Từ khóa: hoàn thiện hệ thống pháp luật; nguồn luật; kỹ thuật lập pháp; kiến tạo phát triển; Nhà nước pháp quyền.
Nhận bài: 25/3/2026 Hoàn thành biên tập: 05/6/2026 Duyệt đăng: 09/6/2026
SOME RECOMMENDATIONS FOR IMPROVING VIETNAM'S LEGAL SYSTEM TO MEET DEVELOPMENT REQUIREMENTS IN THE NEW CONTEXT
Abstract: In the context of national development, building a socialist rule of law state, and improving the quality of national governance, there is an urgent need to complete the Vietnamese legal system at the structural level, rather than amending individual legal documents. Based on the orientation of Conclusion No. 09-KL/TW and in comparison with the Law on the Promulgation of Legal Normative Documents of 2025, this study analyzes and clarifies issues related to the structure of legal sources, forms of legal normative documents, principles for handling conflicts of law, supplementary sources, consolidated documents, and post-promulgation evaluation mechanisms. From this, it identifies some contents that have not been fully institutionalized and proposes solutions to complete the law in a way that is streamlined, concise, unified, transparent, accessible, and capable of fostering development.
Keywords: Completing the legal system; sources of law; legislative techniques; constructing development; rule of law state.
Article received: 25/3/2026 Editing completed: 05/6/2026 Approved for publication: 09/6/2026
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển mạnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu, rộng, với mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045, cùng với đó là hoàn thiện mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng khuôn khổ pháp lý cho các mô hình kinh tế, công nghệ mới[1]. Để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, cải cách pháp luật cần được triển khai ở cấp độ cấu trúc hệ thống, nhằm xử lý các điểm nghẽn thể chế đang cản trở hiệu lực quản trị và phát triển, thay vì chỉ tập trung sửa đổi từng văn bản pháp luật riêng biệt[2].
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW) chỉ ra hạn chế căn bản trong tư duy xây dựng pháp luật, nhất là khuynh hướng thiên về quản lý, trong khi chất lượng, tính đồng bộ và hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển. Cùng với đó, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhìn nhận “Quy trình xây dựng pháp luật còn hạn chế, chưa bảo đảm tính chuyên nghiệp, khoa học, hiệu quả…”[3]. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Kết luận số 09-KL/TW), đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật ở tầm cấu trúc, hướng tới hệ thống pháp luật hiện đại, khoa học, tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận và tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Nghiên cứu phân tích, làm rõ hàm nghĩa của việc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật, chỉ ra những điểm mới của Kết luận số 09-KL/TW về nguồn luật, kỹ thuật lập pháp và chức năng phát triển của pháp luật, từ đó, đề xuất một số định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật. Qua đó, góp phần làm rõ việc tái cấu trúc hệ thống pháp luật là yêu cầu vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có giá trị thực tiễn đối với tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1. Bối cảnh ra đời và nội dung cơ bản của Kết luận số 09-KL/TW
Kết luận số 09-KL/TW ra đời trong bối cảnh công tác xây dựng và thi hành pháp luật được Nghị quyết số 66-NQ/TW xác định là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa đột phá đối với hoàn thiện thể chế phát triển đất nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm quản lý nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, khơi thông nguồn lực, phát triển kinh tế tư nhân, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các động lực tăng trưởng mới đòi hỏi hệ thống pháp luật không chỉ đầy đủ về số lượng văn bản, mà còn phải thống nhất về cấu trúc, minh bạch về thẩm quyền, rõ ràng về thứ bậc hiệu lực và có khả năng thích ứng với thực tiễn phát triển.
Điểm mới bao trùm của Kết luận số 09-KL/TW là chuyển trọng tâm từ hoàn thiện từng quy phạm, từng văn bản riêng lẻ sang hoàn thiện cấu trúc vận hành của toàn bộ hệ thống pháp luật. Theo đó, cải cách pháp luật không chỉ là sửa đổi, bổ sung các văn bản đã bộc lộ bất cập, mà còn là quá trình thiết kế lại hệ thống pháp luật theo hướng hiện đại, khoa học, tinh gọn, thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định và dễ tiếp cận. Như vậy, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý nhà nước, mà còn là nền tảng thể chế cho phát triển, kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ nhất, về cấu trúc nguồn luật.
Kết luận định hướng xác lập hệ thống pháp luật theo thứ bậc rõ ràng, từ Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản dưới luật của cơ quan trung ương đến văn bản của chính quyền địa phương. Đồng thời, Kết luận số 09-KL/TW mở rộng nhận thức về nguồn luật khi thừa nhận vai trò bổ trợ của án lệ, tập quán và lẽ công bằng trong trường hợp pháp luật thành văn chưa quy định hoặc quy định chưa rõ. Đây là định hướng quan trọng nhằm khắc phục tình trạng hệ thống văn bản nhiều tầng nấc, khó theo dõi, đồng thời, tăng khả năng bổ khuyết, linh hoạt và công bằng trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Cùng với đó, Kết luận số 09-KL/TW đặt ra yêu cầu hoàn thiện nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật và đơn giản hóa hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Việc tiếp tục khẳng định nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm chuyên ngành so với quy phạm chung có ý nghĩa trực tiếp trong xử lý các trường hợp nhiều đạo luật cùng điều chỉnh một vấn đề nhưng quy định khác nhau. Đồng thời, định hướng mỗi chủ thể có thẩm quyền chỉ ban hành một hình thức văn bản quy phạm pháp luật, với lộ trình phù hợp, góp phần thu gọn hệ thống văn bản, giảm sự phân tán và tạo thuận lợi cho tra cứu, viện dẫn, áp dụng pháp luật.
Thứ hai, về kỹ thuật lập pháp.
Kết luận số 09-KL/TW nhấn mạnh yêu cầu phân định rõ quy phạm pháp luật công và quy phạm pháp luật tư. Đối với các quan hệ gắn với quyền lực nhà nước, quy phạm cần được thiết kế cụ thể, chặt chẽ, minh bạch để vừa trao thẩm quyền, vừa kiểm soát quyền lực và phòng ngừa lạm dụng. Ngược lại, đối với các quan hệ giữa cá nhân, tổ chức không mang tính quyền lực nhà nước, pháp luật cần ưu tiên thiết lập khung pháp lý mang tính nguyên tắc, đề cao quyền tự thỏa thuận, quyền tự định đoạt và trách nhiệm tự chịu trách nhiệm của các chủ thể.
Bên cạnh đó, Kết luận số 09-KL/TW tiếp tục khẳng định vai trò kiến tạo phát triển của pháp luật. Pháp luật không chỉ điều chỉnh và quản lý xã hội, mà còn phải kiến tạo môi trường thể chế thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, chức năng kiến tạo phát triển phải được đặt trong giới hạn của nguyên tắc pháp quyền, nhất là yêu cầu quy định bằng luật đối với các vấn đề liên quan đến hạn chế quyền, đặt ra nghĩa vụ mới và chế tài đối với người dân, doanh nghiệp.
Đặc biệt, Kết luận số 09-KL/TW mở rộng cải cách từ khâu xây dựng pháp luật sang toàn bộ vòng đời của pháp luật, gồm giải thích pháp luật, đẩy mạnh truyền thông chính sách, tổ chức thi hành, theo dõi, rà soát và đánh giá văn bản sau ban hành. Định hướng này góp phần khắc phục tình trạng coi trọng khâu ban hành nhưng chưa chú ý đầy đủ đến hiệu quả thực thi. Đồng thời, việc hoàn thiện cơ chế giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật; ứng dụng chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI) cho thấy yêu cầu hiện đại hóa quản trị pháp luật trong bối cảnh mới. Kết luận số 09-KL/TW cũng đề cập cơ chế xử lý trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách. Việc nghiên cứu cơ chế cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ ban hành văn bản điều chỉnh quy định của luật trong những trường hợp đặc biệt cần được đặt trong giới hạn chặt chẽ, bảo đảm tuân thủ Hiến pháp, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tôn trọng quyền con người, quyền công dân, đồng thời, phải chịu sự giám sát và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Thứ ba, về tổ chức thực hiện.
Kết luận số 09-KL/TW xác lập trách nhiệm của các chủ thể trong hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật, từ Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Bộ Tư pháp đến các địa phương. Các yêu cầu về rà soát hệ thống pháp luật, phòng ngừa “cài cắm” lợi ích, nâng cao giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất và hiện đại hóa cơ sở dữ liệu pháp luật cho thấy hoàn thiện hệ thống pháp luật là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị.
Từ các nội dung trên cho thấy, Kết luận số 09-KL/TW không chỉ đưa ra những định hướng kỹ thuật về xây dựng pháp luật, mà còn xác lập cách tiếp cận mới đối với cải cách pháp luật ở Việt Nam. Cốt lõi của cách tiếp cận này là chuyển từ hoàn thiện từng văn bản sang hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật; từ chú trọng ban hành văn bản sang quản trị toàn bộ vòng đời của pháp luật; từ pháp luật với tư cách công cụ quản lý sang pháp luật với tư cách nền tảng thể chế kiến tạo phát triển, kiểm soát quyền lực và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Những điểm mới của Kết luận số 09-KL/TW phản ánh sự chuyển biến trong tư duy pháp lý, pháp luật không chỉ được xem là công cụ điều chỉnh, mà còn là hạ tầng thể chế kiến tạo phát triển, trong đó, chất lượng mỗi quy phạm phải gắn với tính hợp lý của toàn bộ hệ thống[4].
Thứ nhất, về lý luận.
Kết luận số 09-KL/TW đặt ra vấn đề phải cấu trúc hệ thống pháp luật trở thành đối tượng cải cách độc lập, thay vì chỉ coi đó là hệ quả phụ của hoạt động sửa đổi của từng đạo luật. Điều này cho thấy, Kết luận số 09-KL/TW phù hợp với các yêu cầu quản trị pháp luật hiện đại theo khuyến nghị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), chất lượng pháp luật không thể bảo đảm bằng các công cụ đơn lẻ, mà phải được tiếp cận như một chỉnh thể trong chu trình chính sách - pháp luật tích hợp, từ xác định mục tiêu, thiết kế quy phạm, đánh giá tác động, tổ chức thực thi đến rà soát, đánh giá; trong đó, các công cụ kỹ thuật chỉ có ý nghĩa bổ trợ, không thay thế cho một chương trình quản trị pháp luật toàn diện[5]. Vì vậy, khi trọng tâm chuyển từ “sửa luật” sang “hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật”, cho thấy sự dịch chuyển từ cách làm mang tính kỹ thuật riêng lẻ sang cách tiếp cận ở tầm thiết kế tổng thể của hệ thống thể chế của Việt Nam.
Kết luận số 09-KL/TW góp phần củng cố nhận thức về Nhà nước pháp quyền theo nghĩa thực chất, không chỉ đối với các quy phạm thành văn, mà đòi hỏi hệ thống pháp luật có khả năng bảo đảm tính công khai, khả năng tiên liệu, trách nhiệm giải trình và hiệu quả tiếp cận công lý. Đồng thời, việc thiết lập các cơ chế tự hạn chế và kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm sự tiết chế hợp lý trong mức độ can thiệp vào không gian tự do của các chủ thể trong đời sống xã hội, trở thành yêu cầu tất yếu đối với Nhà nước pháp quyền[6]. World Justice Project coi Nhà nước pháp quyền là nền tảng của hòa bình, công lý, quyền con người, dân chủ hiệu quả và phát triển bền vững[7]. Đây là sự điều chỉnh quan trọng, góp phần định hướng tư duy về Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam tiệm cận hơn với quan điểm hiện đại về pháp quyền trong thực tiễn vận hành, thay vì chỉ ở bình diện hình thức.
Đồng thời, việc yêu cầu tiếp tục làm sáng tỏ quan niệm về cấu trúc nguồn luật, kỹ thuật lập pháp và chức năng của pháp luật tiếp tục được đặt ra, bởi đây là những yếu tố có mối liên hệ nội tại chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Việc xác định lại thứ bậc nguồn luật, thừa nhận vai trò bổ trợ của án lệ, tập quán và lẽ công bằng, đồng thời, phân định rõ quy phạm pháp luật công và quy phạm pháp luật tư cho thấy, hệ thống pháp luật không còn được hình dung như một tập hợp các văn bản rời rạc, mà như một chỉnh thể thống nhất, có nguyên tắc vận hành và có logic áp dụng[8]. Xét ở bình diện khoa học pháp lý, đây là sự chuyển đổi cách tiếp cận từ sắp xếp, hệ thống các văn bản hiện có sang cách tiếp cận chủ động xây dựng cấu trúc pháp luật chuẩn mực, hợp lý ngay từ đầu. Trong đó, mỗi loại nguồn luật, mỗi kiểu quy phạm và mỗi tầng hiệu lực đều phải được xác định trong mối liên hệ với mục tiêu kiểm soát quyền lực công và bảo đảm không gian tự do của các cá nhân, tổ chức.
Thứ hai, về thực tiễn.
Kết luận số 09-KL/TW có ý nghĩa quan trọng nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Theo thông lệ quốc tế, nhất là các khuyến nghị của OECD, coi đánh giá tác động trước khi ban hành, đánh giá sau ban hành, rà soát hệ thống quy định và truyền thông chính sách là các bộ phận cốt lõi của quản trị pháp luật dựa trên bằng chứng[9]. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc triển khai các công cụ này trong thời gian qua còn nhiều hạn chế, hoạt động đánh giá trước và sau ban hành chưa thực chất, việc rà soát, xử lý các quy định chồng chéo, lỗi thời hoặc kém hiệu quả chưa được tiến hành thường xuyên, hệ thống và hiệu quả[10]. Từ đó, Kết luận số 09-KL/TW yêu cầu gắn chặt xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành, tăng cường tính chuyên nghiệp của khâu soạn thảo và thiết lập cơ chế đánh giá văn bản sau ban hành là phù hợp với chuẩn mực quản trị pháp luật tiên tiến.
Đối với việc tham gia, phản biện xã hội và kiểm soát chất lượng quy trình lập pháp, Kết luận số 09-KL/TW yêu cầu tiếp tục đổi mới quy trình lập pháp, nâng cao tính chuyên nghiệp, khoa học, minh bạch và trách nhiệm trong xây dựng pháp luật; phát huy vai trò của đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách; đẩy mạnh truyền thông chính sách. Đồng thời, thiết lập cơ chế hữu hiệu nhằm phòng ngừa tình trạng “cài cắm” lợi ích trong văn bản quy phạm pháp luật, không chỉ thể hiện định hướng chính trị - pháp lý cần thiết, mà còn đáp ứng trực tiếp đối với đòi hỏi mang tính phổ quát của quản trị pháp luật hiện đại. Bảo đảm quy trình lập pháp thể chế hóa được đầy đủ ý chí, nhu cầu và thực tiễn đời sống xã hội, thông qua sự tham gia thực chất của chuyên gia, nhà khoa học và Nhân dân, thay vì vận hành theo lối khép kín, hình thức hoặc thiên lệch bởi lợi ích cục bộ. Theo nghĩa đó, việc đổi mới quy trình lập pháp không chỉ nhằm nâng cao chất lượng kỹ thuật của văn bản, mà còn hướng đến chuyển biến căn bản trong tư duy lập pháp: từ “đưa pháp luật vào cuộc sống” sang “đưa cuộc sống vào pháp luật”, qua đó, khẳng định bản chất của pháp luật là công cụ phục vụ con người và đáp ứng yêu cầu quản trị xã hội hiện đại[11].
Đồng thời, hệ thống pháp luật phải đặt trọng tâm vào tính dễ tiếp cận và tính minh bạch, bởi việc công khai, minh bạch giúp củng cố niềm tin, ngăn ngừa tham nhũng và trao quyền cho người dân[12]. Vì vậy, các yêu cầu của Kết luận số 09-KL/TW về đơn giản hóa hình thức văn bản, đẩy mạnh hợp nhất, pháp điển hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật thống nhất, hiện đại có ý nghĩa thực tiễn trực tiếp trong giảm chi phí tiếp cận pháp luật, hạn chế rủi ro tuân thủ và nâng cao tính khả thi, hiệu lực của pháp luật trong đời sống xã hội. Qua đó, cho thấy những định hướng này tương thích với các giá trị nền tảng của Nhà nước pháp quyền hiện đại.
Việc mở rộng phạm vi cải cách từ khâu ban hành sang toàn bộ vòng đời của pháp luật, gồm giải thích, phổ biến, tổ chức thực hiện, theo dõi và đánh giá, cho thấy rõ sự chuyển biến từ tư duy pháp quyền mang tính hình thức sang cách tiếp cận toàn diện, chú trọng hiệu lực, hiệu quả trong thực tiễn thi hành. Theo đó, Nhà nước pháp quyền phải đáp ứng yêu cầu lấy con người làm trung tâm, bảo đảm giải quyết các vấn đề pháp lý được thực hiện công bằng, kịp thời và dễ tiếp cận[13]. Đồng thời, việc chuyển đổi số, xây dựng dữ liệu lớn pháp luật và nghiên cứu ứng dụng AI trong xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật là xu hướng phù hợp[14], nhưng hiệu quả của quá trình này phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu, thiết kế quy trình, năng lực con người và cơ chế trách nhiệm giải trình. Có thể thấy, pháp luật là hạ tầng thể chế cốt lõi của tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Hệ thống pháp luật minh bạch, ổn định và có khả năng tiên liệu là điều kiện quan trọng góp phần thu hút đầu tư, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia[15].
Tuy có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, nhưng trong quá trình thể chế hóa, Kết luận số 09-KL/TW đặt ra một số yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ, đó là việc thừa nhận án lệ, tập quán và lẽ công bằng như nguồn bổ trợ là bước tiến quan trọng, nhưng nếu không quy định cụ thể điều kiện viện dẫn, thứ tự ưu tiên áp dụng và giới hạn giải thích pháp luật có thể dẫn đến tình trạng vận dụng không thống nhất. Bên cạnh đó, quá trình hiện đại hóa lập pháp và tư pháp bằng công nghệ số, dữ liệu lớn và AI cần được triển khai với cách tiếp cận thận trọng, liên quan đến dữ liệu, trách nhiệm giải trình, kiểm soát thiên lệch và bảo đảm quyền tiếp cận công lý.
Từ các ý nghĩa trên, yêu cầu đặt ra không chỉ nhận diện các nội dung mới của Kết luận số 09-KL/TW, mà phải chuyển hóa các định hướng đó thành những giải pháp hoàn thiện pháp luật cụ thể, có khả năng tác động đến cấu trúc, kỹ thuật và cơ chế vận hành của hệ thống pháp luật hiện hành, tạo nền tảng cho cách hiểu mới về cải cách pháp luật ở Việt Nam.
3. Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Kết luận số 09-KL/TW
Kết luận số 09-KL/TW là văn kiện chính trị - pháp lý có ý nghĩa định hướng quan trọng đối với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trong tương quan với khung pháp luật hiện hành, đặc biệt, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và các nghị định hướng dẫn thi hành[16], cho thấy một số định hướng của Kết luận số 09-KL/TW bước đầu được tiếp cận nhưng chưa được thể chế hóa đầy đủ. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Kết luận số 09-KL/TW cần được triển khai theo các nhóm giải pháp có tính hệ thống sau:
Thứ nhất, hoàn thiện nguyên tắc cấu trúc hệ thống pháp luật theo hướng thống nhất, minh bạch và dễ tiếp cận.
Trước hết, cần xác lập rõ quan niệm về cấu trúc hệ thống pháp luật. Hệ thống pháp luật không chỉ là tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật, mà là một chỉnh thể có trật tự thứ bậc, có nguyên tắc vận hành và có cơ chế xử lý xung đột nội tại. Theo đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 cần hoàn thiện không chỉ với tư cách là đạo luật điều chỉnh quy trình xây dựng, ban hành văn bản, mà còn là đạo luật xác lập các nguyên tắc cơ bản về cấu trúc và vận hành của hệ thống pháp luật[17]. Các nguyên tắc này gồm: bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp; xác định rõ thứ bậc hiệu lực giữa các loại văn bản; làm rõ quan hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành; quy định nguyên tắc sử dụng các nguồn bổ trợ; đồng thời, nâng cao trách nhiệm giải trình trong quá trình xây dựng, sửa đổi và áp dụng pháp luật. Đây là cơ sở để chuyển từ tư duy quản lý văn bản sang tư duy quản trị hệ thống pháp luật.
Thứ hai, thu gọn hình thức văn bản quy phạm pháp luật và phân định rõ thẩm quyền ban hành.
Một yêu cầu quan trọng của Kết luận số 09-KL/TW là đơn giản hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiến tới mỗi chủ thể có thẩm quyền chỉ ban hành một hình thức văn bản quy phạm pháp luật với lộ trình phù hợp. Trong khi Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 vẫn duy trì nhiều hình thức văn bản khác nhau, một số chủ thể được ban hành nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật.
Cấu trúc này dễ làm phân tán các nguyên tắc pháp lý, tăng chi phí tra cứu, đối chiếu và áp dụng pháp luật. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát, thu gọn danh mục hình thức văn bản quy phạm pháp luật, xác định rõ chức năng pháp lý của từng loại văn bản, hạn chế tình trạng một chủ thể ban hành nhiều hình thức văn bản có chức năng giống nhau. Đồng thời, pháp luật cần quy định chặt chẽ hơn các nội dung bắt buộc của mỗi văn bản, như mục đích ban hành, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, hiệu lực thi hành, quy định chuyển tiếp và trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Thứ ba, xác lập địa vị pháp lý của các nguồn bổ trợ trong hệ thống pháp luật.
Kết luận số 09-KL/TW tiếp tục khẳng định vai trò của các nguồn bổ trợ như án lệ, tập quán và lẽ công bằng trong cấu trúc hệ thống pháp luật. Đây là định hướng phù hợp với yêu cầu nâng cao tính linh hoạt và khả năng bổ khuyết của pháp luật trong bối cảnh nhiều quan hệ xã hội mới phát sinh mà pháp luật thành văn chưa kịp điều chỉnh đầy đủ. Tuy nhiên, hiện, pháp luật chủ yếu tiếp cận hệ thống pháp luật từ góc độ văn bản quy phạm pháp luật. Điều 2 và Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 cho thấy nguồn luật thành văn vẫn giữ vị trí trung tâm trong cấu trúc pháp luật hiện hành. Trong khi án lệ, tập quán và lẽ công bằng tuy đã được đề cập trong một số lĩnh vực pháp luật cụ thể[18], nhưng chưa được xác lập đầy đủ như một bộ phận bổ trợ trong cấu trúc nguồn luật ở cấp độ luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Do đó, cần nghiên cứu bổ sung quy định riêng về nguồn bổ trợ của pháp luật, trong đó, xác định rõ điều kiện, phạm vi và giới hạn áp dụng án lệ, tập quán, lẽ công bằng. Các nguồn này chỉ nên được sử dụng khi pháp luật thành văn không quy định hoặc quy định chưa rõ, đồng thời, việc áp dụng không được trái với Hiến pháp, luật, các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm vai trò trung tâm của luật thành văn, vừa tăng khả năng vận hành linh hoạt và công bằng của hệ thống pháp luật.
Thứ tư, hoàn thiện nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật giữa luật chung và luật chuyên ngành.
Hệ thống pháp luật thống nhất phải có cơ chế rõ ràng để xử lý xung đột giữa các quy phạm pháp luật. Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 quy định một số nguyên tắc áp dụng văn bản, như ưu tiên văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, áp dụng văn bản ban hành sau trong trường hợp cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau và áp dụng điều ước quốc tế trong trường hợp có sự khác biệt với pháp luật trong nước, trừ Hiến pháp. Tuy nhiên, quy định này chưa giải quyết đầy đủ quan hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành.
Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung Điều 58 theo hướng quy định rõ nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm pháp luật chuyên ngành so với quy phạm pháp luật chung trong trường hợp các văn bản có cùng hiệu lực pháp lý cùng điều chỉnh một vấn đề. Đồng thời, xác định rõ tiêu chí nhận diện quy phạm chuyên ngành trên cơ sở phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, mục đích ban hành và tính đặc thù của quan hệ xã hội được điều chỉnh. Quy định này sẽ góp phần hạn chế suy luận chủ quan, bảo đảm tính thống nhất và tính dự báo trong áp dụng pháp luật.
Thứ năm, kiểm soát chặt chẽ kỹ thuật “một văn bản sửa nhiều văn bản”.
Kỹ thuật một văn bản sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản có thể giúp xử lý nhanh các bất cập pháp luật, nhưng nếu thiếu giới hạn rõ ràng sẽ làm tăng tính “chắp vá” của hệ thống pháp luật và tạo nguy cơ lồng ghép những nội dung sửa đổi không thực sự liên quan. Khoản 6 Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 cho phép một văn bản có thể đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung của nhiều văn bản do cùng một cơ quan, người có thẩm quyền ban hành. Về kỹ thuật, đây là công cụ có thể giúp đẩy nhanh tiến độ sửa đổi pháp luật và xử lý đồng thời nhiều quy định liên quan. Tuy nhiên, quy định này cần được kiểm soát chặt chẽ hơn. Theo đó, chỉ nên sử dụng kỹ thuật “một văn bản sửa nhiều văn bản” khi các văn bản được sửa đổi có mối liên hệ trực tiếp về nội dung hoặc cùng điều chỉnh một nhóm lĩnh vực chuyên môn xác định. Hồ sơ dự án, dự thảo cần có phần giải trình rõ về sự cần thiết, phạm vi sửa đổi, mối liên hệ giữa các văn bản được sửa đổi và phương án bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật sau khi văn bản được ban hành. Đây là cơ sở ngăn ngừa tình trạng sửa đổi cơ học, manh mún hoặc “cài cắm” chính sách ngoài phạm vi hợp lý của dự thảo.
Thứ sáu, nâng cao giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất và thúc đẩy pháp điển hóa, số hóa hệ thống pháp luật.
Để xây dựng hệ thống pháp luật dễ tiếp cận, minh bạch và thuận lợi cho tra cứu, viện dẫn, áp dụng, cần nâng cao vai trò của văn bản hợp nhất, pháp điển hóa và cơ sở dữ liệu pháp luật thống nhất. Điều 65 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 quy định việc hợp nhất văn bản, nhưng chưa làm rõ đầy đủ địa vị pháp lý của văn bản hợp nhất trong viện dẫn và áp dụng pháp luật.
Do đó, cần sửa đổi Điều 65 theo hướng xác định văn bản hợp nhất đã được cơ quan có thẩm quyền công bố và đăng tải chính thức trên Công báo điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật là căn cứ viện dẫn chính thức, trừ trường hợp có sai sót về kỹ thuật hợp nhất. Đồng thời, cần quy định nghĩa vụ đăng tải văn bản sửa đổi, bổ sung và văn bản hợp nhất để người áp dụng pháp luật có thể tiếp cận ngay phiên bản đầy đủ, cập nhật của quy phạm đang có hiệu lực.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh pháp điển hóa, số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật thống nhất, hiện đại, có khả năng tìm kiếm, đối chiếu, cảnh báo xung đột và cập nhật hiệu lực văn bản. Việc ứng dụng công nghệ, nhất là AI trong rà soát, hệ thống hóa văn bản, cần được đặt trong khuôn khổ kiểm soát về tính chính xác, khả năng truy xuất dữ liệu và trách nhiệm của cơ quan nhà nước.
Thứ bảy, hoàn thiện cơ chế đánh giá sau ban hành và kiểm soát chất lượng chính sách, pháp luật.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật không chỉ là nhiệm vụ của khâu xây dựng và ban hành văn bản, mà phải bao quát toàn bộ vòng đời của pháp luật, từ đề xuất chính sách, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, ban hành, tổ chức thi hành đến theo dõi, đánh giá sau ban hành. Vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế đánh giá tác động sau ban hành đối với các văn bản có ảnh hưởng lớn đến quyền, nghĩa vụ của người dân, doanh nghiệp, tổ chức bộ máy nhà nước và môi trường đầu tư, kinh doanh.
Hoạt động đánh giá sau ban hành cần dựa trên các tiêu chí rõ ràng, như phù hợp với thực tiễn, chi phí tuân thủ, mức độ thống nhất với hệ thống pháp luật, tác động đến quyền con người, quyền công dân, môi trường kinh doanh và khả năng tổ chức thi hành. Kết quả đánh giá phải là căn cứ cho việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ văn bản không còn phù hợp. Đồng thời, cần tăng cường cơ chế phòng ngừa và xử lý nguy cơ “cài cắm” lợi ích trong xây dựng pháp luật thông qua công khai, minh bạch hồ sơ chính sách; nâng cao chất lượng giải trình tiếp thu ý kiến; mở rộng sự tham gia thực chất của chuyên gia, nhà khoa học, đối tượng chịu tác động và Nhân dân; đồng thời, tăng trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo, thẩm định, thẩm tra trong phát hiện những quy định có nguy cơ tạo đặc quyền, đặc lợi hoặc làm “méo mó” môi trường cạnh tranh. Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm pháp luật thực sự phục vụ lợi ích công, kiểm soát quyền lực và thúc đẩy phát triển[19].
Từ các định hướng trên, cho thấy hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Kết luận số 09-KL/TW cần được triển khai như một chương trình cải cách pháp luật có tính hệ thống. Trọng tâm không chỉ là sửa đổi một số điều khoản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, mà là thiết lập lại các nguyên tắc vận hành của hệ thống pháp luật, gồm cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản, nguyên tắc xử lý xung đột, kỹ thuật sửa đổi pháp luật, giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất, cơ chế đánh giá sau ban hành và trách nhiệm giải trình trong quy trình lập pháp. Đây là những điều kiện cần thiết để xây dựng hệ thống pháp luật tinh gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận và có khả năng kiến tạo phát triển.
Kết luận
Kết luận số 09-KL/TW cho thấy sự chuyển biến quan trọng trong tư duy hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam, từ cách tiếp cận sửa đổi đơn lẻ từng văn bản sang tái cấu trúc lại toàn bộ hệ thống pháp luật theo hướng hiện đại, tinh gọn, thống nhất, minh bạch và dễ tiếp cận. Điểm cốt lõi của sự chuyển biến này là đặt pháp luật không chỉ trong chức năng quản lý nhà nước, mà còn trong vai trò kiến tạo phát triển, kiểm soát quyền lực và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Trên cơ sở đó, yêu cầu hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật không chỉ là chỉnh sửa kỹ thuật lập pháp, mà đòi hỏi phải làm rõ thứ bậc nguồn luật, vị trí của các nguồn bổ trợ, ranh giới giữa luật và văn bản dưới luật, cũng như nâng cao chất lượng tổ chức thi hành pháp luật. Đây là những vấn đề có ý nghĩa nền tảng đối với tính thống nhất, tính khả thi và hiệu lực vận hành của hệ thống pháp luật. Từ việc đối chiếu với pháp luật hiện hành cho thấy, một số định hướng của Kết luận số 09-KL/TW cần tiếp tục được thể chế hóa đầy đủ trong quá trình sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và các văn bản có liên quan. Vì vậy, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần Kết luận số 09-KL/TW cần được nhìn nhận như một nhiệm vụ cải cách thể chế có tính chiến lược, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và tạo nền tảng pháp lý cho phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
ThS. Trần Phú Tài
Trường Chính trị Nguyễn Chí Thanh, thành phố Huế
Ảnh: Internet
* Được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025).
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II, tr.375, 377-384.
[2]. Báo Điện tử Chính phủ (2024), Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-phien-khai-mac-ky-hop-thu-8-quoc-hoi-khoa-xv-119241021113227895.htm, truy cập ngày 16/3/2026.
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.191.
[4]. Tạp chí Cộng sản (2025), Đột phá thể chế, pháp luật để đất nước vươn mình, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/dot-pha-the-che-phap-luat-de-dat-nuoc-vuon-minh, truy cập ngày 16/3/2026.
[5]. OECD (2012), Recommendation of the Council on Regulatory Policy and Governance, OECD Publishing, Paris, tr.9-10, 24, http://dx.doi.org/10.1787/9789264209022-en, truy cập ngày 16/3/2026.
[6]. Võ Khánh Vinh (2025), Nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Lý luận và hiện thực, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.368-392.
[7]. World Justice Project (2024), WJP Rule of Law Index 2024, tr.8, https://worldjusticeproject.org/rule-of-law-index/downloads/WJPIndex2024.pdf, truy cập ngày 16/3/2026.
[8]. Lê Hồng Phúc, Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Đỗ Thị Hằng, Đỗ Ngọc Thanh (2026), Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn từ Kết luận số 09-KL/TW, https://lsvn.vn/hoan-thien-cau-truc-he-thong-phap-luat-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-tu-ket-luan-so-09-kl-tw-a170561.html, truy cập ngày 16/3/2026.
[9]. OECD (2012), tlđd.
[10]. Vũ Công Giao (2025), Đổi mới quan niệm về pháp luật, hệ thống pháp luật và cấu trúc hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 284, 27(12).
[11]. Tăng Thị Thu Trang (2025), Hoàn thiện pháp luật về hoạt động lập pháp của Quốc hội Việt Nam chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, 05, 47-53.
[12]. Trần Mai Hùng, Võ Thị Phiến (2023), Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạch định chính sách ở Việt Nam hiện nay, https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/11/09/bao-dam-cong-khai-minh-bach-trong-hoach-dinh-chinh-sach-o-viet-nam-hien-nay/, truy cập ngày 16/3/2026.
[13]. Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tâm (2020), Pháp quyền trong mối quan hệ với quyền làm chủ của Nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 02+03 (402+403).
[14]. OECD (2025), Governing with Artificial Intelligence: The State of Play and Way Forward in Core Government Functions, OECD Publishing, Paris, tr.185.
[15]. Nguyễn Hải Ninh (2026), Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới, https://danchuphapluat.vn/vai-tro-cua-bo-nganh-tu-phap-trong-xay-dung-hoan-thien-the-che-phap-luat-tao-loi-the-canh-tranh-dua-dat-nuoc-phat-trien-trong-ky-nguyen-moi-8709.html, truy cập ngày 16/3/2026.
[16]. Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định số 79/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 80/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ về tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật.
[17]. Lê Minh Tâm (2025), Một số vấn đề lí luận về cấu trúc hệ thống pháp luật và giải pháp hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học, 11, 3-20.
[18]. Huỳnh Thị Nam Hải (2022), Lẽ công bằng trong giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam, https://tapchitoaan.vn/le-cong-bang-trong-giai-quyet-vu-viec-dan-su-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-viet-nam7455.html, truy cập ngày 16/3/2026.
[19]. Vũ Công Giao (2025), tlđd.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo Điện tử Chính phủ (2024), Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-phien-khai-mac-ky-hop-thu-8-quoc-hoi-khoa-xv-119241021113227895.htm, truy cập ngày 16/3/2026.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II.
4. Huỳnh Thị Nam Hải (2022), Lẽ công bằng trong giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam, https://tapchitoaan.vn/le-cong-bang-trong-giai-quyet-vu-viec-dan-su-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-viet-nam7455.html, truy cập ngày 16/3/2026.
5. Lê Hồng Phúc, Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Đỗ Thị Hằng, Đỗ Ngọc Thanh (2026), Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn từ Kết luận số 09-KL/TW, https://lsvn.vn/hoan-thien-cau-truc-he-thong-phap-luat-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-tu-ket-luan-so-09-kl-tw-a170561.html, truy cập ngày 16/3/2026.
6. Lê Minh Tâm (2025), Một số vấn đề lí luận về cấu trúc hệ thống pháp luật và giải pháp hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học, 11, 3-20.
7. Nguyễn Hải Ninh (2026), Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới, https://danchuphapluat.vn/vai-tro-cua-bo-nganh-tu-phap-trong-xay-dung-hoan-thien-the-che-phap-luat-tao-loi-the-canh-tranh-dua-dat-nuoc-phat-trien-trong-ky-nguyen-moi-8709.html, truy cập ngày 16/3/2026.
8. OECD (2012), Recommendation of the Council on Regulatory Policy and Governance, OECD Publishing, Paris, tr.9-10, 24, http://dx.doi.org/10.1787/9789264209022-en, truy cập ngày 16/3/2026.
9. OECD (2025), Governing with Artificial Intelligence: The State of Play and Way Forward in Core Government Functions, OECD Publishing, Paris.
10. Tăng Thị Thu Trang (2025), Hoàn thiện pháp luật về hoạt động lập pháp của Quốc hội Việt Nam chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, 05, 47-53.
11. Tạp chí Cộng sản (2025), Đột phá thể chế, pháp luật để đất nước vươn mình, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/dot-pha-the-che-phap-luat-de-dat-nuoc-vuon-minh, truy cập ngày 16/3/2026.
12. Trần Mai Hùng, Võ Thị Phiến (2023), Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạch định chính sách ở Việt Nam hiện nay, https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/11/09/bao-dam-cong-khai-minh-bach-trong-hoach-dinh-chinh-sach-o-viet-nam-hien-nay/, truy cập ngày 16/3/2026.
13. Võ Khánh Vinh (2025), Nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Lý luận và hiện thực, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
14. Vũ Công Giao (2025), Đổi mới quan niệm về pháp luật, hệ thống pháp luật và cấu trúc hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 284, 27(12).
15. Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tâm (2020), Pháp quyền trong mối quan hệ với quyền làm chủ của Nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 02+03 (402+403).
16. World Justice Project (2024), WJP Rule of Law Index 2024, tr.8. https://worldjusticeproject.org/rule-of-law-index/downloads/WJPIndex2024.pdf, truy cập ngày 16/3/2026.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (454) tháng 6/2026)