Từ khóa: tiếp cận thông tin, người khuyết tật, chuyển đổi số, trợ giúp pháp lý, định dạng dễ tiếp cận.
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, thông tin là nguồn lực then chốt để phát triển bình đẳng. Quyền tiếp cận thông tin, được hiến định tại Hiến pháp năm 2013[1] và cụ thể hóa bởi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Tuy nhiên, sự bùng nổ công nghệ mang tính hai mặt: vừa tạo ra phương thức chia sẻ tiện lợi, vừa tạo “khoảng cách số”[2] đối với các nhóm yếu thế, đặc biệt là người khuyết tật. Thực tiễn 08 năm thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cho thấy, các quy định hiện hành chưa theo kịp sự phát triển của kỷ nguyên số. Việc thiếu quy định bắt buộc về “định dạng dễ tiếp cận”, hạ tầng công nghệ hỗ trợ tại cơ sở còn hạn chế, cùng rào cản kỹ năng số đang khiến người khuyết tật (NKT) đối mặt với nguy cơ bị “bên lề hóa” khỏi dòng chảy thông tin chính thống.
Để hiện thực hóa nguyên tắc “không để ai bị bỏ lại phía sau”, nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng khung pháp lý và thực tiễn bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của NKT. Từ đó, đề xuất các định hướng hoàn thiện dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nội dung trọng tâm hướng tới: (i) luật hóa các phương thức cung cấp thông tin đa dạng trên nền tảng số; (ii) mở rộng chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin; (iii) phát huy vai trò của thiết chế trợ giúp pháp lý như một “cầu nối” thiết yếu để bảo đảm quyền lợi thực chất cho người khuyết tật.
1. Cơ sở chính trị và căn cứ pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật trong kỷ nguyên số
1.1. Cơ sở chính trị
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đề ra chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”[3], Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII nhấn mạnh yêu cầu xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đưa ra tầm nhìn và định hướng phát triển “xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân; đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”[4]. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và các chiến lược quốc gia về chuyển đổi số đặt ra yêu cầu xây dựng Chính phủ số, xã hội số bao trùm, trong đó, nhấn mạnh việc không bỏ ai lại phía sau. Các văn bản này định hướng việc ứng dụng công nghệ số để xóa bỏ rào cản, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm yếu thế tiếp cận dịch vụ công và thông tin tri thức. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân và của người khuyết tật nói riêng, được thực thi hiệu quả trên môi trường số.
1.2. Căn cứ pháp lý về quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật
Đối với mỗi cá nhân, thông tin là cơ sở hình thành tri thức, ý thức, tác động đến sự phát triển không chỉ về trí tuệ mà cả về đạo đức, tinh thần và thể chất của con người[5]. Quyền tiếp cận thông tin là quyền con người cơ bản, được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng mà Việt Nam là thành viên. Điều 19 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 (UDHR) và Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) đều khẳng định quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, không phân biệt biên giới và hình thức truyền đạt[6].
Đặc biệt, đối với NKT, Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (CRPD) đã thiết lập những tiêu chuẩn cụ thể và bắt buộc. Điểm h khoản 1 Điều 4 CRPD yêu cầu các quốc gia thành viên phải “Cung cấp thông tin dễ tiếp cận cho người khuyết tật về phương tiện, thiết bị hỗ trợ di chuyển và các công nghệ trợ giúp”. Quan trọng hơn, Điều 21 CRPD quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin dành cho công chúng tới NKT dưới các hình thức và công nghệ họ có thể tiếp cận được như chữ nổi Braille, ngôn ngữ ký hiệu, định dạng điện tử đọc được một cách kịp thời và không thu thêm phí. Đây là cơ sở pháp lý quốc tế nền tảng, đòi hỏi pháp luật quốc gia phải chuyển hóa các quy định này thành nghĩa vụ cụ thể của cơ quan nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức giao tiếp giữa Nhà nước và công dân[7].
Thể chế hóa các cam kết quốc tế và Hiến pháp năm 2013 (Điều 25), hệ thống pháp luật Việt Nam từng bước hình thành khung khổ pháp lý bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của NKT, với các trụ cột chính sau:
Thứ nhất, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Đây là đạo luật quy định về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Luật quy định nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong thực hiện quyền. Điều 33 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định trách nhiệm của cơ quan đăng ký cư trú và các quy định liên quan bước đầu đề cập đến trách nhiệm hướng dẫn, giải thích và giúp đỡ NKT thực hiện quyền. Các biện pháp bảo đảm quyền cho NKT được quy định như bố trí thiết bị nghe - nhìn, thiết bị phụ trợ phù hợp với điều kiện thực tế[8].
Thứ hai, pháp luật về trợ giúp pháp lý. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 xác định NKT có khó khăn về tài chính là đối tượng được trợ giúp pháp lý. Hoạt động trợ giúp pháp lý không chỉ dừng ở bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong quá trình tố tụng mà gồm việc đại diện ngoài tố tụng để tư vấn, cung cấp thông tin pháp luật, đóng vai trò là “cầu nối” thiết yếu giúp NKT tiếp cận các thông tin pháp lý phức tạp mà họ không thể tự mình nắm bắt do các rào cản về dạng tật[9].
2. Thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật trong chuyển đổi số
2.1. Khoảng trống pháp lý trong bối cảnh kỷ nguyên số
Mặc dù đã có khung pháp lý cơ bản, nhưng đối chiếu với yêu cầu thực tiễn của kỷ nguyên số và các tiêu chuẩn quốc tế, pháp luật hiện hành bộc lộ những khoảng trống đáng kể:
Một là, thiếu quy định cụ thể về định dạng dễ tiếp cận. Điều 18, Điều 23 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định về hình thức cung cấp thông tin (văn bản, trực tiếp, mạng điện tử) nhưng chưa bắt buộc các cơ quan nhà nước phải cung cấp thông tin dưới các định dạng kỹ thuật số chuyên biệt cho NKT, như tệp tin có cấu trúc để phần mềm đọc màn hình xử lý, video có phụ đề, ngôn ngữ ký hiệu. Quy định hiện hành mới chỉ dừng ở mức tạo điều kiện, chưa luật hóa các tiêu chuẩn kỹ thuật số như chuẩn WCAG cho trang thông tin điện tử để dễ tiếp cận hơn đối với NKT.
Hai là, bất cập về phạm vi và chủ thể cung cấp thông tin. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 giới hạn trách nhiệm cung cấp thông tin chủ yếu ở cơ quan nhà nước. Trong khi, các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ thiết yếu như bệnh viện, trường học, trung tâm bảo trợ xã hội, nơi nắm giữ nguồn thông tin ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống NKT, lại chưa được quy định rõ ràng trách nhiệm này. Điều này tạo rào cản lớn khi NKT muốn tiếp cận thông tin từ các đơn vị cung ứng dịch vụ công.
Ba là, cơ chế phối hợp giữa cung cấp thông tin và trợ giúp pháp lý chưa rõ ràng. Mặc dù, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có vai trò hỗ trợ NKT, nhưng Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 chưa quy định cụ thể để có sự liên thông phù hợp, bảo đảm và hỗ trợ nhu cầu của NKT.
2.2. Rào cản trong tiếp cận thông tin của người khuyết tật trong bối cảnh chuyển đổi số
Sau 08 năm thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, công tác bảo đảm quyền cho NKT đã đạt được một số kết quả nhất định. Nhiều cơ quan đã thiết lập chuyên mục hỗ trợ người khuyết tật trên cổng thông tin điện tử, cài đặt phần mềm đọc tin tự động, giúp người khiếm thị tiếp cận nội dung văn bản. Tại các bộ phận một cửa của một số địa phương đã thực hiện bố trí cán bộ hướng dẫn, hỗ trợ NKT viết phiếu yêu cầu. Các hình thức cung cấp thông tin linh hoạt cho NKT vùng sâu, vùng xa thông qua già làng, trưởng bản, hoặc qua các phương tiện phát thanh tiếng dân tộc cũng được duy trì[10].
Bên cạnh những kết quả đạt được, kỷ nguyên số đang đặt ra những thách thức chưa từng có đối với việc thi hành luật:
Thứ nhất, rào cản về hạ tầng kỹ thuật và công nghệ. Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 chỉ rõ, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ việc cung cấp thông tin đối với các đối tượng đặc thù như NKT còn thiếu thốn, đặc biệt là tại cấp cơ sở. Hầu hết các cổng thông tin điện tử, trang tin trực tuyến của cơ quan nhà nước chưa được thiết kế đồng bộ theo tiêu chuẩn tiếp cận web, thiếu các tính năng hỗ trợ người mù màu, người khiếm thị. Đáng chú ý, công tác số hóa tài liệu chủ yếu là quét (scan) văn bản giấy sang định dạng PDF hình ảnh. Định dạng này cản trở đối với các phần mềm đọc màn hình của người khiếm thị, họ không thể tiếp cận nội dung dù tài liệu đã được đưa lên mạng.
Thứ hai, rào cản về kỹ năng số. Phần lớn NKT, đặc biệt là người cao tuổi, người dân tộc thiểu số, gặp khó khăn trong việc sử dụng các thiết bị thông minh và internet. Kết quả khảo sát do Trung tâm Tư vấn hỗ trợ hòa nhập người khuyết tật thành phố Hà Nội thực hiện cho biết, 85% người khuyết tật chưa biết đến quyền tiếp cận thông tin và chỉ 23% người khuyết tật được đáp ứng về thông tin, trong khi nhu cầu của nhóm đối tượng này lên đến 92%[11], nên việc tiếp cận kỹ năng số càng khó khăn. Việc chuyển đổi hoàn toàn sang các phương thức công khai thông tin trực tuyến như đề xuất tại Chính sách 5 Báo cáo số 758/BC-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp về rà soát chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến chính sách của Luật Tiếp cận thông tin, nếu không đi kèm các biện pháp hỗ trợ, sẽ vô tình tước đi quyền tiếp cận của nhóm đối tượng này. Cần định kỳ rà soát, phát hiện và cải thiện mức độ thân thiện với NKT, cũng như các nhóm người dùng có nhu cầu tương tự như người cao tuổi, người dân tộc thiểu số. Hiện nay, hơn 60% các trang mạng/cổng thông tin của các cơ quan nhà nước đã cung cấp các chức năng cơ bản hỗ trợ NKT tiếp cận, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông như màn hình đọc cho NKT nhìn, tăng và giảm cỡ chữ[12]. Mặc dù có các chính sách về tăng cường tiếp cận thông tin, NKT vẫn gặp nhiều thách thức, đặc biệt, trong việc tiếp cận các chính sách có liên quan trực tiếp đối với họ. Ngoài ra, các tài liệu, sách báo, chương trình truyền hình chưa bảo đảm NKT có thể tiếp cận thông tin. Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong trợ giúp tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, quy định hiện hành và việc đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế cũng như tạo môi trường để công nghệ có thể phát huy đủ vai trò làm cầu nối tiếp cận thông tin cho NKT.
Thứ ba, thiếu hụt nguồn lực hỗ trợ. Cán bộ đầu mối cung cấp thông tin tại các cơ quan nhà nước hiện nay chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm, chưa được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng làm việc và hỗ trợ NKT. Trong bối cảnh đó, hệ thống trợ giúp pháp lý đã phát huy vai trò nhất định. Thực tiễn tại một số địa phương cho thấy, việc cung cấp thông tin thông qua các tổ chức, đoàn thể đã giúp NKT tiếp cận được chính sách. Tuy nhiên, hoạt động này còn mang tính thụ động. Các trung tâm trợ giúp pháp lý, các tổ chức có liên quan thường tham gia vào giai đoạn tố tụng hoặc tư vấn vụ việc cụ thể, chưa thực sự trở thành một đầu mối thông tin chủ động, thường xuyên để hỗ trợ NKT tiếp cận các thông tin hành chính, quy hoạch, chính sách trong đời sống hàng ngày theo cơ chế của Luật Tiếp cận thông tin.
3. Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật
Dựa trên các định hướng chính sách trong hồ sơ đề nghị xây dựng Luật, và những bất cập, hạn chế như đã phân tích, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cụ thể tập trung vào ba trụ cột: đa dạng hóa phương thức cung cấp, mở rộng chủ thể có trách nhiệm và hoàn thiện các điều kiện bảo đảm.
3.1. Đa dạng hóa phương thức cung cấp thông tin theo hướng thân thiện và dễ tiếp cận
Chính sách về đa dạng hóa phương thức cung cấp thông tin được xác định là một trong những chính sách trọng tâm trong quá trình sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin, nhằm khắc phục tình trạng các phương thức tiếp cận truyền thống như văn bản giấy, niêm yết tại trụ sở không phù hợp và chưa bao quát được các nhóm đối tượng đặc thù trong bối cảnh chuyển đổi số[13].
Thứ nhất, luật hóa các kênh tiếp cận thông tin phi truyền thống trên môi trường số. Các hình thức công khai thông tin tại cơ sở hiện nay chủ yếu vẫn là niêm yết, thông báo qua loa truyền thanh, chưa tận dụng hiệu quả các nền tảng số. Đối với NKT, đặc biệt là NKT vận động hoặc khiếm thị, việc phải di chuyển đến trụ sở cơ quan nhà nước để đọc niêm yết là rào cản vật lý lớn. Trong khi đó, các kênh thông tin hiện đại như mạng xã hội, ứng dụng di động chưa được luật hóa chính thức, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong áp dụng. Ví dụ, mạng xã hội tạo ra siêu liên kết cá nhân, mỗi cá nhân có thể tiếp cận được khối lượng thông tin khổng lồ, đa dạng và không theo chủ đích của bất cứ ai[14].
Do đó, dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) cần bổ sung quy định tại Điều 18 và Điều 24, chính thức công nhận và bắt buộc cơ quan nhà nước sử dụng các phương thức cung cấp thông tin mới phù hợp với môi trường số và thói quen tiếp cận của NKT. Cụ thể:
- Quy định rõ trách nhiệm công khai thông tin qua các kênh truyền thông xã hội chính thức như Zalo Official Account, Fanpage được xác thực và ứng dụng di động (Mobile App) của cơ quan nhà nước. Các nền tảng này có ưu điểm là giao diện thân thiện, dễ tích hợp các tính năng hỗ trợ NKT như phóng to chữ, tương thích với trình đọc màn hình trên điện thoại và cho phép tiếp cận thông tin mọi lúc, mọi nơi, không cần di chuyển. Báo cáo thuyết minh chính sách đã dẫn chứng mô hình Zalo OA của Bộ Y tế hay “Thông tin Chính phủ” là những ví dụ điển hình về hiệu quả của kênh tiếp cận này[15].
- Triển khai ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và trợ lý ảo (Chatbot) trong cung cấp thông tin. Đối với người khiếm thị hoặc người gặp khó khăn trong thao tác tìm kiếm trên các cổng thông tin phức tạp, việc tương tác bằng giọng nói hoặc văn bản tự nhiên với các Chatbot AI sẽ giúp họ tra cứu thông tin pháp luật, thủ tục hành chính một cách dễ dàng[16]. Luật cần quy định đây là một trong các hình thức tạo điều kiện thuận lợi mà Nhà nước khuyến khích và ưu tiên đầu tư.
Thứ hai, quy định bắt buộc về định dạng dễ tiếp cận. Một trong những hạn chế lớn nhất hiện nay là thông tin dù được đưa lên môi trường mạng nhưng thường ở dưới dạng tệp tin scan từ văn bản giấy, làm cho các phần mềm hỗ trợ người khiếm thị không thể nhận dạng và đọc được nội dung. Để giải quyết vấn đề này, Luật sửa đổi cần bổ sung nguyên tắc tiếp cận theo thiết kế trên cơ sở nhu cầu của người dùng.
Cụ thể, cần bổ sung vào Dự thảo Luật quy định: cơ quan nhà nước có trách nhiệm bảo đảm thông tin công khai được lưu trữ dưới định dạng có thể truy cập và xử lý được bởi các thiết bị số hỗ trợ NKT. Đồng thời, cần luật hóa quy định tại Tờ trình[17]: Đối với đối tượng là NKT..., cơ quan, tổ chức, đơn vị xác định hình thức công khai thông tin phù hợp với khả năng, điều kiện tiếp cận thông tin của công dân. Quy định này đặt ra nghĩa vụ pháp lý buộc các cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm chuyển đổi định dạng thông tin phù hợp (ví dụ: cung cấp bản text thay vì bản scan, cung cấp video có phụ đề hoặc ngôn ngữ ký hiệu) khi có yêu cầu từ người khuyết tật, thay vì chỉ cung cấp những gì có sẵn.
3.2. Mở rộng chủ thể và thiết lập cơ chế trợ giúp pháp lý là đầu mối hỗ trợ thông tin
Chính sách 1 Báo cáo số 757/BC-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp đánh giá tác động chính sách của Dự thảo Luật về mở rộng chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin là cơ sở quan trọng để khắc phục khoảng trống trong bảo đảm quyền của NKT.
Để không ai bị bỏ lại phía sau, bên cạnh hoàn thiện các quy định về công nghệ, cần phải huy động hệ thống trợ giúp pháp lý. Kinh nghiệm quốc tế, như được ghi nhận trong Công ước CRPD, nhấn mạnh việc cung cấp thông tin dễ tiếp cận thông qua các công nghệ trợ giúp và các hình thức dịch vụ hỗ trợ. Tại Việt Nam, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò là cầu nối quan trọng, hỗ trợ người khuyết tật “phiên dịch” các thông tin pháp luật phức tạp thành các định dạng dễ hiểu và dễ tiếp cận.
Thứ nhất, xác lập trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ thiết yếu. Báo cáo đánh giá tác động[18] chỉ ra, nhu cầu thông tin của người dân không chỉ giới hạn ở các văn bản hành chính của cơ quan công quyền, mà còn gồm các thông tin liên quan trực tiếp đến đời sống như y tế, giáo dục, chính sách an sinh xã hội. Đối với NKT, đây là những nhóm thông tin quan trọng. Tuy nhiên, Luật hiện hành chưa quy định rõ trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập như bệnh viện, trường học, trung tâm bảo trợ xã hội cung cấp thông tin theo cơ chế của Luật Tiếp cận thông tin.
Vì vậy, Dự thảo Luật cần quy định rõ: Chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin bao gồm “các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu”. Quy định này sẽ buộc các đơn vị như bệnh viện công, trường học công lập, đặc biệt là các trung tâm bảo trợ xã hội phải thực hiện đầy đủ quy trình công khai thông tin, tiếp nhận và giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin của công dân một cách minh bạch, có trách nhiệm giải trình.
Thứ hai, vai trò cầu nối của trung tâm trợ giúp pháp lý và các tổ chức có liên quan. Trong bối cảnh thông tin ngày càng phức tạp và bùng nổ, NKT thường gặp khó khăn trong sàng lọc, lựa chọn và định lượng thông tin chính thống. Vì thế, vai trò của hệ thống trợ giúp pháp lý trở nên cực kỳ quan trọng. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 xác định, NKT có khó khăn về tài chính là đối tượng được trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, hoạt động trợ giúp pháp lý hiện nay thường thiên về tham gia tố tụng, vì hồ sơ đầy đủ, rõ ràng, có xác nhận của cơ quan tố tụng nên thuận lợi cho người được trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý trong giải quyết công việc. Để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, cần mở rộng cách tiếp cận: coi việc cung cấp, giải thích, hướng dẫn pháp luật thông qua trợ giúp pháp lý là một phương thức đặc thù để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho NKT khi họ có nhu cầu.
Kiến nghị Dự thảo Luật có quy định mang tính liên kết. Trường hợp người yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến vụ việc mà đối tượng NKT thuộc diện được trợ giúp pháp lý, cơ quan nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn hoặc chuyển yêu cầu đến trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, trung tâm tư vấn pháp luật, tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức có liên quan để được hỗ trợ, giải thích, tư vấn, cung cấp thông tin theo quy định. Cơ chế liên thông này giúp NKT không bị bỏ rơi khi họ nhận được văn bản trả lời đúng quy định nhưng quá phức tạp về mặt chuyên môn hoặc định dạng để có thể tự mình hiểu và sử dụng. Khi đó, trợ giúp viên pháp lý, luật sư đóng vai trò là người ”phiên dịch” thông tin, chuyển hóa ngôn ngữ hành chính, pháp lý thành thông tin dễ hiểu, dễ tiếp cận cho NKT.
3.3. Hoàn thiện các điều kiện bảo đảm về chi phí và hạ tầng kỹ thuật
Để quyền tiếp cận thông tin không chỉ nằm trên giấy, các điều kiện bảo đảm về tài chính và kỹ thuật phải được luật hóa cụ thể, đặc biệt là đối với nhóm đối tượng yếu thế, trong đó có NKT.
Thứ nhất, miễn giảm chi phí tiếp cận thông tin. Nguyên tắc chung của Luật là người dân phải trả chi phí thực tế để in, sao, chụp, gửi thông tin. Tuy nhiên, đối với NKT, chi phí này có thể bao gồm cả chi phí chuyển đổi định dạng (ví dụ, in chữ nổi Braille tốn kém hơn in thường) hoặc chi phí bưu chính do họ không thể đi lại trực tiếp.
Tham khảo kinh nghiệm quốc tế và Công ước CRPD về việc cung cấp thông tin “không thu thêm phí”, Luật sửa đổi cần quy định rõ chính sách ưu đãi: miễn toàn bộ chi phí tiếp cận thông tin (gồm phí in ấn, sao chụp, gửi qua bưu điện) cho NKT và các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Điều này không chỉ thể hiện tính nhân văn của pháp luật xã hội chủ nghĩa mà còn xóa bỏ rào cản kinh tế, khuyến khích người khuyết tật chủ động thực hiện quyền của mình.
Thứ hai, đầu tư hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ tại cơ sở. Báo cáo tổng kết thi hành Luật[19] chỉ ra thực trạng thiếu thốn trang thiết bị phục vụ NKT tại các điểm tiếp cận thông tin ở cấp xã. Trong kỷ nguyên số, cơ sở hạ tầng không chỉ là phòng đọc hay máy photocopy, mà phải là hạ tầng số thông minh.
Dự thảo Luật cần quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, kết cấu hạ tầng thiết yếu về công nghệ thông tin để phục vụ công tác tiếp cận thông tin; có các biện pháp hỗ trợ để tạo điều kiện cho NKT thực hiện quyền. Cụ thể, yêu cầu các điểm “một cửa” điện tử, các trung tâm phục vụ hành chính công phải trang bị các phần mềm hỗ trợ như phần mềm đọc màn hình Jaws, NVDA, màn hình cảm ứng chuyên dụng, hoặc bố trí kiosk thông tin có tính năng hỗ trợ người khiếm thị, khiếm thính[20]. Đồng thời, cần đầu tư nâng cấp các cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước đạt tiêu chuẩn tiếp cận web (như WCAG) để bảo đảm mọi công dân, bất kể khả năng thể chất, đều có thể truy cập bình đẳng.
Việc hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin trong kỷ nguyên số đối với NKT đòi hỏi tư duy tiếp cận đa chiều: vừa tận dụng tối đa lợi thế của công nghệ, đa dạng hóa phương thức số, vừa củng cố mạng lưới hỗ trợ con người, mở rộng vai trò của trợ giúp pháp lý, đồng thời, bảo đảm các điều kiện nền tảng về tài chính và hạ tầng. Những định hướng sửa đổi trên, nếu được quy phạm hóa thành công, sẽ tạo hành lang pháp lý vững chắc, hiện thực hóa chủ trương “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong công cuộc chuyển đổi số quốc gia.
Kết luận
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin không chỉ là đòi hỏi về mặt kỹ thuật lập pháp mà còn là cam kết nhằm hiện thực hóa nguyên tắc “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Nghiên cứu chỉ rõ, để xóa bỏ “khoảng cách số” đối với NKT, Dự thảo Luật cần được thiết kế theo hướng bao trùm dựa trên ba trụ cột cốt lõi: (i) luật hóa các phương thức cung cấp thông tin trên nền tảng số hiện đại đi kèm quy định bắt buộc về “định dạng dễ tiếp cận”; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu; (iii) gắn kết chặt chẽ với hệ thống các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để hỗ trợ, trợ giúp pháp lý để NKT được tiếp cận thông tin thuận lợi, dễ dàng nhất. Sự kết hợp hài hòa giữa công nghệ số và mạng lưới hỗ trợ con người, đi kèm chính sách miễn phí tiếp cận, sẽ tạo ra cơ chế bảo vệ một cách vững chắc. Điều này giúp NKT vượt qua rào cản, thụ hưởng công bằng các giá trị của xã hội số trong Nhà nước pháp quyền./.
LS. Nguyễn Văn Hà
Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Luật gia thành phố Hà Nội
Ảnh: Internet
[1]. Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội.
[2]. https://special.nhandan.vn/chuyen-doi-so-tu-co-so/index.html, truy cập ngày 31/01/2026.
[3]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t. 2, tr. 249, 248.
[4]. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
[5]. Nguyễn Minh Thuyết, Vũ Công Giao, Nguyễn Trung Thành (đồng chủ biên), Quyền tiếp cận thông tin - Lý luận và thực tiễn, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
[6]. Bộ Tư pháp, Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin (hồ sơ trình Chính phủ dự án Luật Tiếp cận thông tin, tháng 7/2015).
[7]. Báo cáo số 758/BC-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp về rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), tr. 4.
[8]. Báo cáo số 694/BC-BTP ngày 24/11/2025 của Bộ Tư pháp tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin (từ ngày 01/07/2018 đến hết ngày 30/06/2025), tr. 5.
[9]. Báo cáo số 758/BC-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp về rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), tr. 201.
[10]. Báo cáo số 694/BC-BTP ngày 24/11/2025 của Bộ Tư pháp tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin (từ ngày 01/07/2018 đến hết ngày 30/06/2025), tr. 11.
[11]. Hà Trọng Bắc, Bảo đảm hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội, https://tapchitoaan.vn/bao-dam-hieu-qua-quyen-tiep-can-thong-tin-cua-nhom-doi-tuong-yeu the-trong-xa-hoi8649.html, truy cập ngày 12/03/2026.
[12]. UNDP, Báo cáo đánh giá luật người khuyết tật so sánh với công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật (CRPD) và kinh nghiệm của một số quốc gia, 07/2020.
[13]. Báo cáo số 757/BC-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp đánh giá tác động chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), tr. 40.
[14]. Trịnh Hòa Bình, Lê Thế Lĩnh, Phan Quốc Thắng (2015), Thực trạng sử dụng mạng xã hội trực tuyến và một số gợi ý về chính sách, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 2 (12) 12.2015, tr. 41 - 48.
[15]. Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) của Bộ Tư pháp ngày 11/12/2025, tr. 10 và Báo cáo số 757/BC-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp đánh giá tác động chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), tr. 39.
[16]. Xem: https://vitreemkhuyettat.org/ung-dung-tri-tue-nhan-tao-ai-cho-viec-xay-dung-dao-tao va-pho-bien-ngon-ngu-ki-hieu-cho-tre-cam-diec-245.html, truy cập ngày 01/02/2026.
[17]. Tờ trình số 164/TTr-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp về chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
[18]. Báo cáo số 757/BC-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp đánh giá tác động chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), tr. 4, 12.
[19]. Báo cáo số 694/BC-BTP ngày 24/11/2025 của Bộ Tư pháp tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin (từ ngày 01/07/2018 đến hết ngày 30/06/2025).
[20]. Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (2025). Đánh giá Cổng dịch vụ công cấp tỉnh và cấp quốc gia từ góc độ người dùng năm 2025. Báo cáo nghiên cứu chính sách về quản trị và tham gia, Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam phối hợp thực hiện.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) của Bộ Tư pháp ngày 11/12/2025, tr. 10 và Báo cáo số 757/BC-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp đánh giá tác động chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), tr. 39.
2. Báo cáo số 694/BC-BTP ngày 24/11/2025 của Bộ Tư pháp tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin (từ ngày 01/07/2018 đến hết ngày 30/06/2025).
3. Báo cáo số 757/BC-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp đánh giá tác động chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
4. Báo cáo số 758/BC-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp về rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
5. Báo cáo số 758/BC-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp về rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
5. Bộ Tư pháp, Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin (hồ sơ trình Chính phủ dự án Luật Tiếp cận thông tin, tháng 7/2015).
6. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.
7. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV ngày 23/01/2026.
8. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.2, tr. 249, 248.
9. Đào Trí Úc, Tổng quan về Luật tiếp cận thông tin và vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin ở các nước trên thế giới, tài liệu Hội thảo “Luật tiếp cận thông tin - kinh nghiệm một số nước trên thế giới”, Hội Luật gia Việt Nam tổ chức, ngày 12/7/2009.
10. Hà Trọng Bắc, Bảo đảm hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan. vn/bao-dam-hieu-qua-quyen-tiep-can thong-tin-cua-nhom-doi-tuong-yeu-the trong-xa-hoi8649.html, truy cập ngày 12/03/2026.
11. Hội Luật gia Việt Nam, Nghiên cứu về Luật tiếp cận thông tin của Bắc Âu, Tài liệu tại Hội thảo quốc tế “Xây dựng Luật Tiếp cận thông tin tại Việt Nam” tổ chức tại Hà Nội ngày 06 - 07/5/2009.
12. Nguyễn Minh Thuyết, Vũ Công Giao, Nguyễn Trung Thành (đồng chủ biên), Quyền tiếp cận thông tin - Lý luận và thực tiễn, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội (sách chuyên khảo, Hà Nội 2018).
13. Nguyễn Thị Kim Thoa (2009), Nội dung cơ bản của Luật tiếp cận thông tin một số nước, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Văn phòng Quốc hội.
14. Tờ trình số 164/TTr-BTP ngày 11/12/2025 của Bộ Tư pháp về chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
15. Toby Mendel, Freedom of information: A comparative legal survey, Second Edition, United Nations, UNESCO, Paris, 2008.
16. Trịnh Hòa Bình, Lê Thế Lĩnh, Phan Quốc Thắng (2015), Thực trạng sử dụng mạng xã hội trực tuyến và một số gợi ý về chính sách, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 2 (12) 12.2015, tr. 41 - 48.
17. Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người và Quyền công dân, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1996), Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 325 và tr. 647.
18. Liên hợp quốc, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948.
19. UN Commission on Human Rights, Commission on Human Rights resolution 2000/38 The right to freedom of opinion and expression, E/CN.4/ RES/2000/38, 20 April 2000, https:// www.refworld.org/legal/resolution/ unchr/2000/en/10575, truy cập ngày 01/02/2026.
20. UNDP, Báo cáo đánh giá luật người khuyết tật so sánh với công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật (CRPD) và kinh nghiệm của một số quốc gia, tháng 07/ 2020.
21. Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (2025). Đánh giá Cổng dịch vụ công cấp tỉnh và cấp quốc gia từ góc độ người dùng năm 2025. Báo cáo nghiên cứu chính sách về quản trị và tham gia, do Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam phối hợp thực hiện. Hà Nội, Việt Nam, tháng 08/2025.
22. Viện nghiên cứu quyền con người, Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông tin, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007.
(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới” xuất bản năm 2026)