Chủ nhật 11/10/2026 04:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Tóm tắt: Xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là yêu cầu quan trọng nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới; trong đó, không thể thiếu sự đóng góp của các doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; nghiên cứu đánh giá thực tiễn sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế những năm qua; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của các doanh nghiệp, với tư cách là một thành tố cơ bản trong xây dựng, phát triển đất nước và chủ thể đồng kiến tạo thể chế, phục vụ phát triển đất nước.

Từ khóa: thể chế; pháp luật; Nhà nước; thị trường; xã hội; doanh nghiệp.

Nhận bài: 21/6/2025 Hoàn thành biên tập: 04/6/2026 Duyệt đăng: 09/6/2026

THE ROLE OF ENTERPRISES IN BUILDING AND COMPLETING THE STATE-MARKET-SOCIETY INSTITUTIONS

Abstract: Building and completing the institutional framework governing the relationship between the State, the market, and society is a crucial requirement for maximizing resources for national development in the new era; the contribution of businesses is indispensable in this process. Based on an analysis of the role of businesses in building and completing the institutional framework concerning the relationship between the State, the market, and society; and a study evaluating the practical participation of the business community in institutional development over the past years; this study proposes several solutions to enhance the role of businesses as a fundamental component in national building and development and as co-creators of institutions serving national development.

Keywords: Institutions; law; State; market; society; businesses.

Article received: 21/6/2025 Editing completed: 04/6/2026 Approved for publication: 09/6/2026

Đặt vấn đề

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế - xã hội to lớn, góp phần nâng cao tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế, tạo động lực và niềm tin hướng tới sự phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới. Việt Nam được kỳ vọng bước vào kỷ nguyên mới, bứt phá và cất cánh, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Theo đó, kỷ nguyên mới đòi hỏi phải phát huy cao nhất tinh thần, ý chí, sức mạnh của tất cả chủ thể trong xã hội, nuôi dưỡng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đất nước. Thể chế hóa mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng, nhằm tạo hành lang pháp lý thúc đẩy sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước. Trong đó, cộng đồng doanh nghiệp có vai trò quan trọng, đóng góp vào xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới.

1. Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế Nhà nước - thị trường - xã hội

Bước vào kỷ nguyên mới, thực hiện quản trị quốc gia hiện đại, Nhà nước, thị trường và xã hội được xem là ba thành tố cơ bản, có mối quan hệ biện chứng, tương hỗ lẫn nhau. Mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội là sự tương tác, phối hợp, ràng buộc lẫn nhau giữa ba thành tố Nhà nước - thị trường - xã hội trong quản lý nhà nước và xã hội; xuất phát từ vai trò, chức năng, cũng như từ thế mạnh và những hạn chế vốn có của mỗi thành tố. Quá trình tương tác giữa Nhà nước - thị trường - xã hội hướng tới gia tăng lợi ích, thúc đẩy phát triển nói chung của các chủ thể. Đây là mặt thống nhất trong mối quan hệ giữa các thành tố, thúc đẩy các thành tố gắn bó, tương tác với nhau. Xử lý mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là xác định và phát huy vai trò, trách nhiệm của từng thành tố, cũng như khả năng phối hợp, hợp tác trong những lĩnh vực, trên những phương diện cụ thể, với cách thức phù hợp để đạt mục tiêu quản trị nhà nước, bảo đảm hiệu lực và hiệu quả cao nhất, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, mạnh, bền vững đất nước, đưa đất nước trở thành nước công nghiệp hiện đại, phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) lần đầu xác định yêu cầu nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, trong đó, có mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhận thức được vị trí, vai trò và ý nghĩa của mối quan hệ này, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã điều chỉnh mối quan hệ “giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa” thành quan hệ “giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa”; đồng thời, bổ sung mối quan hệ “giữa Nhà nước và thị trường” thành mối quan hệ “giữa Nhà nước, thị trường và xã hội”. Theo đó, để xử lý hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong điều kiện mới, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII yêu cầu: “Xác định rõ và thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng và mối quan hệ của Nhà nước, thị trường và xã hội phù hợp với kinh tế thị trường; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng”[1]. Trên cơ sở đánh giá 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2030, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã làm rõ vị trí, vai trò của từng chủ thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, như:

- Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thị trường hoạt động; điều tiết, định hướng, thúc đẩy kinh tế phát triển, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các tiêu chuẩn, định mức và lực lượng kinh tế nhà nước phù hợp với các yêu cầu và quy luật của kinh tế thị trường.

- Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ[2], trong huy động, phân bổ, sử dụng nguồn lực[3].

- Các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường, tham gia phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, giám sát các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong thực thi pháp luật[4].

Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia nhấn mạnh yêu cầu “phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của doanh nhân, doanh nghiệp và Nhân dân đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 68-NQ/TW) khẳng định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới xác định “xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”; pháp luật đóng vai trò “mở đường, khơi thông mọi nguồn lực”; phải “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm”. Theo đó, phải “tăng cường đối thoại, tiếp nhận, lắng nghe phản ánh, kiến nghị, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc về pháp lý của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, địa phương”; “phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sự tham gia rộng rãi, thực chất của người dân, tổ chức, doanh nghiệp trong xây dựng và thi hành pháp luật”.

Để thể chế hóa chủ trương của Đảng, nhiệm vụ đặt ra đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là xây dựng, hoàn thiện thể chế, tạo lập khung pháp lý về cơ chế, phương thức, công cụ can thiệp, điều tiết thị trường, cũng như khung pháp lý bảo đảm cho các chủ thể thị trường, các tổ chức, doanh nghiệp, người dân phát huy tiềm năng, thế mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước. Thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội gồm nhiều thành tố, trong đó có hệ thống các quy định của pháp luật do Nhà nước ban hành về vai trò, chức năng của từng chủ thể và xử lý hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

Hiện, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế được thực hiện theo quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội đồng bộ, phù hợp sẽ giúp phát huy vai trò của từng chủ thể, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước; thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đồng thời, duy trì phát triển kinh tế liên tục, mức sống người dân được cải thiện nhanh chóng và đều khắp. Ngược lại, thể chế lạc hậu sẽ kìm hãm sự phát triển nhanh, ổn định và bền vững của đất nước. Do đó, xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội đòi hỏi sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, cũng như các chủ thể khác nhau trong xã hội, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp.

Theo Điều 28 Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”. Đồng thời, Điều 6 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền và được tạo điều kiện tham gia góp ý kiến về chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật”. Vì vậy, vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội thể hiện trên hai khía cạnh cơ bản sau:

Một là, doanh nghiệp trực tiếp tham gia góp ý kiến đối với các đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Một trong những vai trò quan trọng của pháp luật là kiến tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho cộng đồng doanh nghiệp, thông qua hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh, chứng khoán, thuế,... Đây không chỉ là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp, mà còn quyết định việc phát huy tiềm năng và khả năng đóng góp của doanh nghiệp đối với xã hội. Người dân, doanh nghiệp với tư cách là những chủ thể chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật có quyền tham gia góp ý kiến xây dựng, hoàn thiện pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp. Đặc biệt, phản ánh của doanh nghiệp về những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn là cơ sở quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xác định rõ và giải quyết những điểm nghẽn pháp lý cần tháo gỡ[5]. Cơ quan đề nghị, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm lắng nghe, tiếp thu các ý kiến góp ý của doanh nghiệp. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, doanh nghiệp góp ý kiến trực tiếp thông qua các hình thức như góp ý trên cổng thông tin điện tử của bộ, ngành; gửi ý kiến góp ý tới các cơ quan chủ trì soạn thảo; góp ý tại các hội nghị, hội thảo do cơ quan đề nghị, cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức;…

Hai là, doanh nghiệp góp ý kiến đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,…

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 quy định trách nhiệm của cơ quan lập đề xuất chính sách “tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan” (Điều 30); cơ quan chủ trì soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “tổ chức lấy ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết; lấy ý kiến Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với những nội dung của dự án liên quan đến chức năng quản lý ngành, lĩnh vực của Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan” (Điều 33). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các doanh nghiệp và tổ chức đại diện của cộng đồng doanh nghiệp, như Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (Vietnam Chamber of Commerce and Industry - VCCI), các hiệp hội, hội doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật, đặc biệt là những văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp.

Theo thống kê từ Viện Phát triển doanh nghiệp, hiện, cả nước có khoảng 800 hội, hiệp hội doanh nghiệp, doanh nhân có quy mô, địa bàn hoạt động từ cấp tỉnh trở lên; 100% địa phương có hội doanh nghiệp cấp tỉnh, hiệp hội doanh nghiệp có tên gọi và giữ vai trò đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp của địa phương. Các hiệp hội doanh nghiệp với vai trò đại diện bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp, tham gia ý kiến và đề xuất xây dựng chính sách, pháp luật và đối thoại chính quyền[6]. Bên cạnh đó, các hiệp hội doanh nghiệp, các hội nghề nghiệp,... luôn quan tâm công tác tuyên truyền, động viên các hội thành viên và doanh nghiệp chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước, nắm bắt, tổng hợp khó khăn, vướng mắc để kịp thời kiến nghị, đề xuất với cơ quan quản lý nhà nước có cách giải quyết, tháo gỡ, từ đó, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững.

Hiện, vai trò của doanh nghiệp không chỉ là “đối tượng chịu tác động” của chính sách, pháp luật, mà là “chủ thể đồng kiến tạo thể chế”. Bên cạnh tham gia xây dựng thể chế ở giai đoạn ban đầu, qua thực tiễn triển khai, các doanh nghiệp cũng đưa ra phản hồi và giám sát việc thực thi thể chế, phát hiện những vướng mắc, bất cập, vấn đề đặt ra, từ đó, đóng góp ý kiến tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật, không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật; đồng thời, thúc đẩy chuyển đổi số và cải cách hành chính, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu thực tiễn, phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội.

2. Thực tiễn sự tham gia của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế Nhà nước - thị trường - xã hội ở Việt Nam

Từ kết quả tổng kết lý luận và thực tiễn được kế thừa qua các kỳ Đại hội trong thời kỳ đổi mới, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định có tính hệ thống, đầy đủ, cơ bản về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, bằng hệ thống thể chế, Nhà nước bảo đảm quyền tham gia góp ý kiến của doanh nghiệp trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, qua đó, góp phần bảo đảm chất lượng xây dựng pháp luật ngày một cao hơn, sát thực, khả thi và hiệu quả hơn. Trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp, doanh nhân tham gia ban soạn thảo, tổ biên tập. Ngoài ra, tại các hội thảo, hội nghị, diễn đàn tham vấn ý kiến, việc lấy ý kiến doanh nghiệp được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau, như trực tiếp hoặc thông qua VCCI, các hiệp hội, hội nghề nghiệp,... Các doanh nghiệp, VCCI, các hiệp hội luôn chủ động tham gia thảo luận, góp ý đối với các đề xuất chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, các cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến góp ý thông qua các hình thức như: gửi công văn lấy ý kiến, mời họp thảo luận, đăng tải trên cổng thông tin điện tử nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định.

Trong năm 2023, VCCI chủ động, tích cực phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương (nay là Ban Chính sách, chiến lược Trung ương), chủ trì triển khai nhiều nội dung quan trọng trong khuôn khổ Đề án Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/12/2011 của Bộ Chính trị khóa XI về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam (Nghị quyết số 09-NQ/TW), tham mưu xây dựng dự thảo nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 09-NQ/TW. Theo đó, ngày 10/10/2023, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41/NQ-TW về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới. Đây là sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt đối với đội ngũ doanh nhân, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam với vai trò và dấu ấn nổi bật của VCCI. Bên cạnh đó, VCCI đã tham gia đóng góp ý kiến bằng văn bản đối với 406 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến doanh nghiệp[7] như dự thảo Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi...

Năm 2024, VCCI tham gia đóng góp ý kiến cho 548 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến doanh nghiệp, tăng 35% so với năm 2023, trong đó có nhiều văn bản luật quan trọng như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Dự trữ quốc gia… Những dự thảo này có tác động lớn đến cộng đồng doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vực, nhằm “tháo gỡ ngay những điểm nghẽn, khó khăn, vướng mắc, nhất là về pháp lý cho sản xuất kinh doanh”, “thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô”… Ngoài ra, VCCI tổ chức khoảng 100 hội nghị, hội thảo đóng góp xây dựng pháp luật, thu hút sự quan tâm, tham gia của 18.467 lượt đại biểu là doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp và chuyên gia kinh tế[8]. Nhiều vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật do doanh nghiệp phản ánh tới cơ quan nhà nước được ghi nhận và có phản hồi.

Nhiều hiệp hội doanh nghiệp khác cũng tích cực tham gia góp ý, hoàn thiện chính sách, pháp luật. Năm 2023, các hiệp hội doanh nghiệp đại diện cho nhiều ngành kinh tế chủ chốt, như Hiệp hội Thực phẩm minh bạch, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, Hiệp hội Sữa Việt Nam, Hiệp hội Bia - Rượu - Nước giải khát Việt Nam, Hiệp hội Dệt may Việt Nam,… cùng ký văn bản góp ý dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành định mức chi phí tái chế hợp lý, hợp lệ đối với một đơn vị khối lượng sản phẩm, bao bì và chi phí quản lý hành chính phục vụ quản lý, giám sát, hỗ trợ thực hiện trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu. Năm 2024, Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tham gia góp ý dự thảo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu… Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam thường xuyên tham gia góp ý các chính sách, pháp luật liên quan đến doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn một số hạn chế, vướng mắc làm cho vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế chưa phát huy được hết tiềm năng như:

Thứ nhất, một bộ phận doanh nghiệp chưa tích cực, chủ động tham gia góp ý kiến vào các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khi cơ quan chủ trì tổ chức lấy ý kiến công khai. Các doanh nghiệp tập trung hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, trường hợp tham gia góp ý kiến chủ yếu thông qua cơ quan chủ quản (cấp trên như đối với doanh nghiệp nhà nước) hoặc thông qua các hiệp hội, tổ chức. Do đó, khi văn bản pháp luật được ban hành và triển khai thực hiện, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận, hiểu và thực hiện pháp luật theo quy định, tạo rào cản cho sự phát triển của doanh nghiệp trên thị trường. Bên cạnh đó, có trường hợp doanh nghiệp chỉ tập trung vào những quy định có liên quan đến lợi ích của mình. Một số doanh nghiệp còn hạn chế về năng lực, kiến thức pháp luật nên mức độ tham gia còn ít. Một số doanh nghiệp chưa được tạo điều kiện tham gia vào quá trình xây dựng chính sách, pháp luật.

Thứ hai, đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp sẽ tập hợp các ý kiến góp ý của doanh nghiệp và gửi tới cơ quan chủ trì soạn thảo. Tuy nhiên, việc tiếp thu và giải trình tiếp thu ý kiến của cơ quan chủ trì soạn thảo còn hạn chế, do đó, chưa thực sự tạo niềm tin vững chắc, tạo động lực, tinh thần, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong công tác này. Theo thống kê của VCCI, năm 2023, VCCI đã đưa ra 362 ý kiến góp ý với 63 văn bản quy phạm pháp luật (tương ứng với mỗi văn bản có 06 đề xuất, kiến nghị gửi tới cơ quan soạn thảo); với tỷ lệ tiếp thu ý kiến góp ý của bộ, ngành là 53,87% (195/362 ý kiến). Tỷ lệ này thấp hơn so với năm 2020 (54,92%), tuy nhiên, cao hơn so với tỷ lệ tiếp thu của năm 2022 (47,73%), năm 2021 (46,5%), năm 2019 (42,51%) và năm 2018 (44,08%)[9]. Tỷ lệ tiếp thu ý kiến góp ý của VCCI năm 2024 của bộ, ngành là 51,98% (262/504 ý kiến), thấp hơn so với năm 2023 (53,87%) và năm 2020 (54,92%)[10]. Các góp ý của VCCI thường tập trung vào các yếu tố về tính hợp lý, tính minh bạch và tính thống nhất của quy định. Các đề xuất liên quan đến tính hợp lý chiếm hơn một nửa tổng số góp ý, sau đó là các góp ý về tính minh bạch và tính thống nhất. Thực tế cho thấy, dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư, kinh doanh còn nhiều điểm chưa hợp lý, khả thi, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, chưa thể hiện rõ vai trò của doanh nghiệp và các hiệp hội doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.

Thứ ba, đối với các dự thảo soạn thảo theo trình tự, thủ tục rút gọn, một luật sửa đổi, bổ sung nhiều luật thì thời gian soạn thảo, nghiên cứu xem xét các nội dung rất ngắn, trình tự lấy ý kiến đối tượng chịu tác động gấp, dẫn đến chất lượng góp ý của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp còn hạn chế.

Thứ tư, doanh nghiệp còn gặp khó khăn khi tham gia góp ý kiến đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương như nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Hiện, pháp luật quy định cơ quan lập đề nghị xây dựng, cơ quan chủ trì soạn thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Do đó, chưa quy định rõ (có tính buộc) phải lấy ý kiến của VCCI về các đề nghị, dự thảo liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp.

Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, như các doanh nghiệp chưa nhận thức sâu sắc về vai trò của mình trong xây dựng, hoàn thiện thể chế của Nhà nước; các quy định pháp luật về lấy ý kiến và giải trình tiếp thu ý kiến của cơ quan đề nghị, cơ quan chủ trì soạn thảo còn bất cập, chưa thu hút sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp; thiếu kết nối, chia sẻ thông tin giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội; những bất cập, tiêu cực trong quản lý nhà nước, thủ tục hành chính...

3. Một số giải pháp phát huy vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế Nhà nước - thị trường - xã hội ở Việt Nam

Để phát huy vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế. Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của thể chế, vai trò, trách nhiệm của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế là tiền đề cơ bản, cũng là động lực tự thân để các doanh nghiệp tham gia ngày càng tích cực hơn và có nhiều đóng góp thiết thực hơn cho công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới. Ngoài việc tăng cường công tác tuyên truyền, truyền thông, cần xây dựng và phát triển các diễn đàn của doanh nghiệp, xây dựng mạng lưới doanh nghiệp, có kết nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội..., từ đó, tạo cơ hội thiết lập những cam kết dài hạn và có ý nghĩa, cũng như chia sẻ thông tin và kêu gọi sự tham gia đóng góp ý kiến. Các hiệp hội doanh nghiệp là cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp và Nhà nước. Chẳng hạn, ở Hàn Quốc, Hiệp hội Thương mại quốc tế Hàn Quốc, Hiệp hội Kinh tế Hàn Quốc là những diễn đàn tiêu biểu kết nối cộng đồng doanh nghiệp với Nhà nước, thường xuyên đưa ra các kiến nghị, đề xuất chính sách, đối thoại với Chính phủ về các vấn đề kinh tế vĩ mô, chính sách lao động và các quy định quản lý[11]. Ở Liên minh châu Âu, các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp chủ động tham gia vào quá trình hoạch định chính sách thông qua hoạt động vận động hành lang hợp pháp để trao đổi thông tin, trình bày quan điểm, tác động đến quyết định của cơ quan có thẩm quyền[12].

Thứ hai, nêu cao vai trò của người đứng đầu doanh nghiệp trong tham gia xây dựng, hoàn thiện thể chế. Việc phát huy vai trò, sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội phụ thuộc rất lớn vào bộ máy lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các doanh nghiệp. Người đứng đầu doanh nghiệp tích cực, chủ động lãnh đạo, chỉ đạo các bộ phận liên quan tham gia góp ý kiến các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là những văn bản liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, ngành/lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp... góp phần tạo tiếng nói có trách nhiệm, đóng góp hiệu quả cho công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế. Cần thông qua các hình thức kết nối, tác động, gây ảnh hưởng, khuyến khích bằng cơ chế, chính sách... để nâng cao thái độ, tinh thần trách nhiệm của bộ máy lãnh đạo, quản lý, những người đứng đầu doanh nghiệp trong thực hiện quyền và trách nhiệm xây dựng, hoàn thiện thể chế.

Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, trong đó, bảo đảm khơi thông nguồn lực cho phát triển[13]; bảo đảm sự tham gia thuận lợi, thực chất, hiệu quả của cộng đồng doanh nghiệp, “không đẩy khó khăn cho người dân, doanh nghiệp trong thiết kế chính sách và xây dựng pháp luật”[14]. Nghị quyết số 68-NQ/TW xác định: “Không ngừng củng cố, nâng cao vai trò, chức năng, nhiệm vụ, hiệu quả hoạt động của các hiệp hội, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp, doanh nhân để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của doanh nghiệp, doanh nhân; tham gia xây dựng, phản biện và giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước”. Như vậy, doanh nghiệp không chỉ là đối tượng chịu sự tác động của thể chế, mà còn là chủ thể đồng kiến tạo thể chế cùng Nhà nước. Thời gian tới, pháp luật cần quy định rõ về yêu cầu, cơ chế tham gia của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế. Các cơ quan đề nghị, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật cần đổi mới phương thức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, dự thảo văn bản như các tổ chức, hiệp hội, các chuyên gia, nhà khoa học, người hoạt động thực tiễn; đồng thời, có cơ chế tiếp thu ý kiến góp ý đối với các đề nghị xây dựng văn bản, dự án, dự thảo văn bản; trường hợp không tiếp thu phải có báo cáo giải trình đầy đủ; tăng cường phản biện xã hội, truyền thông đối với các văn bản quy phạm pháp luật có tác động lớn đến người dân và doanh nghiệp. Nghiên cứu quy định về vận động hành lang ở Việt Nam gắn với hoàn thiện pháp luật về hội[15]. Với tinh thần chia sẻ rủi ro, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, Nhân dân và doanh nghiệp, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế nhằm tháo gỡ khó khăn, huy động, phát huy nguồn lực của Nhà nước để dẫn dắt mọi nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển. Trên cơ sở đó, khẩn trương giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền; phối hợp, kiến nghị các bộ, ngành hoặc tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng, vấn đề phát sinh mới.

Thứ tư, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền cần tiếp tục chỉ đạo các ngành, các địa phương nắm bắt thông tin và kịp thời giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho người dân, doanh nghiệp. Thực hiện thực chất và có hiệu quả các yêu cầu công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Các nước phát triển như Vương quốc Anh, Đức, Hàn Quốc,... đều rất coi trọng việc đối thoại, tham vấn doanh nghiệp trong hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, cần khai thác tối đa tiện ích công nghệ số để kết nối, chia sẻ dữ liệu với người dân và cộng đồng doanh nghiệp[16]. Trong công tác tổ chức thi hành pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Tăng cường các hình thức trao đổi, đối thoại với doanh nghiệp, người dân về vướng mắc, bất cập trong thực thi chính sách, pháp luật. Điều quan trọng, cần có tinh thần cầu thị, lắng nghe, giải quyết hiệu quả các khó khăn, vướng mắc, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của doanh nghiệp; quan tâm, đồng hành, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã, nhà đầu tư hoạt động có hiệu quả nhất. Đối với các doanh nghiệp nhà nước, các cấp chính quyền (các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước là các bộ, ngành, địa phương) có thể thực hiện cơ chế định kỳ ba tháng tổ chức gặp gỡ, đối thoại, lắng nghe các doanh nghiệp nhà nước chia sẻ các khó khăn, vướng mắc, tâm tư, nguyện vọng để xử lý kịp thời.

Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và năng lực phản ứng chính sách trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, đặc biệt, trong tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, người dân, doanh nghiệp. Kiên quyết xử lý nghiêm theo quy định pháp luật các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí việc làm để nhũng nhiễu doanh nghiệp, trục lợi cá nhân; điều chuyển hoặc đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ không đủ năng lực hoặc vi phạm đạo đức công vụ, gây phiền hà, sách nhiễu cho doanh nghiệp.

Kết luận

Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, nhận thức và xử lý tốt mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là nhiệm vụ cấp thiết, nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước. Đặc biệt, Đảng xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất cho tăng trưởng kinh tế, đòi hỏi phải có các cơ chế, chính sách đột phá, khơi thông điểm nghẽn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia sâu, rộng hơn vào nền kinh tế. Một trong những yêu cầu đặt ra hiện nay là cần phát huy cao độ vai trò của các doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, nhất là thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Những năm qua, cộng đồng doanh nghiệp có nhiều đóng góp quan trọng trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức, hiệp hội. Tuy nhiên, thực tế tồn tại một số bất cập, hạn chế, đòi hỏi phải tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các doanh nghiệp; đề cao vai trò của người đứng đầu doanh nghiệp; bảo đảm cơ chế tham gia đóng góp ý kiến của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế một cách thuận lợi, thực chất, hiệu quả; tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân; thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các hiện tượng tiêu cực, sách nhiễu doanh nghiệp.

PGS. TS. Dương Thị Tươi & Ths. Âu Thị Tâm Minh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Ảnh: Internet

[1]. Văn phòng Trung ương Đảng (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Hà Nội, tr.28.

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.130-131.

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.133.

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.132.

[5]. Bùi Thị Ngọc Hiền (2021), Các yếu tố tác động đến sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động quản lý nhà nước, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 5/2021, tr.68.

[6]. Vũ Khuê (2023), Tạo hành lang pháp lý thuận lợi để phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, https://doanhnghiephoinhap.vn/tao-hanh-lang-phap-ly-thuan-loi-de-phat-huy-vai-tro-cua-cac-hiep-hoi-doanh-nghiep-38123, truy cập ngày 10/4/2026.

[7]. Tuấn Vỹ (2024), VCCI luôn là người bạn đồng hành với doanh nghiệp, https://diendandoanhnghiep.vn/vcci-luon-la-nguoi-ban-dong-hanh-voi-doanh-nghiep-10131638.html, truy cập ngày 10/4/2026.

[8]. Anh Minh (2024), Doanh nghiệp sẽ tích cực góp ý các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, https://baochinhphu.vn/doanh-nghiep-se-tich-cuc-gop-y-cac-du-thao-van-ban-quy-pham-phap-luat-102240308174413605.htm#:~:text=Nh%C3%ACn%20l%E1%BA%A1i%20n%C4%83m%202023%2C%20VCCI,v%C3%A0%20chuy%C3%AAn%20gia%20kinh%20t%E1%BA%BF, truy cập ngày 10/4/2026.

[9]. Liên đoàn Thương mại và công nghiệp Việt Nam (2023), Báo cáo dòng chảy pháp luật kinh doanh năm 2023, Nxb. Công Thương, Hà Nội.

[10]. Liên đoàn Thương mại và công nghiệp Việt Nam (2024), Báo cáo dòng chảy pháp luật kinh doanh năm 2024, Nxb. Công Thương, Hà Nội.

[11]. Xem: Cổng Thông tin điện tử Hiệp hội Thương mại quốc tế Hàn Quốc (https://www.kita.org/), Hiệp hội Kinh tế Hàn Quốc (https://kea.ne.kr/kor), truy cập ngày 10/4/2026.

[12]. Lobby control, Corporate Europe Observatory (2025), The EU’s lobby league table: Tech, banking, Energy, Chemicals dominate, https://corporateeurope.org/sites/default/files/2025-02/EU%20Lobby%20League%20briefing%2024.2.2025.pdf, truy cập ngày 10/4/2026.

[13]. Lương Thanh Cường (2021), Một số yêu cầu đối với thể chế phục vụ kiến tạo phát triển, https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/02/02/mot-so-yeu-cau-doi-voi-the-che-phuc-vu-kien-tao-phat-trien/, truy cập ngày 10/4/2026.

[14]. Trương Hồng Quang (2025), Đổi mới công tác xây dựng pháp luật, xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/1126002/doi-moi-cong-tac-xay-dung-phap-luat%2C-xay-dung-he-thong-phap-luat-hien-dai%2C-ton-trong%2C-bao-dam%2C-bao-ve-hieu-qua-quyen-con-nguoi%2C-quyen-cong-dan.aspx, truy cập ngày 10/4/2026.

[15]. Trần Mai Hùng (2016), Vận động hành lang trong hoạch định chính sách, https://tcnn.vn/news/detail/32754/Van_dong_hanh_lang_trong_hoach_dinh_chinh_sachall.html, truy cập ngày 10/4/2026.

[16]. Nguyễn Trung Sơn (2022), Sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong bối cảnh phát triển công nghệ số, https://www.quanlynhanuoc.vn/2022/11/17/su-tham-gia-cua-nguoi-dan-vao-qua-trinh-xay-dung-van-ban-quy-pham-phap-luat-trong-boi-canh-phat-trien-cong-nghe-so/, truy cập ngày 10/4/2026.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lương Thanh Cường (2021), Một số yêu cầu đối với thể chế phục vụ kiến tạo phát triển, https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/02/02/mot-so-yeu-cau-doi-voi-the-che-phuc-vu-kien-tao-phat-trien/, truy cập ngày 10/4/2026.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Bùi Thị Ngọc Hiền (2021), Các yếu tố tác động đến sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động quản lý nhà nước, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 5/2021.

4. Trần Mai Hùng (2016), Vận động hành lang trong hoạch định chính sách, https://tcnn.vn/news/detail/32754/Van_dong_hanh_lang_trong_hoach_dinh_chinh_sachall.html, truy cập ngày 10/4/2026.

5. Vũ Khuê (2023), Tạo hành lang pháp lý thuận lợi để phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, https://doanhnghiephoinhap.vn/tao-hanh-lang-phap-ly-thuan-loi-de-phat-huy-vai-tro-cua-cac-hiep-hoi-doanh-nghiep-38123, truy cập ngày 10/4/2026.

6. Liên đoàn Thương mại và công nghiệp Việt Nam (2023), Báo cáo dòng chảy pháp luật kinh doanh năm 2023, Nxb. Công Thương, Hà Nội.

7. Liên đoàn Thương mại và công nghiệp Việt Nam (2024), Báo cáo dòng chảy pháp luật kinh doanh năm 2024, Nxb. Công Thương, Hà Nội.

8. Anh Minh (2024), Doanh nghiệp sẽ tích cực góp ý các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, https://baochinhphu.vn/doanh-nghiep-se-tich-cuc-gop-y-cac-du-thao-van-ban-quy-pham-phap-luat-102240308174413605.htm#:~:text=Nh%C3%ACn%20l%E1%BA%A1i%20n%C4%83m%202023%2C%20VCCI,v%C3%A0%20chuy%C3%AAn%20gia%20kinh%20t%E1%BA%BF, truy cập ngày 10/4/2026.

9. Trương Hồng Quang (2025), Đổi mới công tác xây dựng pháp luật, xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/1126002/doi-moi-cong-tac-xay-dung-phap-luat%2C-xay-dung-he-thong-phap-luat-hien-dai%2C-ton- trong%2C-bao-dam%2C-bao-ve-hieu-qua-quyen-con-nguoi%2C-quyen-cong-dan.aspx, truy cập ngày 10/4/2026.

10. Nguyễn Trung Sơn (2022), Sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong bối cảnh phát triển công nghệ số, https://www.quanlynhanuoc.vn/2022/11/17/su-tham-gia-cua-nguoi-dan-vao-qua-trinh-xay-dung-van-ban-quy-pham-phap-luat-trong-boi-canh-phat-trien-cong-nghe-so/, truy cập ngày 10/4/2026.

11. Tuấn Vỹ (2024), VCCI luôn là người bạn đồng hành với doanh nghiệp, https://diendandoanhnghiep.vn/vcci-luon-la-nguoi-ban-dong-hanh-voi-doanh-nghiep-10131638.html, truy cập ngày 10/4/2026.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (454) tháng 6/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 9/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 9/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn) Trong tháng 9/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Xác định bản chất pháp lý của nghĩa vụ tài chính khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Xác định bản chất pháp lý của nghĩa vụ tài chính khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Tóm tắt: Xác định bản chất pháp lý của khoản tiền mà người sử dụng lao động phải trả khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm tính thống nhất của pháp luật lao động. Trên cơ sở phân tích Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019 và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ những bất cập trong xác định căn cứ phát sinh, thời gian tính trả và giới hạn áp dụng của nghĩa vụ tài chính này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật theo hướng xác định khoản tiền phải trả là nghĩa vụ tài chính mang tính trách nhiệm lao động đặc thù, đồng thời, bổ sung các tiêu chí về thời gian tính trả và giới hạn nghĩa vụ nhằm bảo đảm tính thống nhất và cân bằng lợi ích giữa các bên trong quan hệ lao động.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.

Theo dõi chúng tôi trên: