Thứ hai 02/11/2026 15:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tóm tắt: Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, tạo cơ hội tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành án. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn một số bất cập, chồng chéo giữa các đạo luật về thẩm quyền, thủ tục, khiếu nại và kỹ thuật lập pháp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng phân định rõ phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của pháp luật. Nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng; từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế định này trong thực tiễn.

Từ khóa: tha tù trước thời hạn có điều kiện; tố tụng hình sự; thi hành án hình sự.

Nhận bài: 29/8/2026 Hoàn thành biên tập: 10/9/2026 Duyệt đăng: 15/9/2026

Improving criminal procedure law regarding the procedure for conditional early release from prison

Abstract: Conditional early release from prison is a mechanism that reflects the humanitarian policy of Vietnamese criminal law, providing individuals serving sentences with an opportunity for reintegration into the community. However, current legislation contains certain shortcomings and overlaps across various laws particularly regarding jurisdiction, procedures, complaint mechanisms, and legislative drafting techniques. Consequently, it is necessary to further improve these regulations by clearly delineating their scope, thereby ensuring the consistency, transparency, and practical viability of the law. This study analyzes existing legal provisions concerning the procedures for conditional early release, identifies limitations and inadequacies encountered during their application, and proposes recommendations to improve the legal framework and enhance the practical effectiveness of this mechanism.

Keywords: Conditional early release from prison; criminal procedure; execution of criminal judgments.

Article received: 29/8/2026 Editing completed: 10/9/2026 Approved for publication: 15/9/2026

Đặt vấn đề

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc hoàn thiện pháp luật hình sự không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, mà phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và tạo điều kiện cho người phạm tội tái hòa nhập cộng đồng. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) quy định chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Đây là bước phát triển quan trọng của chính sách hình sự theo hướng nhân đạo, đồng thời, đặt ra yêu cầu xây dựng trình tự, thủ tục áp dụng chặt chẽ, thống nhất, khả thi, phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 27-NQ/TW[1] và Nghị quyết số 66-NQ/TW[2] về tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật. Trên cơ sở đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) quy định về trình tự, thủ tục để Tòa án xem xét, quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Tuy nhiên, pháp luật tha tù trước thời hạn có điều kiện còn một số hạn chế, bất cập cần hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới.

1. Một số vấn đề về tha tù trước thời hạn có điều kiện

Trong khoa học luật hình sự, tha tù trước thời hạn có điều kiện được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Có quan điểm tiếp cận theo hướng, người đang chấp hành hình phạt tù, khi đáp ứng các điều kiện luật định, có thể được miễn tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại của hình phạt đã tuyên nhưng sự miễn chấp hành đó gắn với những điều kiện nhất định[3]. Có quan điểm cho rằng, tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù chưa chấp hành có điều kiện. Người được hưởng biện pháp này không phải tiếp tục chấp hành hình phạt tù chưa được chấp hành nhưng phải tuân thủ các quy định đối với họ trong thời gian nhất định[4].

Xét từ phương diện chính sách hình sự, sự hình thành chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện gắn liền với yêu cầu kết hợp giữa tính nghiêm minh và tính nhân đạo trong xử lý người phạm tội. Chính sách hình sự không chỉ hướng tới việc phòng ngừa, trừng trị tội phạm, mà còn chú trọng giáo dục, cải tạo và tạo điều kiện để người phạm tội sửa chữa lỗi sai, tái hòa nhập cộng đồng. Quan điểm này được thể hiện tại Nghị quyết số 49-NQ/TW, trong đó nhấn mạnh yêu cầu đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội[5]. Trên cơ sở đó, tha tù trước thời hạn có điều kiện được ghi nhận trong BLHS năm 2015, tạo cơ chế pháp lý cho phép người đang chấp hành hình phạt tù có đủ điều kiện được trở về cộng đồng trước thời hạn, tiếp tục quá trình giáo dục, cải tạo trong môi trường xã hội bình thường dưới sự quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền. Đây là chuyển biến trong tư duy lập pháp hình sự, từ việc chủ yếu chú trọng chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ sang kết hợp giữa cải tạo trong cơ sở giam giữ và giáo dục, giám sát tại cộng đồng.

Ở góc độ pháp luật thực định, Điều 1 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP[6] xác định, tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp được Tòa án áp dụng đối với người đang chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự, xét thấy không cần buộc họ phải tiếp tục chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ. Tuy nhiên, nếu chỉ nhấn mạnh việc người bị kết án không phải tiếp tục chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ thì chưa phản ánh đầy đủ yếu tố có điều kiện như tên gọi của chế định. Khả năng không phải tiếp tục chấp hành phần hình phạt phụ thuộc vào việc tuân thủ các điều kiện trong thời gian thử thách. Có thể thấy, sự ràng buộc về nghĩa vụ và hậu quả pháp lý khi vi phạm là dấu hiệu quan trọng phân biệt tha tù trước thời hạn có điều kiện với các trường hợp miễn chấp hành hình phạt mang tính triệt để.

Từ những cách tiếp cận trên, có thể nhận thấy sự khác biệt trong xác định bản chất pháp lý của tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nếu tiếp cận dưới góc độ miễn chấp hành hình phạt, chế định này thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước khi cho phép người bị kết án không phải tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại tại cơ sở giam giữ. Nếu tiếp cận từ góc độ thi hành án hình sự, tha tù trước thời hạn có điều kiện thể hiện sự chuyển đổi phương thức quản lý, giáo dục người chấp hành án từ môi trường giam giữ sang môi trường cộng đồng. Hai cách tiếp cận này không loại trừ, mà bổ sung cho nhau trong việc nhận diện đầy đủ nội hàm của chế định.

Từ những phân tích trên, có thể hiểu, tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp pháp lý hình sự do Tòa án quyết định đối với người đang chấp hành án phạt tù khi người đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định, cho phép họ không phải tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại tại cơ sở giam giữ, mà chuyển sang chấp hành chế độ thử thách tại cộng đồng, dưới sự quản lý, giám sát và thực hiện các nghĩa vụ do pháp luật quy định; việc không phải tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại chỉ được bảo đảm khi người được tha tù tuân thủ các điều kiện trong thời gian thử thách.

2. Thực trạng quy định pháp luật về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tha tù trước thời hạn có điều kiện là một trong những chính sách hình sự, là chế định quan trọng trong pháp luật hình sự Việt Nam. Đây là cơ sở pháp lý nền tảng có liên quan đến nhiều chế định khác mà căn cứ vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để các cơ quan tư pháp hình sự tham gia vào quá trình áp dụng pháp luật trong giai đoạn chấp hành hình phạt tù.

2.1. Quy định về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện được quy định tại Điều 368 BLTTHS năm 2015, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC[7] và các văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, tổ chức thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện được quy định tại Luật Thi hành án hình sự (THAHS) năm 2025. Thủ tục xét tha tù trước thời hạn gồm các bước:

Thứ nhất, lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện. Đây là giai đoạn khởi đầu, có ý nghĩa đặc biệt cơ quan tiến hành tố tụng như Tòa án, Viện kiểm sát đánh giá người đang chấp hành án có đáp ứng đầy đủ quan trọng trong toàn bộ thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện; là cơ sở pháp lý và thực tiễn để các các điều kiện do pháp luật hình sự quy định hay không. Trách nhiệm lập hồ sơ tha tù trước thời hạn có điều kiện thuộc về các cơ quan đang trực tiếp quản lý hoặc tổ chức thi hành hình phạt tù. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, tùy nơi người bị kết án đang chấp hành án, chủ thể lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có thể là trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Sau khi hoàn thành, hồ sơ được gửi đến Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù (khoản 1 Điều 368).

Thứ hai, Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ và thể hiện quan điểm. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, sau khi nhận hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu phải ra văn bản thể hiện quan điểm về việc đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của cơ quan đề nghị. Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan lập hồ sơ bổ sung tài liệu, thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ phải bổ sung tài liệu và gửi cho Viện kiểm sát, Tòa án (khoản 3 Điều 368).

Thứ ba, Tòa án mở phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều kiện. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ của cơ quan đề nghị, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều kiện; đồng thời, thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử kiểm sát viên tham gia phiên họp. Trường hợp Tòa án yêu cầu cơ quan lập hồ sơ bổ sung tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ phải bổ sung tài liệu và gửi cho Tòa án, Viện kiểm sát (khoản 4 Điều 368). Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện gồm Chánh án và 02 Thẩm phán, do Chánh án làm Chủ tịch Hội đồng (khoản 5 Điều 368).

Thứ tư, gửi quyết định và tổ chức thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Sau khi Hội đồng xét tha tù ban hành quyết định, thủ tục chưa kết thúc, mà chuyển sang giai đoạn công bố và tổ chức thi hành. Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ việc chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ sang cơ chế quản lý, giám sát người được tha tù tại cộng đồng. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, Tòa án phải gửi quyết định cho phạm nhân và các cơ quan, tổ chức có liên quan (khoản 8 Điều 368 BLTTHS năm 2015). Các chủ thể nhận quyết định gồm Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan đã lập hồ sơ đề nghị, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan THAHS có thẩm quyền, chính quyền địa phương hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện và các cơ quan khác theo quy định.

Thứ năm, hủy, kháng nghị, khiếu nại đối với quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Sau khi quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện được ban hành, BLTTHS năm 2015 quy định thủ tục hủy, kháng nghị và khiếu nại nhằm bảo đảm tính hợp pháp của quyết định và quyền, lợi ích hợp pháp của người được tha tù. Theo khoản 10 Điều 368 BLTTHS năm 2015, trường hợp người được tha tù vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 BLHS năm 2015[8], cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý phải lập hồ sơ chuyển đến Viện kiểm sát và Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện để xem xét, quyết định. Thẩm quyền hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thuộc Tòa án đã ban hành quyết định tha tù. Theo khoản 11 Điều 368 BLTTHS năm 2015, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, phạm nhân có quyền khiếu nại đối với quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện và quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết kháng nghị, khiếu nại được thực hiện theo Chương XXII (xét xử phúc thẩm) và Chương XXXIII (khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự) BLTTHS năm 2015. Những quy định này tạo cơ chế kiểm soát tính hợp pháp của các quyết định tư pháp, đồng thời, bảo đảm quyền của người được tha tù trong quá trình áp dụng chế định này.

2.2. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Nghiên cứu cho thấy, mặc dù, thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện đã được quy định tương đối đầy đủ, song, các quy định chưa thống nhất ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành pháp luật.

Thứ nhất, quy định pháp luật điều chỉnh thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện còn chồng chéo, thiếu thống nhất giữa BLTTHS năm 2015 và Luật THAHS năm 2025. Mặc dù, Điều 368 BLTTHS năm 2015 có tên gọi “Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện”, nhưng phạm vi điều chỉnh không chỉ gồm hoạt động xem xét, quyết định của Tòa án, mà mở rộng sang việc thi hành quyết định, xử lý vi phạm trong thời gian thử thách và hủy quyết định tha tù. Trong khi đó, các nội dung này tiếp tục được quy định tại Điều 57, Điều 68 và Điều 70 Luật THAHS năm 2025 dẫn đến sự chồng chéo về phạm vi điều chỉnh. Bất cập thể hiện ở thời điểm thi hành quyết định tha tù: khoản 9 Điều 368 BLTTHS năm 2015 quy định việc công bố và thực hiện thủ tục thi hành sau khi Tòa án ra quyết định, trong khi, khoản 2 Điều 337 BLTTHS năm 2015 quy định thời hạn kháng nghị là 07 ngày đối với Viện kiểm sát cùng cấp và 15 ngày đối với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Điều này có thể dẫn đến trường hợp phạm nhân được trả tự do khi quyết định chưa có hiệu lực pháp luật. Khoản 1 Điều 57 Luật THAHS năm 2025 đã khắc phục bất cập này khi quy định chỉ thực hiện việc tha phạm nhân sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật, nhưng cho thấy sự thiếu đồng bộ giữa hai đạo luật.

Thứ hai, thẩm quyền hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện chưa hợp lý. Theo khoản 10 Điều 368 BLTTHS năm 2015 và khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP, khi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính từ 02 lần trở lên trong thời gian thử thách, Tòa án đã ra quyết định tha tù có thẩm quyền xem xét hủy quyết định này theo đề nghị của cơ quan THAHS có thẩm quyền. Tuy nhiên, quy định trên có thể phát sinh khó khăn khi nơi cư trú của người được tha tù không thuộc địa bàn của Tòa án đã ban hành quyết định. Chẳng hạn, người đang chấp hành án tại tỉnh A được Tòa án nhân dân tỉnh A quyết định tha tù, nhưng sau đó trở về cư trú, chấp hành thời gian thử thách tại tỉnh B. Khi người này vi phạm nghĩa vụ đến mức phải xem xét hủy quyết định tha tù, cơ quan thi hành án hình sự nơi cư trú phải lập hồ sơ chuyển đến Tòa án nhân dân tỉnh A để giải quyết. Nếu khoảng cách địa lý lớn, việc chuyển hồ sơ, xác minh tài liệu và phối hợp giữa các cơ quan có thể kéo dài, ảnh hưởng đến tính kịp thời của việc xử lý, đồng thời, gây khó khăn trong quản lý, giám sát, thậm chí, phát sinh nguy cơ người vi phạm bỏ trốn trong thời gian chờ giải quyết[9]. Như vậy, việc tách biệt giữa địa phương trực tiếp quản lý, phát hiện vi phạm với Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định tha tù làm gia tăng thời gian, chi phí phối hợp và ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành án hình sự.

Thứ ba, thời hạn mở phiên họp xem xét hủy quyết định và một số quy định về bổ sung hồ sơ tha tù trước thời hạn có điều kiện chưa phù hợp. So với thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, thời hạn để Tòa án xem xét việc hủy quyết định tha tù được quy định ngắn hơn, xuất phát từ tính chất cấp thiết của việc xử lý hành vi vi phạm trong thời gian thử thách. Việc hủy quyết định tha tù sẽ dẫn đến hậu quả người được tha tù phải quay trở lại cơ sở giam giữ để tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại; đồng thời, nếu người này tiếp tục có hành vi vi phạm, có thể ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, yêu cầu Tòa án phải xem xét, quyết định trong một thời hạn ngắn là cần thiết. Tuy nhiên, thời hạn giải quyết ngắn chỉ thực sự khả thi khi hồ sơ đề nghị được chuẩn bị đầy đủ, chính xác. Thực tế, có thể phát sinh trường hợp tài liệu về hành vi vi phạm, số lần vi phạm nghĩa vụ, quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc các tài liệu khác có liên quan chưa đầy đủ hoặc còn mâu thuẫn. Nếu pháp luật chỉ quy định thời hạn mở phiên họp, mà không quy định rõ quyền của Tòa án, Viện kiểm sát trong việc yêu cầu bổ sung hồ sơ và thời hạn thực hiện việc bổ sung, có thể dẫn đến hai khả năng: (i) Tòa án phải quyết định trên cơ sở hồ sơ chưa đầy đủ; (ii) việc giải quyết bị kéo dài nhưng không có căn cứ pháp lý rõ ràng để xác định trách nhiệm của cơ quan lập hồ sơ. Như vậy, việc quyết định cho phép hay không cho phép tha tù trước thời hạn có điều kiện sẽ không bảo đảm tính khách quan, chính xác.

Thứ tư, nội dung của biểu mẫu dùng cho tha tù trước thời hạn có điều kiện và quy định của BLTTHS năm 2015 chưa thống nhất. Công văn số 160/TANDTC-PC[10] ban hành Mẫu số 01/HS về quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và Mẫu số 02/HS về quyết định hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Tuy nhiên, tại mục 3 phần “QUYẾT ĐỊNH” của Mẫu số 02/HS chỉ quy định: “Quyết định này có thể bị kháng nghị và có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị”, mà không đề cập đến quyền khiếu nại của phạm nhân. Trong khi, khoản 11 Điều 368 BLTTHS năm 2015 ghi nhận cả quyền kháng nghị của Viện kiểm sát và quyền khiếu nại của phạm nhân đối với quyết định hủy tha tù trước thời hạn có điều kiện. Sự thiếu thống nhất này có thể làm cho phạm nhân không nhận thức đầy đủ quyền khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nhất là khi quyết định hủy tha tù buộc họ phải tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại[11].

Thứ năm, chưa quy định rõ thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện. Khoản 11 Điều 368 BLTTHS năm 2015 quy định, phạm nhân có quyền khiếu nại đối với quyết định chấp nhận, không chấp nhận đề nghị tha tù và quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; trình tự, thủ tục giải quyết được thực hiện theo Chương XXXIII BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 477 BLTTHS năm 2015 chủ yếu xác định thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của các cá nhân như Thẩm phán, Phó Chánh án, Chánh án, mà chưa quy định cụ thể đối với quyết định của Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện[12]. Trong khi, quyết định của Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện được ban hành theo cơ chế tập thể, có thể không thể đồng nhất với quyết định của Chánh án. Việc quy định chưa rõ gây khó khăn trong việc xác định chủ thể có thẩm quyền giải quyết, ảnh hưởng đến khả năng thực hiện quyền khiếu nại của phạm nhân.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Từ những vướng mắc, bất cập trên, có thể thấy, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện là cần thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của pháp luật. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị cụ thể sau:

Thứ nhất, xác định cụ thể văn bản pháp luật điều chỉnh thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện. Hiện, vấn đề thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện được quy định trong BLTTHS năm 2015 và Luật THAHS năm 2025. Nghiên cứu cho rằng, BLTTHS năm 2015 chỉ nên tập trung điều chỉnh thủ tục để Tòa án xem xét và quyết định việc tha tù trước thời hạn có điều kiện, gồm các vấn đề như tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ đề nghị, thẩm quyền của Tòa án, thành phần tham gia phiên họp, trình tự xem xét, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị và việc ban hành quyết định. Đây là những nội dung liên quan đến hoạt động xét, quyết định của Tòa án nên phù hợp với phạm vi điều chỉnh của pháp luật tố tụng hình sự.

Ngược lại, sau khi quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện được ban hành và có hiệu lực pháp luật, các quan hệ pháp luật phát sinh về cơ bản chuyển sang giai đoạn THAHS. Những nội dung như công bố quyết định, cấp giấy chứng nhận tha tù; thực hiện trả tự do cho phạm nhân; bàn giao và quản lý hồ sơ; tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trong thời gian thử thách; giải quyết việc thay đổi nơi cư trú; xử lý vi phạm nghĩa vụ, rút ngắn thời gian thử thách hoặc tổ chức thi hành quyết định hủy tha tù trước thời hạn có điều kiện thuộc quy trình tổ chức thực hiện quyết định đã có hiệu lực. Vì vậy, các vấn đề này cần được điều chỉnh thống nhất trong Luật THAHS năm 2025.

Việc phân định rõ thẩm quyền trên giúp khắc phục tình trạng một nội dung nhưng quy định ở hai văn bản luật, dễ dẫn đến sự trùng lặp hoặc không thống nhất trong áp dụng. BLTTHS năm 2015 nên quy định đến thời điểm Tòa án hoàn tất việc xem xét và ban hành quyết định; còn từ khi quyết định có hiệu lực, việc tổ chức thi hành và quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật THAHS năm 2025.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về thẩm quyền hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Để bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả trong xem xét, xử lý hành vi vi phạm của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, việc xác định thẩm quyền của Tòa án cần gắn với địa bàn trực tiếp quản lý, giám sát người được tha tù trong thời gian thử thách. Xét về bản chất, việc hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện không chỉ là hoạt động xem xét lại một quyết định tư pháp đã ban hành, mà gắn với quá trình đánh giá việc chấp hành nghĩa vụ của người được tha tù. Vì vậy, thẩm quyền giải quyết cần được xác định trên cơ sở bảo đảm sự tương thích giữa hoạt động xét, quyết định của Tòa án với hoạt động quản lý, giám sát của cơ quan THAHS, đồng thời, đáp ứng yêu cầu kịp thời, khách quan và hiệu quả trong áp dụng pháp luật. Theo đó, cần nghiên cứu sửa đổi khoản 10 Điều 368 BLTTHS năm 2015 theo hướng giao thẩm quyền xem xét, hủy quyết định tha tù cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người được tha tù đang cư trú, chấp hành thời gian thử thách thay vì giao thẩm quyền Tòa án đã ban hành quyết định tha tù như quy định hiện hành. Cụ thể, khoản 10 Điều 368 BLTTHS năm 2015 nên sửa đổi thành: “Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang cư trú, chấp hành thời gian thử thách có thẩm quyền xem xét, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện theo đề nghị của cơ quan THAHS có thẩm quyền”.

Thứ ba, bổ sung quy định về thời hạn và cơ chế yêu cầu bổ sung hồ sơ trong thủ tục xem xét hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Việc hoàn thiện thủ tục này cần bảo đảm sự hài hòa giữa tính khẩn trương trong xử lý hành vi vi phạm và yêu cầu thận trọng khi ban hành quyết định tư pháp. Vì quyết định hủy tha tù trực tiếp làm thay đổi tình trạng pháp lý của người được tha tù, buộc họ phải tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại. Vì vậy, việc xem xét, quyết định phải dựa trên hệ thống tài liệu, chứng cứ đầy đủ, được kiểm tra, đánh giá khách quan, đồng thời, bảo đảm cơ chế kiểm sát tính hợp pháp của quá trình giải quyết. Theo đó, cần bổ sung cơ chế yêu cầu hoàn thiện hồ sơ, trong đó xác định rõ quyền của Tòa án, Viện kiểm sát và trách nhiệm của cơ quan lập hồ sơ. Cụ thể, nên sửa đổi, bổ sung đoạn 2 khoản 10 Điều 368 BLTTHS năm 2015 theo hướng: trường hợp Tòa án hoặc Viện kiểm sát xét thấy cần bổ sung tài liệu thì có quyền yêu cầu cơ quan lập hồ sơ thực hiện việc bổ sung; trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ phải hoàn thành việc bổ sung và gửi lại cho Tòa án, Viện kiểm sát.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung biểu mẫu quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nhằm bảo đảm quyền khiếu nại của phạm nhân được ghi nhận đầy đủ trong các văn bản áp dụng pháp luật, việc hoàn thiện hệ thống biểu mẫu cần được đặt trong yêu cầu bảo đảm tính thống nhất giữa quy định của pháp luật tố tụng hình sự và hoạt động áp dụng pháp luật. Xét về bản chất, quyền khiếu nại là một trong những bảo đảm pháp lý quan trọng để phạm nhân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước các quyết định tư pháp có ảnh hưởng trực tiếp đến việc chấp hành hình phạt. Vì vậy, việc ghi nhận đầy đủ quyền này trong biểu mẫu không chỉ có ý nghĩa về mặt hình thức mà còn góp phần bảo đảm tính minh bạch và khả năng thực hiện quyền trên thực tế. Theo đó, cần sửa đổi Mẫu số 02/HS ban hành kèm theo Công văn số 160/TANDTC-PC theo hướng bổ sung quyền khiếu nại của phạm nhân bên cạnh quyền kháng nghị của Viện kiểm sát. Việc sửa đổi này sẽ bảo đảm sự thống nhất với khoản 11 Điều 368 BLTTHS năm 2015, đồng thời, giúp phạm nhân nhận thức đầy đủ quyền khiếu nại của mình để kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khi quyết định hủy tha tù trước thời hạn có điều kiện được ban hành.

Thứ năm, hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện. Để quyền khiếu nại của phạm nhân được bảo đảm thực hiện trên thực tế, cần thiết lập cơ chế giải quyết phù hợp với tính chất tập thể của Hội đồng, bảo đảm tính khách quan và tránh việc chủ thể ban hành quyết định đồng thời giải quyết khiếu nại đối với chính quyết định đó. Theo đó, cần bổ sung vào khoản 11 Điều 368 BLTTHS năm 2015 theo hướng: Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã ban hành quyết định bị khiếu nại có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, người có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả bằng văn bản cho người khiếu nại và các cơ quan có liên quan. Đồng thời, cần bổ sung khoản 4 Điều 477 BLTTHS để bảo đảm tính thống nhất về thẩm quyền và trình tự giải quyết khiếu nại theo hướng: khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương tương ứng xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại phải được gửi cho người khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án hình sự có liên quan.

Kết luận

Tha tù trước thời hạn có điều kiện thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước, khuyến khích và tạo điều kiện cho người chấp hành án phạt tù tích cực cải tạo để sớm được tái hòa nhập cộng đồng. Mặc dù, pháp luật Việt Nam đã quy định tương đối đầy đủ thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, song còn những bất cập về sự chồng chéo giữa BLTTHS năm 2015 và Luật THAHS năm 2025, thẩm quyền hủy quyết định tha tù, cơ chế bổ sung hồ sơ và giải quyết khiếu nại. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng phân định rõ phạm vi điều chỉnh giữa BLTTHS năm 2015 và Luật THAHS năm 2025, đồng thời, hoàn thiện cơ chế khiếu nại, kháng nghị nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phạm nhân và nâng cao hiệu quả THAHS.

ThS. Đặng Văn Phượng

Chánh án Tòa án quân sự Quân khu 4

Ảnh: Internet

[1]. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW).

[2]. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[3]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.389.

[4]. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần chung), Nxb. Tư pháp, tr.323.

[5]. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

[6]. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2018), Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 Bộ luật Hình sự về tha tù trước thời hạn có điều kiện (Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP).

[7]. Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 09/02/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an về quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện (Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC).

[8]. Khoản 4 Điều 66 BLHS năm 2015 quy định: “4. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên trong thời gian thử thách, thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đó và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành. Nếu người đó thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này”.

[9]. Nguyễn Kim Chi (2023), Một số vướng mắc trong công tác xét tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghề luật, số 5, tr.55.

[10]. Tòa án nhân dân tối cao (2018), Công văn số 160/TANDTC-PC ngày 23/7/2018 ban hành một số biểu mẫu về tha tù trước thời hạn có điều kiện.

[11]. Lương Quang (2021), Thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.25.

[12]. Lê Huỳnh Tấn Duy, Lương Quang, Trần Thanh Sơn (2021), Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện: Một số hạn chế và kiến nghị hoàn thiện luật, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 04 (143), tr.100.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trường Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

2. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần chung), Nxb. Tư pháp.

3. Lương Quang (2021), Thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Lê Huỳnh Tấn Duy, Lương Quang, Trần Thanh Sơn (2021), Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện: Một số hạn chế và kiến nghị hoàn thiện luật, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 04 (143).

5. Nguyễn Kim Chi (2023), Một số vướng mắc trong công tác xét tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghề luật, số 5.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (461) - tháng 9/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Tóm tắt: Dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật[1] (dự thảo Luật) tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng chính sách, trong đó, chú trọng xác định vấn đề, mục tiêu, giải pháp, đánh giá tác động chính sách và bổ sung cơ chế đánh giá kết quả thực hiện sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích Chính sách 3 về đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật[2], đánh giá khả năng điều chỉnh kịp thời các quy định pháp luật trước những thay đổi của thực tiễn và việc sử dụng kết quả thi hành pháp luật để tiếp tục hoàn thiện chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao tính linh hoạt và hiệu quả của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, cơ chế theo dõi, đánh giá và tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn thi hành chưa được quy định đầy đủ; bên cạnh đó, một số quy định còn thiếu thống nhất về phạm vi điều chỉnh, thuật ngữ và thẩm quyền. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng và đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm việc sửa đổi, bổ sung pháp luật được thực hiện kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn mà không làm gia tăng thủ tục.
Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu phòng, chống tham nhũng hiện nay, việc nghiên cứu di sản lập pháp truyền thống mang ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu phân tích Điều luật[I] “Quan lại nhận tiền của” thuộc Chương IX (Nhận hối lộ) trong Hoàng Việt luật lệ[II] nhằm làm rõ tư duy lập pháp và giá trị lịch sử của Điều luật. Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích Điều luật “Quan lại nhận tiền của”, đồng thời, so sánh với Quốc triều Hình luật, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và Bộ luật Hình sự năm 2015[III]. Nghiên cứu sử dụng phương pháp sử liệu học để thu thập tư liệu cổ luật; các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ các yếu tố cấu thành, giá trị, giới hạn lịch sử, đồng thời, so sánh Điều luật này với các quy định có liên quan. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.
Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: