![]() |
| Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú nhất trí về sự cần thiết xây dựng dự thảo Luật |
Trình bày một số nội dung của dự thảo Tờ trình, đại diện Bộ Tài chính cho biết, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư (dự thảo Luật) gồm 03 điều, dự kiến có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2027, được xây dựng nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, có thể triển khai, áp dụng, phát huy hiệu quả ngay trong thực tiễn; đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiến tạo của Nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều phối quốc gia, phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương trên cơ sở thống nhất chiến lược, quy hoạch, tiêu chí, cơ chế giám sát, lấy kết quả đóng góp thực chất làm thước đo chủ yếu trong thu hút, quản lý và sử dụng đầu tư nước ngoài.
Về nội dung, dự thảo Luật hoàn thiện quy định về ngành, nghề và điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài nhằm mở rộng việc tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, trong đó bổ sung quy định về việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, cụ thể: “Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ xem xét, quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường trong các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại các luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế về đầu tư bảo đảm công khai, minh bạch, áp dụng thống nhất, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư”.
Dự thảo Luật bổ sung 04 hình thức hỗ trợ đầu tư mới gồm: (i) Hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng; (ii) Hỗ trợ sản xuất sản phẩm, cải tiến sản phẩm, cải tiến công nghệ; (iii) Hỗ trợ đầu tư ban đầu và đầu tư tạo tài sản cố định; (iv) Hỗ trợ hợp tác, liên kết giữa doanh nghiệp với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ.
Về chính sách hỗ trợ đầu tư đặc biệt, dự thảo Luật bổ sung quy định cho phép căn cứ khả năng cân đối của ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ, Nhà nước hỗ trợ các chi phí như: Đào tạo lao động là người Việt Nam, đào tạo nguồn nhân lực của doanh nghiệp liên kết với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ và doanh nghiệp trong nước; nghiên cứu và phát triển; đầu tư công trình hạ tầng xã hội; chi phí sản xuất sản phẩm công nghệ cao; phát triển, nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng do tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp đầu chuỗi lựa chọn và thực hiện; đầu tư tạo tài sản cố định là máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng lợi nhuận chưa chuyển về nước để mở rộng đầu tư tại Việt Nam; chi phí khác theo quy định của Chính phủ.
Tại cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú nhất trí về sự cần thiết xây dựng dự thảo Luật nhằm thể chế quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật tại Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 05 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “02 con số” và Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để phục vụ mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng,… làm tiêu chí chủ yếu; chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, quản trị cả vòng đời dự án, kết nối với doanh nghiệp trong nước.
Bên cạnh đó, Thứ trưởng đề nghị các thành viên Hội đồng thẩm định tập trung trao đổi, cho ý kiến tập trung vào 05 nhóm vấn đề. Cụ thể: (i) Sự cần thiết ban hành Luật; (ii) Sự phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, đồng thời xem xét tính thống nhất, đồng bộ của dự thảo Luật với hệ thống pháp luật; (iii) Tính tương thích với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh; nguồn tài chính và nguồn nhân lực; (iv) Sự cần thiết, tính hợp lý của thủ tục hành chính; nội dung về phân quyền, phân cấp, ứng dụng công nghệ và các vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực; (v) Ngôn ngữ và kỹ thuật soạn thảo văn bản.
![]() |
| Toàn cảnh cuộc họp |
Trao đổi tại cuộc họp, một số đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, bổ sung quy định về thời gian tối thiểu trong trường hợp điều chỉnh chính sách nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý rõ ràng trong quá trình tổ chức thực hiện.
Khoản 3 Điều 8 dự thảo Luật quy định: “Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ xem xét, quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường trong các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại các luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế về đầu tư bảo đảm công khai, minh bạch, áp dụng thống nhất, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư”, đại biểu đề nghị bổ sung căn cứ pháp lý, đồng thời rà soát các điều ước quốc tế có liên quan và quy định cụ thể hơn về trình tự, thủ tục.
Liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung quy định về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt, đại biểu đề nghị bổ sung yêu cầu về nội dung cam kết của nhà đầu tư gồm việc tuân thủ các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền và các điều kiện về an ninh, trật tự.
Trong khuôn khổ cuộc họp, Hội đồng thẩm định đã nhận được nhiều ý kiến trao đổi, góp ý của đại diện các bộ, ngành và các đơn vị liên quan. Đây là một trong những nguồn quan trọng để cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu, tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật, bảo đảm chặt chẽ, khả thi và thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật.