Thứ ba 08/09/2026 18:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân

“Dĩ công vi công, chư thần ủng hộ; dĩ công vi tư, chư thần đả tử” - lời thề thiêng liêng vang lên từ Lễ hội Minh Thề ở thôn Hòa Liễu, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng không chỉ là thanh âm của một nghi lễ dân gian, mà còn là tiếng nói đạo lý trị quốc xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Đó là tuyên ngôn đạo đức và pháp lý giản dị nhưng đanh thép: Ai vì công được trời đất chứng giám và muôn dân ủng hộ; ai dùng công quyền làm lợi riêng ắt sẽ bị trừng trị. Từ cội nguồn văn hóa ấy, truyền thống đề cao liêm chính, công tâm và kỷ cương pháp luật đã ngấm vào tư tưởng trị quốc, trở thành nền tảng bền vững cho quốc pháp và đạo lý công quyền. Vì vậy, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày nay là sự tiếp nối mạch nguồn lịch sử, một phần không thể tách rời của hành trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, giữ vững kỷ cương và phụng sự Nhân dân bằng đạo lý trong sạch và thể chế vững vàng.

Bài 1: Văn hóa phòng, chống tham nhũng trong lịch sử dân tộc

Trong lịch sử Việt Nam, tinh thần phòng, chống tham nhũng, đề cao liêm chính và đạo lý làm quan sớm trở thành giá trị văn hóa, pháp lý cốt lõi. Từ những chuẩn mực ứng xử được lưu truyền trong dân gian đến những điều răn “khắc cốt ghi tâm” trong gia huấn, hương ước; từ những lễ hội mang tính biểu tượng như Lễ hội Minh Thề đến các điều khoản nghiêm khắc trong Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long,… đều phản ánh truyền thống trị quốc đặt trọng tâm vào sự thanh liêm, cương trực, coi việc phụng sự quốc gia, dân tộc là lẽ tối thượng. Đó không chỉ là mệnh lệnh đạo đức mà còn là thiết chế pháp lý nhằm bảo vệ kỷ cương xã hội, giữ gìn chính trị ổn định và trong sạch.

Lễ hội Minh Thề và tinh thần phòng, chống tham nhũng từ dân gian

Lễ hội Minh Thề có từ thời nhà Mạc, khoảng giữa thế kỷ XVI, nơi các quan lại địa phương thề không tham nhũng, không ức hiếp dân lành. Lời thề khắc trên bia đá, trước mặt thần linh và dân chúng, tạo nên cơ chế “kỷ cương đạo đức” gắn với trách nhiệm công vụ. Đây là hình thức giám sát xã hội mang tính đạo đức cộng đồng đặc thù của Việt Nam, nhấn mạnh danh dự và sự tự răn của người cầm quyền.

Sử sách lưu truyền, Lễ hội Minh Thề do Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, vợ của Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung tiếp thu lễ thề của các đời trước và đề xướng, xây dựng Lễ hội Minh Thề. Bà tự bỏ tiền và vận động hoàng thân, quốc thích, quan lại Triều Mạc cùng Nhân dân địa phương mua ruộng đất mở rộng khuôn viên và tu tạo lại ngôi chùa cổ của làng (chùa Hòa Liễu), nay thuộc thôn Hòa Liễu, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

Văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Đài thề trong Lễ hội Minh Thề (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Để không bị hụt tài sản công, Thái Hoàng Thái Hậu và dân làng lập Hội Minh Thề và Hịch văn Hội Minh Thề, quy định lấy chí công làm trọng, không xâm phạm của công. Không phân biệt giàu - nghèo, đẳng cấp xã hội, những người đứng đầu trong làng và dân làng gồm những người từ 18 tuổi trở lên đều tham gia hội thề. Hịch văn Hội Minh Thề quy định những điều được làm, phải làm và những điều không được làm cho tất cả thành phần từ hương chức đến dân thôn.

Để lưu giữ những giá trị tốt đẹp của lịch sử, Lễ hội Minh Thề chính thức được khôi phục từ năm 2002, dựa trên nền cốt của Hội Minh Thề xưa. Năm 2017, được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trở thành một trong những lễ hội mang nghi thức “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam[1]. Lễ hội không chỉ góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống, mà còn làm phong phú thêm bản sắc của miền quê Thuận Thiên[2] - vùng đất không chỉ mang tên gọi của một đơn vị hành chính, mà còn gợi nhắc sâu xa về tinh thần: “Dĩ công vi công, chư thần ủng hộ; dĩ công vi tư, chư thần đả tử”. Đó là đạo lý muôn đời của chí công vô tư, lấy công tâm làm gốc, thuận thiên lý mà hành xử.

Văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Chủ lễ đọc Hịch văn Minh thề (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Pháp luật phong kiến và đạo làm quan

Thời xưa, cha ông ta rất coi trọng việc quy định trách nhiệm và đạo đức công vụ của quan lại. Các vương triều phong kiến đã luật hóa những chuẩn mực đạo đức Nho giáo và truyền thống của người Việt, qua đó góp phần hình thành đội ngũ quan lại có trách nhiệm và giữ gìn kỷ cương phép nước.

Quốc triều Hình luật thời Lê (Bộ luật Hồng Đức) có 216/722 điều khoản (chiếm 29,92%); Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) có 180/396 điều khoản (chiếm 45,45%) đề cập đến đạo đức của quan chức đối với vua, đồng liêu, dân, bản thân và công việc. Các quy định đó đã tạo dựng được một đội ngũ quan lại minh trung, có trách nhiệm trong công việc, với dân[3].

Quốc triều Hình luật quy định rõ các hành vi quan lại lợi dụng chức quyền để vụ lợi, tham nhũng như: Nhận hối lộ, đòi hối lộ, sách nhiễu dân, gây khó dễ thu chi, giấu đất công, giấu đồ vật của công, chiếm ruộng đất công, sử dụng đất công quá hạn định, chiếm đoạt đất đai của lương dân, tự tiện đặt thêm quan chức, tự tiện thuyên chuyển quan dưới quyền, tự tiện sai khiến dân đinh, bắt dân phu làm việc riêng, lấy của dân vào việc riêng, dùng quân nhu vào việc riêng, tùy tiện thu thuế của dân, tự ý thu đồ vật của con nợ, đi công cán về tâu trình không đúng thực, chậm trễ, sao nhãng việc công, thi hành sắc lệnh không nghiêm… Ứng với mỗi hành vi đều có những hình thức xử lý nghiêm khắc, tùy thuộc vào tính chất, mức độ và nhân thân, sự cống hiến của quan chức.

Văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Quốc triều Hình luật (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Quốc triều Hình luật quy định hình phạt đối với hành vi tham ô, nhận hối lộ, kể cả tội “bao che cho người có tội vì hối lộ”. Điều 626 quy định: “Các quan đại thần, quan hành khiển cùng các quan coi ngục tụng, nếu kẻ tội nhân xét tình đáng thương, nên được vua ân tha cho mà lại tự nhận là ơn của mình, để đòi hối lộ, thì xử tội đồ, tội lưu hay tội chết”; Điều 97 quy định “Quan lại đặt ra có số nhất định, nếu bổ dụng hay đặt ra quá hạn định, hay không nên đặt ra mà đặt ra (nghĩa là không tâu xin) thì thừa một viên phải phạt 60 trượng, biếm hai tư và bãi chức; thừa hai viên trở lên thì thì xử tội đồ, người sau biết mà để yên thì xử tội nhẹ hơn người trước một bậc”…

Hoàng Việt luật lệ có nhiều quy định về tố cáo, khen thưởng, giám sát và xử lý hành vi tham ô, tham nhũng. Bộ luật căn cứ vào cấp bậc, chức vụ của quan lại để định tội và áp dụng hình phạt tương ứng. Những trường hợp nghiêm trọng có thể bị tước bỏ bằng, sắc, cáo của vua ban và xóa tên khỏi sổ bộ quan lại, đồng nghĩa với việc bãi chức hoàn toàn. Tùy theo mức độ vi phạm và số tiền của nhận hối lộ, người phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt như lưu đày, đồ, bãi nhiệm hoặc đánh đòn.

Quyển 17 (Hình luật) tại Điều 4 viết về nhận đút lót: “Phàm chưa trực tiếp với sự việc mà quan lại hứa nhận tiền của, nếu làm cong luật pháp thì xử theo chỗ cong đó, còn việc không làm cong luật pháp thì xử theo chỗ không cong”[4].

Văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Mộc bản Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Bên cạnh việc quy định về tội và hình phạt trong các bộ luật, các triều đại phong kiến còn quy định về cơ chế hồi tỵ[5]. Trong lịch sử phong kiến, Lê Thánh Tông (1442 - 1497) là vị vua đầu tiên thực hiện hóa các quy định hồi tỵ trong nỗ lực đổi mới thể chế chính trị và quan chế. Quốc sử ghi lại quá trình xây dựng luật, nhà vua xuống chiếu “cấm quan lại lấy đàn bà, con gái trong bộ hạt” (năm Hồng Đức thứ 17 - 1486); “các quan phủ, huyện, châu, hễ là anh em ruột con chú con bác, bác cháu, cậu cháu, thì chỉ cho một người làm xã trưởng để trừ tệ bè phái hùa nhau” (1488). Đối tượng thực hiện hồi tỵ thời Lê Sơ là các quan đứng đầu bộ máy, chính quyền địa phương. Các nội dung hồi tỵ sau được luật hóa trong Quốc triều Hình luật.

Dưới triều Nguyễn, kinh nghiệm áp dụng luật hồi tỵ được nâng thành phương châm dùng người đó là: “Khi đã dùng người khoa bảng, triều đình thường giao nhiều trọng trách khác nhau để họ có điều kiện luân chuyển, rèn luyện, thử thách, mài dũa, trưởng thành”.

Những điều luật trong các bộ luật thời phong kiến quy định về các tội tham ô, nhận hối lộ, việc xử và phòng ngừa tham nhũng cho thấy, quan điểm phòng, chống tham nhũng của các thời đại phong kiến Việt Nam khá toàn diện, làm tiền đề cho công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ngày nay.

Án xử thời phong kiến và những bài học lịch sử

Không dừng lại ở quy phạm, các triều đại phong kiến Việt Nam từng bước hiện thực hóa tinh thần chống tham nhũng bằng những vụ án cụ thể, thể hiện thái độ kiên quyết, công minh trong xử lý quan lại thoái hóa, biến chất. Không ít án xử nêu gương ở triều Lê, triều Nguyễn đã khẳng định quyết tâm giữ sạch bộ máy quan lại, coi liêm chính là chuẩn mực sống còn của quốc gia. Những bản án nghiêm khắc được ghi lại trong chính sử không chỉ mang tính răn đe mà còn truyền đi thông điệp: Không ai đứng trên luật pháp, dù quyền cao chức trọng.

Theo sách “Đại Nam thực lục”, tháng 12/1854, thương nhân Trung Quốc là Chu Trung Lập đã tố giác nhiều quan lại triều đình nhận đút lót của thuyền buôn ngoại quốc ở Quảng Nam. Án được trình lên, chiếu theo Bộ luật Gia Long, 17 người bị xử tội giảo giam hậu (bắt thắt cổ chết nhưng còn tạm giam đợi lệnh), 25 người bị tội lưu đày, 12 người bị tội làm lao dịch, 08 người bị phạt đánh gậy và cách chức[6].

Văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Vua Tự Đức quyết định tử hình viên quan tham nhũng bằng một bài thơ với những câu như: Một ngày một đồng / Ngàn ngày ngàn đồng/ Dây cưa đứt gỗ / Nước giọt thủng đá / Tội không dung tha / Lệnh truyền xử chém. (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Không chỉ trừng phạt, một số triều đại còn có hình thức nêu gương, thưởng cho quan liêm chính, từ chối hối lộ. Như vậy, có thể thấy, ở mỗi triều đại phong kiến khác nhau đều đã có những biện pháp khá toàn diện, hiệu quả để ngăn ngừa và xử lý tệ tham nhũng trong đội ngũ quan lại triều đình. Hệ thống những biện pháp, hình phạt đó đã góp phần quan trọng giúp các triều đại phong kiến Việt Nam phòng, chống tham nhũng hiệu quả, đặc biệt vào những giai đoạn thịnh trị.

Văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân

TS. Hoàng Thị Lan

ThS. Nguyễn Hoàng Trung

Ths. Vũ Thị Như Quỳnh

Bài 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh và văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Bài cuối: Văn hóa và pháp luật phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong bối cảnh mới

Tài liệu tham khảo:

1. Hịch văn Hội Minh Thề tại Khu di tích đền chùa Hòa Liễu, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

2. Mai Dung, Độc đáo lễ hội Minh Thề - thề không tham nhũng ở Hải Phòng, https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/doc-dao-le-hoi-minh-the-the-khong-tham-nhung-o-hai-phong.

3. Phạm Thị Thu Hiền, Những giá trị của quan chế thời phong kiến đối với việc hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6/2022.

4. Nguyễn Văn Thành, Vũ Trịnh, Trần Hữu (1994), Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long), tập V, bản dịch của Nguyễn Quang Thái, và Nguyễn Văn Tài, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

5. Nguyễn Thanh Điệp, Án tham nhũng kinh động nước Việt thời phong kiến, https://giaoducthoidai.vn/an-tham-nhung-kinh-dong-nuoc-viet-thoi-phong-kien-post725712.html.


  1. Mai Dung, Độc đáo lễ hội Minh Thề - thề không tham nhũng ở Hải Phòng, https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/doc-dao-le-hoi-minh-the-the-khong-tham-nhung-o-hai-phong, truy cập ngày 30/6/2025.

  2. Trước khi thực hiện Nghị quyết số 1669/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hải Phòng năm 2025, Lễ hội Minh Thề được tổ chức tại thôn Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

  3. Phạm Thị Thu Hiền, Những giá trị của quan chế thời phong kiến đối với việc hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6/2022.

  4. Nguyễn Văn Thành, Vũ Trịnh, Trần Hữu (1994), Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long), tập V, bản dịch của Nguyễn Quang Thái, và Nguyễn Văn Tài, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

  5. Hồi tỵ là từ Hán Việt cổ, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “hồi” là đi trở về; “tỵ” là lánh ra. Hồi tỵ có nghĩa là lánh đi. Theo từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh, hồi tỵ là tránh đi. Người làm quan đứng đầu địa phương, nếu có họ hàng là thuộc liêu ở đó thì quan chức ấy phải được đổi bổ đi nơi khác (nguồn: Đào Bích Hành - Tạp chí Khoa học Trường Đại học Quy Nhơn, số 4 - Tập VII, năm 2013).

  6. Nguyễn Thanh Điệp, Án tham nhũng kinh động nước Việt thời phong kiến, https://giaoducthoidai.vn/an-tham-nhung-kinh-dong-nuoc-viet-thoi-phong-kien-post725712.html, truy cập ngày 30/6/2025.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Hà Nội kiến tạo một "thành phố trải nghiệm về đêm"

Hà Nội kiến tạo một "thành phố trải nghiệm về đêm"

Trong xu thế phát triển đô thị hiện đại, kinh tế đêm là một động lực mới góp phần mở rộng không gian tăng trưởng, gia tăng giá trị dịch vụ và nâng cao sức hấp dẫn của các thành phố lớn. Các hoạt động diễn ra vào ban đêm thúc đẩy mạnh mẽ các lĩnh vực du lịch, văn hóa, ẩm thực, giải trí, công nghiệp sáng tạo và thương mại, qua đó tạo thêm việc làm, tăng thu ngân sách và nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng đô thị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi): Xây dựng văn hóa pháp lý ngay từ cơ sở

Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi): Xây dựng văn hóa pháp lý ngay từ cơ sở

Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) tập trung khắc phục những vướng mắc trong quá trình thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải và quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; góp phần phòng ngừa tranh chấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và tăng cường sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Hà Nội tiên phong xây dựng và triển khai Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa

Hà Nội tiên phong xây dựng và triển khai Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và định hướng phát triển công nghiệp văn hóa của Thủ đô, ngày 05/8/2026, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Đề án “Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội” (Đề án), trong đó xác định phạm vi áp dụng trên toàn địa bàn thành phố Hà Nội, triển khai tính toán Bộ chỉ tiêu thống kê các ngành công nghiệp văn hóa từ năm 2026, đánh giá hiệu quả, áp dụng ổn định từ năm 2027 và các năm tiếp theo.
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được thông qua với tỷ lệ tán thành cao

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được thông qua với tỷ lệ tán thành cao

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất với nhiều điểm mới, trong đó chú trọng xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật thông qua các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật mới, hiệu quả, có tính tương tác đa chiều, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo.
TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW

TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW

Lịch sử kiến tạo và phát triển của các quốc gia trên thế giới đều minh chứng: những giai đoạn hưng thịnh nhất, sự phát triển vượt bậc về kinh tế và vị thế địa chính trị luôn gắn liền với các giá trị văn hóa. Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến những biến động chưa từng có, sự cạnh tranh giữa các cường quốc không chỉ đơn thuần ở sức mạnh quân sự hay quy mô thương mại, mà chuyển dịch mạnh mẽ sang cạnh tranh về hệ giá trị, sức ảnh hưởng và sức mạnh của nền công nghiệp văn hóa. Nhận thức rõ thời cơ cũng như thách thức đó, trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, một Đại hội mang tính bản lề đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Bộ Chính trị đã ban hành một quyết sách lịch sử: Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Cơ sở quan trọng thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Cơ sở quan trọng thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, với cách tiếp cận ngày càng gắn kết giữa xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành, giữa ban hành văn bản với theo dõi, đánh giá hiệu quả thực thi; đồng thời góp phần tháo gỡ “điểm nghẽn” pháp lý, cải thiện môi trường pháp lý, đổi mới phương thức tiếp nhận phản ánh, phổ biến pháp luật và nâng cao ý thức tuân thủ trong xã hội.
Nghiên cứu các giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Nghiên cứu các giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Ngày 06/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng chủ trì cuộc họp cho ý kiến về những giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh cùng dự.
Ngày Thương binh Liệt sĩ: Từ đạo lý tri ân đến sức mạnh phát triển của dân tộc

Ngày Thương binh Liệt sĩ: Từ đạo lý tri ân đến sức mạnh phát triển của dân tộc

Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) không chỉ là dịp tri ân những người đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc, mà còn là cơ hội khẳng định giá trị bền vững của truyền thống biết ơn trong đời sống dân tộc. Trong tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, việc phát huy văn hóa tri ân càng có ý nghĩa trong xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: