Từ khóa: viên chức; trường đại học công lập; tiêu chí đánh giá viên chức.
Abstract: The legal framework for evaluating civil servants in public universities is governed by various legal documents, such as the Law on Civil Servants, decrees, and related documents. However, the regulations on evaluation criteria for civil servants in public universities still have limitations and inadequacies, such as criteria that are not specific to job positions, and criteria that are qualitative and do not reflect the specific characteristics of teaching staff and other civil servants in public universities. This article analyzes the current legal regulations on evaluation criteria for civil servants in public universities, points out the limitations and inadequacies, and proposes solutions to improve the law.
Keywords: Civil servants; public universities; civil servant evaluation criteria.
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý viên chức trở thành yêu cầu cấp thiết. Quy định về tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức trong các trường đại học công lập góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức, tạo động lực phát triển và thực hiện mục tiêu đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Hiện, hoạt động đánh giá viên chức được điều chỉnh bởi Luật Viên chức năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2019 (Luật Viên chức năm 2010), Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 của Chính phủ về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 48/2023/NĐ-CP ngày 17/7/2023 của Chính phủ (Nghị định số 90/2020/NĐ-CP) và Quyết định số 1818/QĐ-BGDĐT ngày 30/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với đơn vị và công chức, viên chức, người lao động của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Quyết định số 1818/QĐ-BGDĐT). Vừa qua, Quốc hội đã thông qua một số luật, nghị quyết liên quan đến quản lý đội ngũ viên chức chuyên ngành[1], theo đó, điều chỉnh một số quy định phù hợp với đặc thù quản lý lĩnh vực như cơ chế tuyển dụng, sử dụng và hợp tác quốc tế lĩnh vực giáo dục, đào tạo... Đồng thời, có thể thấy, một số nội dung quản lý viên chức chưa quy định hoặc đã quy định tại Luật Viên chức năm 2010 nhưng không còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn[2]. Do đó, để đáp ứng yêu cầu đổi mới và phù hợp với các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan, ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Viên chức năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026; quy định về đánh giá viên chức của Luật Viên chức năm 2025 được thực hiện từ ngày 01/01/2027.
Mặc dù có khung pháp lý cơ bản, nhưng trên thực tế, quy định về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học còn nhiều hạn chế, bất cập. Bài viết phân tích quy định pháp luật hiện hành về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, bất cập cần khắc phục. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức nhằm nâng cao hiệu quả đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập.
1. Khái quát quy định pháp luật về đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập
Hệ thống pháp luật hiện hành về đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập được quy định tại Nghị định số 90/2020/NĐ-CP và Quyết định số 1818/QĐ-BGDĐT. Các tiêu chí đánh giá có thể chia thành hai nhóm:
Thứ nhất, tiêu chí chung về đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức trong các trường đại học công lập.
Điều 3 Nghị định số 90/2020/NĐ-CP và Điều 5 Quy chế đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với đơn vị và công chức, viên chức, người lao động của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo Quyết định số 1818/QĐ-BGDĐT quy định tiêu chí chung về đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức. Trong đó, hệ thống tiêu chí đánh giá cơ bản được đề cập, gồm: (i) về chính trị tư tưởng: yêu cầu viên chức phải chấp hành chủ trương, đường lối, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lập trường và đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân; (ii) về đạo đức, lối sống: nhấn mạnh việc không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, quan liêu và yêu cầu có lối sống trung thực, khiêm tốn, trong sáng; (iii) về tác phong, lề lối làm việc: đòi hỏi viên chức phải có trách nhiệm, năng động, sáng tạo, phương pháp làm việc khoa học, dân chủ và thái độ ứng xử chuẩn mực; (iv) về ý thức tổ chức kỷ luật: tập trung vào việc chấp hành sự phân công, thực hiện quy định nội quy, kê khai tài sản và báo cáo trung thực; (v) đánh giá kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao: có sự phân biệt rõ ràng giữa viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Điểm khác biệt giữa Nghị định số 90/2020/NĐ-CP và Quyết định số 1818/QĐ-BGDĐT thể hiện ở một số nội dung, cụ thể: tiêu chí đạo đức, lối sống, Quyết định số 1818/QĐ-BGDĐT sử dụng cụm từ “có hành vi trục lợi” thay vì chỉ liệt kê “cơ hội, vụ lợi” như Nghị định số 90/2020/NĐ-CP, thể hiện sự cụ thể hóa các hành vi vi phạm. Đặc biệt, Quyết định số 1818/QĐ-BGDĐT bổ sung tiêu chí “năng lực, uy tín; trách nhiệm nêu gương, sự gương mẫu của bản thân” đối với viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, trong khi Nghị định số 90/2020/NĐ-CP chưa đề cập rõ ràng. Sự điều chỉnh này cho thấy Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cụ thể hóa quy định để phù hợp với đặc thù ngành giáo dục, nơi yếu tố gương mẫu của người lãnh đạo có ý nghĩa quan trọng.
Thứ hai, tiêu chí về xếp loại chất lượng viên chức không giữ chức vụ quản lý trong các trường đại học công lập.
Hiện, pháp luật về tiêu chí đánh giá và xếp loại chất lượng viên chức trong các trường đại học công lập được quy định tại Nghị định số 90/2020/NĐ-CP và Quyết định số 1818/QĐ-BGDĐT, thể hiện sự tiến bộ trong quản lý nguồn nhân lực phục vụ dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục. Các tiêu chí xếp loại chất lượng viên chức theo các mức độ được quy định tại các điều 12, 13, 14, 15 Nghị định số 90/2020/NĐ-CP và tại các điều 18, 19, 20, 21 Quyết định số 1818/QĐ-BGDĐT. Nổi bật là phân tầng hai nhóm chủ thể, mỗi nhóm có bộ tiêu chí phù hợp với vai trò, trách nhiệm và tầm ảnh hưởng khác nhau trong cơ cấu tổ chức.
Đối với nhóm viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, tiêu chí đánh giá tập trung vào hiệu suất cá nhân và chất lượng công việc chuyên môn. Hệ thống bốn mức xếp loại được thiết kế theo nguyên tắc tăng dần về độ khó. Mức hoàn thành xuất sắc yêu cầu ít nhất 50% nhiệm vụ vượt mức, khuyến khích đổi mới, sáng tạo và phát huy tối đa năng lực cá nhân. Mức hoàn thành tốt bảo đảm 100% nhiệm vụ đạt chất lượng, thể hiện sự ổn định trong thực thi. Mức hoàn thành cơ bản cho phép sai số 20%, thừa nhận tính khách quan và những khó khăn bất khả kháng trong quá trình làm việc. Ngược lại, mức không hoàn thành nhiệm vụ khi có trên 50% các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ theo hợp đồng làm việc đã ký kết, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao trong năm chưa bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu quả. Đồng thời, gắn với các vi phạm về phẩm chất chính trị và kỷ luật, thể hiện nguyên tắc “đức trước tài” trong đánh giá viên chức.
Quyết định số 1818/QĐ-BGDĐT bổ sung tiêu chí “thái độ phục vụ nhân dân, doanh nghiệp” đối với vị trí tiếp xúc trực tiếp, phù hợp với bản chất ngành nghề có tính công ích cao. Trong đó, điều khoản “trừ trường hợp tự phát hiện và khắc phục xong hậu quả” đối với vi phạm kỷ luật thể hiện văn hóa quản lý nhân văn, khuyến khích tự giác và trách nhiệm, tạo cơ hội sửa chữa sai lầm.
Thứ ba, quy định về tiêu chí xếp loại viên chức quản lý trong các trường đại học công lập.
Viên chức quản lý được đánh giá theo nguyên tắc “trách nhiệm kép”, vừa năng lực cá nhân, vừa hiệu quả điều hành tập thể và kết quả hoạt động của đơn vị trực thuộc. Tiêu chí “100% đơn vị trực thuộc hoàn thành nhiệm vụ, trong đó 70% đạt mức tốt trở lên” không chỉ đo lường năng lực cá nhân, mà còn kiểm định khả năng tạo đồng thuận, phát triển đội ngũ và xây dựng văn hóa tổ chức. Yêu cầu này đặt ra thách thức cao, người lãnh đạo, quản lý phải bảo đảm sự đồng đều trong chất lượng các đơn vị.
Sự khác biệt giữa các mức xếp loại thể hiện rõ qua tỷ lệ định lượng: mức xuất sắc yêu cầu 50% chỉ tiêu vượt mức và 70% đơn vị thuộc/trực thuộc đạt tốt/xuất sắc; mức tốt yêu cầu 80% chỉ tiêu đúng chất lượng và duy trì tỷ lệ 70% đơn vị tốt/xuất sắc; mức hoàn thành cho phép đơn vị hoàn thành trên 70% chỉ tiêu và 70% đơn vị trực thuộc đạt yêu cầu. Đặc biệt, mức không hoàn thành không chỉ gắn với trên 50% các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ theo hợp đồng làm việc đã ký kết, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao trong năm chưa bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu quả, mà còn gồm trường hợp đơn vị thuộc, trực thuộc liên quan tham nhũng, thể hiện trách nhiệm của người đứng đầu không chỉ về hiệu quả, mà còn về tính liêm chính.
Quyết định số 1818/QĐ-BGDĐT đưa “phiếu tín nhiệm” vào tiêu chí đánh giá viên chức quản lý, quy định người có trên 50% phiếu tín nhiệm thấp bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ. Đây là bước tiến quan trọng trong dân chủ hóa quản lý, tạo cơ chế kiểm soát quyền lực từ dưới lên, hạn chế lối làm việc độc đoán, quan liêu, buộc người quản lý phải thực sự quan tâm đến lợi ích và tâm tư nguyện vọng của tập thể.
2. Thực trạng pháp luật về tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam
2.1. Một số kết quả đạt được
Thứ nhất, tính hệ thống, toàn diện trong quy định của pháp luật hiện hành về tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức trong các trường đại học công lập.
Về cơ bản, hiện, quy định của pháp luật về tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức trong các trường đại học công lập bảo đảm tương đối đầy đủ, trong đó, “hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cũng như những quy định có liên quan về đánh giá viên chức được ban hành và từng bước hoàn thiện đồng bộ, tạo cơ sở pháp lý cho việc đánh giá viên chức được thống nhất và có hiệu quả”[3]. Việc xây dựng 05 tiêu chí bao quát cả yếu tố chính trị, đạo đức, tác phong, kỷ luật và kết quả công việc cho thấy cách tiếp cận đa chiều, không chỉ tập trung vào năng lực chuyên môn, mà còn chú trọng phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị. Điều này phù hợp với quan điểm “đức - tài” truyền thống trong quản lý viên chức, đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ viên chức trong các trường đại học công lập vừa có năng lực chuyên môn, vừa có phẩm chất đạo đức tốt.
Thứ hai, quy định có sự phân biệt giữa viên chức lãnh đạo, quản lý và viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Đối với viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, yêu cầu cao hơn về khả năng quán triệt chính sách, duy trì kỷ luật, tổ chức kiểm tra, giám sát và xây dựng kế hoạch hoạt động. Đối với viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, tập trung đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ cụ thể về khối lượng, tiến độ, chất lượng và thái độ phục vụ. Sự phân biệt này bảo đảm tính công bằng và phù hợp với từng vị trí việc làm của viên chức trong các trường đại học công lập.
Thứ ba, quy định về tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức trong các trường đại học công lập gắn với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Các tiêu chí về đạo đức, lối sống được quy định chi tiết với việc liệt kê cụ thể các hành vi cần tránh như tham ô, tham nhũng, quan liêu, trục lợi, vụ lợi, suy thoái đạo đức, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Đặc biệt, việc yêu cầu không để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi là điểm sáng trong việc ngăn chặn tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong ngành giáo dục.
Thứ tư, tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức trong các trường đại học công lập cơ bản phù hợp với đặc thù.
Việc bổ sung tiêu chí “năng lực, uy tín; trách nhiệm nêu gương, sự gương mẫu của bản thân” đối với viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý rất phù hợp với bản chất của hoạt động đào tạo tại trường đại học, nơi sự gương mẫu của người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có tác động lớn đến chất lượng giảng dạy và môi trường sư phạm. Điều này thể hiện sự linh hoạt trong vận dụng quy định chung vào điều kiện cụ thể của ngành giáo dục nói chung và các trường đại học nói riêng.
2.2. Một số tồn tại, hạn chế
Mặc dù quy định của pháp luật về tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức trong các trường đại học công lập là cơ sở bảo đảm quyền lợi cho viên chức. Tuy nhiên, trên thực tế, pháp luật về tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức trong các trường đại học công lập còn tồn tại một số hạn chế, bất cập sau:
Thứ nhất, thiếu các quy định tiêu chí định lượng.
Điểm a khoản 4 Điều 25 Luật Viên chức năm 2025 quy định Chính phủ hướng dẫn việc xây dựng khung tiêu chí đánh giá đối với viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Do đó, thời gian tới, cần ban hành nghị định để xây dựng khung tiêu chí bảo đảm đánh giá viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và viên chức trong các trường đại học công lập nói riêng.
Hiện, Nghị định số 90/2020/NĐ-CP “quy định về tiêu chí xếp loại viên chức còn khá chung chung, thiếu cụ thể và chưa gắn với đặc thù trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức, nhất là đối với đạo đức nghề nghiệp, văn hóa ứng xử”[4]. Quy định về các hoạt động quản lý viên chức như tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, trả lương… theo vị trí việc làm chưa thống nhất[5]. Ví dụ, khi đánh giá và xếp loại chất lượng viên chức, căn cứ theo Nghị định số 90/2020/NĐ-CP thì chưa có đủ hành lang pháp lý để đánh giá kết quả thực hiện công việc theo vị trí việc làm. Trong khi đó, các tiêu chí theo Quyết định số 1818/QĐ-BGDĐT chủ yếu được căn cứ theo quy định của Nghị định số 90/2020/NĐ-CP.
Bên cạnh đó, Điều 12 và Điều 13 Nghị định số 90/2020/NĐ-CP quy định viên chức được xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nếu có tiêu chí chung được đánh giá ở mức độ “thực hiện tốt”; xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ nếu có tiêu chí chung được đánh giá ở mức “đáp ứng”. Mặc dù vậy, trong các tiêu chí đánh giá ở mức hoàn thành xuất sắc và mức hoàn thành tốt nhiệm vụ có tiêu chí “có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ”. Việc đánh giá các tiêu chí trên rất khó xác định vì thiếu căn cứ để định lượng[6].
Thứ hai, thiếu cơ chế phát hiện và xử lý vi phạm.
Mặc dù quy định pháp luật về tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức liệt kê nhiều hành vi tiêu cực cần tránh, như tham nhũng, quan liêu, trục lợi, suy thoái đạo đức, tự diễn biến, tự chuyển hóa, nhưng không đưa ra quy trình, tiêu chí cụ thể để nhận diện những biểu hiện này trong thực tế. Hiện, các hành vi như “vi phạm đạo đức nhà giáo”, thiếu khách quan, minh bạch trong đánh giá chất lượng sinh viên là những biểu hiện cụ thể của tiêu cực nhưng chưa được đề cập rõ ràng trong tiêu chí đánh giá. Hơn nữa, quy định chưa nêu rõ mức độ vi phạm làm căn cứ xếp loại, nên việc xử lý thiếu nhất quán, còn nể nang trong các trường đại học công lập.
Thứ ba, chưa có sự tham gia của các bên liên quan.
Đối với viên chức trong các trường đại học chủ yếu là giảng viên, sinh viên và phụ huynh là đối tượng trực tiếp chịu tác động của chất lượng giảng dạy và thái độ phục vụ, nhưng ý kiến của họ chưa được tích hợp vào quy trình đánh giá. Tiêu chí “thái độ phục vụ Nhân dân, doanh nghiệp” được đề cập nhưng chưa có cơ chế cụ thể thu thập, xử lý và phản ánh ý kiến của phụ huynh, sinh viên. Điều này làm giảm tính khách quan và thực chất của việc đánh giá, đồng thời, bỏ lỡ nguồn thông tin quan trọng để nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức giảng viên cũng như viên chức chuyên môn dùng chung và hỗ trợ, phục vụ.
Thứ tư, quy định chưa chú trọng đầy đủ đến các yếu tố đặc thù, thiếu các tiêu chí về đổi mới, sáng tạo và khả năng thích ứng với công nghệ trong bối cảnh chuyển đổi số.
Hiện, quy định đánh giá công chức và viên chức tách bạch rõ ràng về chế độ chính sách và quy chế pháp lý giữa những người làm việc trong khu vực hành chính (công chức) với khu vực sự nghiệp (viên chức), nên việc đánh giá, xếp loại chất lượng, thi đua, khen thưởng viên chức cũng cần có những quy định pháp luật đặc thù[7]. Trong các trường đại học, bên cạnh đội ngũ viên chức là giảng viên, còn có viên chức chuyên môn dùng chung và hỗ trợ, phục vụ, nhưng chưa có tiêu chí đánh giá cụ thể nên dẫn đến kết quả đánh giá chưa sát với thực tế của đơn vị và chỉ mang tính tương đối[8]. Mặc dù Quyết định số 1818/QĐ-BGDĐT đã bổ sung tiêu chí về trách nhiệm nêu gương đối với cán bộ lãnh đạo, nhưng đối với giảng viên, đối tượng chiếm số lượng lớn nhất trong các trường đại học công lập thì các tiêu chí chưa thực sự phản ánh bản chất hoạt động sư phạm. Các yếu tố như năng lực truyền đạt kiến thức, kỹ năng tổ chức hoạt động của sinh viên, khả năng đổi mới phương pháp giảng dạy, chuyển đổi số, hướng dẫn khởi nghiệp cho sinh viên chưa được thể hiện rõ ràng trong bộ tiêu chí. Quy định hiện hành vẫn mang tính chất chung cho tất cả viên chức, chưa tạo sự khác biệt cần thiết để đánh giá đúng bản chất nghề nghiệp giảng viên, viên chức chuyên môn dùng chung, hỗ trợ phục vụ trong các trường đại học công lập.
Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0 và đặc biệt sau đại dịch Covid-19, khi đào tạo trực tuyến trở thành xu hướng tất yếu, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các nền tảng dạy học trực tuyến, thiết kế bài giảng số là những kỹ năng thiết yếu của giảng viên. Tuy nhiên, các tiêu chí hiện hành chủ yếu chỉ tập trung vào lý luận chính trị, đạo đức truyền thống mà chưa đề cập đầy đủ đến năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.
3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam
Trên cơ sở phân tích những hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành, để nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực và bảo đảm chất lượng đội ngũ viên chức trong các trường đại học công lập, việc hoàn thiện khung pháp luật về tiêu chí đánh giá và xếp loại chất lượng viên chức trở thành yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi giải pháp đồng bộ, khoa học và phù hợp với bối cảnh đổi mới giáo dục đại học hiện nay. Cụ thể:
Thứ nhất, rà soát, bổ sung quy định về tiêu chí đánh giá viên chức theo vị trí việc làm trong các trường đại học công lập.
Tổ chức rà soát xây dựng tiêu chí đánh giá viên chức theo nguyên tắc thực hiện đánh giá tại điểm b khoản 1 Điều 25 Luật Viên chức năm 2025: “Nội dung đánh giá phải được định lượng trên cơ sở các tiêu chí gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ theo từng vị trí việc làm”.
Bộ Nội vụ tiếp tục tham mưu Chính phủ xây dựng nghị định điều chỉnh bổ sung quy định tiêu chí đánh giá viên chức. Trên cơ sở đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập, cần thiết lập khuôn khổ pháp luật chuyên biệt và đồng bộ. Khuôn khổ này phải phân nhóm vị trí (giảng dạy, nghiên cứu, quản trị, hỗ trợ…) gắn chặt với mô tả công việc, theo vị trí việc làm và mức độ tự chủ của các trường đại học công lập, đồng thời, kèm theo phụ lục tiêu chí chuẩn hóa để bảo đảm tính so sánh và khả năng đo lường. Bên cạnh đó, kiến nghị ban hành thông tư về đánh giá viên chức theo vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp giáo dục, đồng thời, bảo đảm thống nhất với Luật Viên chức năm 2025 và các quy định về tuyển dụng, sử dụng viên chức trong các trường đại học công lập.
Thứ hai, bổ sung tiêu chí định lượng trong đánh giá viên chức tại các trường đại học công lập.
Tập trung rà soát quy định hiện hành, chú trọng đối tượng viên chức để bảo đảm phù hợp thực tiễn cần xây dựng tiêu chí chung và tiêu chí riêng cho từng loại viên chức. Từ chức trách, nhiệm vụ của từng vị trí công việc, xác định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức và căn cứ để xây dựng tiêu chí đánh giá viên chức[9]. Viên chức ngành Giáo dục được phân thành ba nhóm: nhóm công việc lãnh đạo, quản lý, điều hành; nhóm công việc hoạt động nghề nghiệp; nhóm công việc hỗ trợ, phục vụ. Mỗi nhóm có những yêu cầu khác nhau về tiêu chuẩn vị trí việc làm, có chức năng, nhiệm vụ không giống nhau, đặc biệt là nhóm công việc hoạt động nghề nghiệp (nhà giáo), do đó, việc xây dựng các tiêu chí đánh giá cụ thể cần bám sát các yêu cầu riêng đối với mỗi nhóm công việc[10]. Trong các trường đại học công lập, đối với giảng viên, có thể lượng hóa các tiêu chí như: tỷ lệ sinh viên đạt kết quả học tập tốt, số giờ bồi dưỡng, số lượng công trình nghiên cứu khoa học được công nhận, tỷ lệ hài lòng của sinh viên (qua khảo sát định kỳ), số giờ tham gia các hoạt động tập huấn nâng cao năng lực, số lượng bài giảng điện tử được xây dựng và chia sẻ. Đối với viên chức quản lý, có thể định lượng qua các chỉ số như: tỷ lệ hoàn thành kế hoạch năm học, số lượng sáng kiến cải tiến quản lý, mức độ giảm khiếu nại, tố cáo trong đơn vị, kết quả đánh giá chất lượng đào tạo của cơ quan cấp trên. Việc xây dựng bảng điểm chi tiết với trọng số cụ thể cho từng tiêu chí sẽ giúp đánh giá khách quan và công bằng hơn.
Thứ ba, rà soát, sắp xếp lại các nhóm tiêu chí để tránh chồng chéo và bảo đảm tính logic.
Có thể gộp một số nội dung có liên quan chặt chẽ vào cùng một nhóm tiêu chí, đồng thời, làm rõ phạm vi và nội dung cụ thể của từng tiêu chí. Ví dụ: nhóm tiêu chí “tác phong, lề lối làm việc” và “ý thức tổ chức kỷ luật” có nhiều điểm giao thoa, có thể cân nhắc tách biệt rõ ràng hơn hoặc gộp chung thành nhóm “ý thức tổ chức và văn hóa làm việc”. Đồng thời, xây dựng hướng dẫn chi tiết về cách hiểu và cách đánh giá từng tiêu chí để thống nhất trong toàn ngành.
Thứ tư, thiết lập cơ chế đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập có sự tham gia của nhiều chủ thể.
Thực hiện nguyên tắc đánh giá theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 Luật Viên chức năm 2025 “việc đánh giá phải bảo đảm dân chủ, công khai, công bằng, minh bạch, khách quan, xuyên suốt, liên tục, đa chiều”, như vậy, các cấp có thẩm quyền khi xây dựng cơ chế đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập cần xây dựng quy trình đánh giá, trong đó có sự tham gia của các bên trong đánh giá viên chức.
Về quy trình đánh giá viên chức, có nhiều quy trình được áp dụng để đánh giá viên chức, trong đó có thể áp dụng quy trình đánh giá Carolina[11], ngoài tính nhân văn còn bảo đảm tính mở, công khai và sự tham gia của nhiều bên trong quá trình đánh giá. Quy trình đánh giá Carolina dành cho viên chức giáo dục trong các trường công lập nhằm mục đích vì sự tiến bộ của tổng thể xã hội, sinh viên được hưởng dịch vụ đào tạo có chất lượng, cơ quan quản lý tăng cường hiệu lực, hiệu quả chính sách và bản thân viên chức trong các trường đại học công lập được hỗ trợ để phát triển chuyên môn, nghề nghiệp. Trong các trường đại học công lập, đối với giảng viên, cần thực hiện khảo sát định kỳ về mức độ hài lòng của sinh viên và phụ huynh đối với chất lượng giảng dạy, thái độ, phương pháp sư phạm của giảng viên. Kết quả khảo sát này nên chiếm tỷ trọng nhất định (ví dụ: 20 - 30%) trong tổng điểm đánh giá. Đối với viên chức quản lý, có thể tổ chức lấy ý kiến đánh giá từ giảng viên, nhân viên trong đơn vị thông qua phiếu đánh giá. Việc đa dạng hóa chủ thể đánh giá giúp tăng tính khách quan, minh bạch và toàn diện.
Thứ năm, bổ sung các tiêu chí đặc thù phản ánh bản chất công việc sư phạm và yêu cầu phát triển đột phá trong giáo dục và đào tạo.
Xây dựng nhóm tiêu chí đối với giảng viên về “năng lực chuyên môn sư phạm” gồm: năng lực truyền đạt kiến thức, kỹ năng tổ chức hoạt động đào tạo, khả năng đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát triển năng lực sinh viên, kỹ năng đánh giá kết quả học tập của sinh viên… Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, cần bổ sung tiêu chí “năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy” đánh giá khả năng sử dụng các nền tảng dạy học trực tuyến, thiết kế bài giảng điện tử, sử dụng phần mềm quản lý lớp học, ứng dụng công nghệ để cá nhân hóa việc học cho sinh viên.
Thứ sáu, xây dựng hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ công tác đánh giá, xếp loại viên chức trong các trường đại học công lập.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị, trong đó có vấn đề đánh giá viên chức. Để nâng cao mức độ chính xác của kết quả đánh giá viên chức, việc ứng dụng công nghệ thông tin là hết sức cần thiết[12]. Như vậy, cần bổ sung quy định ứng dụng chuyển đổi số, ứng dụng phần mềm quản lý và đánh giá viên chức tích hợp các chức năng: lưu trữ hồ sơ viên chức, thu thập dữ liệu đánh giá từ nhiều nguồn (tự đánh giá, đánh giá của lãnh đạo, quản lý, đồng nghiệp, học sinh, phụ huynh), tính toán tự động điểm số theo các tiêu chí và trọng số đã định, tạo báo cáo và thống kê kết quả đánh giá. Việc này giúp giảm thiểu sai sót, tăng tính chính xác và tiết kiệm thời gian, công sức trong công tác đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức trong các trường đại học công lập.
Kết luận
Quy định pháp luật hiện hành về tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức trong các trường đại học công lập cơ bản bảo đảm tính toàn diện, tính hệ thống và có nhiều ưu điểm trong việc xây dựng đội ngũ viên chức trong sạch, vững mạnh. Tuy nhiên, một số bất cập trong quy định pháp luật về tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức tại các trường đại học công lập còn mang tính định tính, sự chồng chéo giữa các tiêu chí, thiếu cơ chế tham gia của phụ huynh, sinh viên và chưa phản ánh đầy đủ đặc thù các trường đại học công lập. Việc hoàn thiện quy định pháp luật về đánh giá viên chức trong các cơ sở giáo dục công lập theo hướng cụ thể hóa, định lượng hóa các tiêu chí, tăng cường sự tham gia của các bên liên quan, bổ sung các tiêu chí đặc thù và ứng dụng công nghệ thông tin góp phần nâng cao chất lượng công tác đánh giá, xếp loại viên chức. Từ đó, xây dựng đội ngũ viên chức tại các trường đại học công lập đáp ứng yêu cầu phát triển trong giáo dục và đào tạo hiện nay.
Nguyễn Văn Hưng
Phòng Tổ chức cán bộ, Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội
Lê Quang Tuấn
Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp
Ảnh: Internet
[1]. Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15 được thông qua ngày 16/6/2025, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
[2]. Chính phủ (2025), Tờ trình số 887/TTr-CP về dự thảo Luật viên chức (sửa đổi), ngày 09/10/2025.
[3]. Văn Thị Cẩm (2018), Đánh giá viên chức tại trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, tr. 58.
[4]. Tạ Quang Ngọc (2022), Nâng cao hiệu quả đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập, Tạp chí Quản lý nhà nước, https://www.quanlynhanuoc.vn/2022/04/12/nang-cao-hieu-qua-danh-gia-xep-loai-chat-luong-vien-chuc-tai-don-vi-su-nghiep-cong-lap/, truy cập ngày 04/12/2025.
[5]. Bùi Ngọc Mai (2024), Quản lý viên chức theo vị trí việc làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay, https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/10/29/quan-ly-vien-chuc-theo-vi-tri-viec-lam-trong-cac-don-vi-su-nghiep-cong-lap-hien-nay/, truy cập ngày 04/12/2025.
[6]. Bùi Phạm Anh Thiết (2019), Thực hiện pháp luật về đánh giá viên chức ngành giáo dục từ thực tiễn tỉnh Gia Lai, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, tr. 44.
[7]. Nguyễn Huy Hiệu (2016), Đổi mới, cải cách nền hành chính gắn với thực hiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 2, năm 2016, https://tcnn.vn/news/detail/37673/Doi_moi_cai_cach_nen_hanh_ chinh_gan_voi_thuc_hien_che_do_chinh_sach_doi_voi_doi_ngu_can_bo_cong_chuc_all.html?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 04/12/2025.
[8]. Văn Thị Cẩm (2018), tlđd, tr. 60.
[9]. Trần Lưu Trung (2017), Sách chuyên khảo: Quản lý viên chức dịch vụ công từ kinh nghiệm thế giới đến thực tiễn ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 159.
[10]. Bùi Phạm Anh Thiết (2019), tlđd, tr. 65.
[11]. State Board of Education (2013), North Carolina School Social Worker Evaluation Process North Carolina: Department of Public Instruction.
[12]. Bùi Phạm Anh Thiết (2019), tlđd, tr. 67.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Phạm Anh Thiết (2019), Thực hiện pháp luật về đánh giá viên chức ngành giáo dục từ thực tiễn tỉnh Gia Lai, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
2. PGS.TS. Phạm Hồng Thái và Nguyễn Thị Minh Hà (2024), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. State Board of Education (2013), North Carolina School Social Worker Evaluation Process North Carolina: Department of Public Instruction.
4. Thượng tướng, Viện sĩ, TS. Nguyễn Huy Hiệu (2016), Đổi mới, cải cách nền hành chính gắn với thực hiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 2.
5. Trần Lưu Trung (2017), Sách chuyên khảo: Quản lý viên chức dịch vụ công từ kinh nghiệm thế giới đến thực tiễn ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
6. TS. Bùi Ngọc Mai (2024), Quản lý viên chức theo vị trí việc làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước, https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/10/29/quan-ly-vien-chuc-theo-vi-tri-viec-lam-trong-cac-don-vi-su-nghiep-cong-lap hien-nay/, truy cập ngày 04/12/2025.
7. TS. Phạm Ngọc Hùng (2025), Nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ hiện nay, Tạp chí Cộng sản, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/822109/nang-cao-chat-luong-cong-tac-danh-gia-can-bo-hien-nay.aspx, truy cập ngày 04/12/2025.
8. TS. Tạ Quang Ngọc (2022), Nâng cao hiệu quả đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập, Tạp chí Quản lý nhà nước, https://www.quanlynhanuoc.vn/2022/04/12/nang-cao-hieu-qua-danh-gia-xep-loai-chat-luong-vien-chuc-tai-don-vi-su-nghiep-cong-lap/, truy cập ngày 04/12/2025.
9. Văn Thị Cẩm (2018), Đánh giá viên chức tại trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (443) tháng 12/2025)