chỉ ra những điểm chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật và các rủi ro tiềm ẩn đối với việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật, tăng tính khả thi và nâng cao hiệu quả giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên về vấn đề này.
Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Tóm tắt: Chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn là chế định pháp luật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do kinh doanh và sự ổn định nội bộ của doanh nghiệp. Trong bối cảnh yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư ngày càng được chú trọng, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ chuyển nhượng vốn là rất cần thiết. Nghiên cứu phân tích, làm rõ các nguyên tắc, điều kiện chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật hiện hành; về tính phù hợp giữa quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng; chỉ ra một số hạn chế, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường tính linh hoạt, minh bạch, rõ ràng của cơ chế chuyển nhượng vốn và mở rộng quyền tự thỏa thuận trong điều lệ công ty.
Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Tóm tắt: Luật Việc làm năm 2025 ghi nhận nhiều sửa đổi quan trọng đối với bảo hiểm thất nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động đang biến đổi mạnh mẽ và gia tăng tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội. Nghiên cứu phân tích một số điểm mới nổi bật và các vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn của Luật Việc làm năm 2025 liên quan đến đối tượng tham gia, chế độ thụ hưởng, điều kiện, mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Tóm tắt: Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã ghi nhận hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo cùng với một số hoạt động xã hội khác như y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo. Đây là nội dung quan trọng, vì không chỉ liên quan đến bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn gắn với khả năng huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục. Tuy nhiên, nếu nhìn từ thực tiễn giáo dục đại học, quy định pháp luật hiện hành còn một số điểm cần làm rõ, nhất là phạm vi của hoạt động giáo dục, ranh giới giữa hoạt động giáo dục với đào tạo tôn giáo và mối quan hệ với pháp luật chuyên ngành giáo dục. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với Luật Giáo dục đại học năm 2025, nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong không gian giáo dục đại học, đồng thời, nhận diện những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện nội dung này theo hướng rõ hơn và dễ áp dụng hơn.
Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Tóm tắt: Trách nhiệm giải trình giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch của quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý giáo dục còn tồn tại một số hạn chế về chất lượng, phân bổ và sử dụng nguồn lực, đội ngũ giáo viên cũng như nguy cơ phát sinh tiêu cực, cho thấy trách nhiệm giải trình chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Bài viết phân tích nhu cầu thực hiện trách nhiệm giải trình, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong thời gian tới.
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh công tác xây dựng pháp luật được xác định là khâu đột phá nhằm hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện còn một số hạn chế như mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu rõ ràng, thiếu ổn định và chưa thực sự tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực phát triển. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, làm rõ các biểu hiện hạn chế và nguyên nhân chủ yếu từ góc độ thể chế, tổ chức thực hiện và năng lực xây dựng pháp luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao chất lượng thể chế trong kỷ nguyên mới.
Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Vợ, chồng bình đẳng đối với tài sản chung là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù quan hệ hôn nhân, việc thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung là vấn đề ngày càng đa dạng, phức tạp. Nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên, bài viết phân tích, làm rõ nội hàm về quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung, từ đó, chỉ ra những điểm còn hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật và đề xuất kiến nghị hoàn thiện, hướng tới phát huy bền vững chức năng kinh tế của gia đình trong bối cảnh hội nhập.
Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Tình trạng tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu tại ngân hàng thương mại ngày càng phổ biến, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định cụ thể, dẫn đến khó khăn trong quản lý và xử lý số dư các tài khoản này. Bài viết phân tích, làm sáng tỏ khái niệm tài khoản không xác định được chủ sở hữu, đồng thời, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, từ đó, đề xuất xây dựng khung pháp lý thống nhất, minh bạch điều chỉnh các tài khoản này.
Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Viên chức, các nghị định và văn bản liên quan. Tuy nhiên, quy định về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập còn những hạn chế, bất cập như tiêu chí chưa cụ thể theo vị trí việc làm, các tiêu chí còn định tính, chưa phản ánh đặc thù của viên chức giảng dạy và viên chức khác trong trường đại học công lập. Bài viết phân tích quy định của pháp luật hiện hành về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và gia tăng nhanh chóng của tội phạm công nghệ cao, dữ liệu điện tử ngày càng trở thành nguồn chứng cứ quan trọng trong tố tụng hình sự. Bài viết nghiên cứu việc thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự, tập trung vào bất cập trong quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025). Trên cơ sở phân tích pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn, bài viết đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ và nâng cao hiệu quả thu thập, bảo quản, giám định dữ liệu điện tử, bảo đảm tính hợp pháp và giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: