Từ khóa: tha tù trước thời hạn có điều kiện; tố tụng hình sự; thi hành án hình sự.
Nhận bài: 29/8/2026 Hoàn thành biên tập: 10/9/2026 Duyệt đăng: 15/9/2026
Improving criminal procedure law regarding the procedure for conditional early release from prison
Abstract: Conditional early release from prison is a mechanism that reflects the humanitarian policy of Vietnamese criminal law, providing individuals serving sentences with an opportunity for reintegration into the community. However, current legislation contains certain shortcomings and overlaps across various laws particularly regarding jurisdiction, procedures, complaint mechanisms, and legislative drafting techniques. Consequently, it is necessary to further improve these regulations by clearly delineating their scope, thereby ensuring the consistency, transparency, and practical viability of the law. This study analyzes existing legal provisions concerning the procedures for conditional early release, identifies limitations and inadequacies encountered during their application, and proposes recommendations to improve the legal framework and enhance the practical effectiveness of this mechanism.
Keywords: Conditional early release from prison; criminal procedure; execution of criminal judgments.
Article received: 29/8/2026 Editing completed: 10/9/2026 Approved for publication: 15/9/2026
Đặt vấn đề
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc hoàn thiện pháp luật hình sự không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, mà phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và tạo điều kiện cho người phạm tội tái hòa nhập cộng đồng. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) quy định chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Đây là bước phát triển quan trọng của chính sách hình sự theo hướng nhân đạo, đồng thời, đặt ra yêu cầu xây dựng trình tự, thủ tục áp dụng chặt chẽ, thống nhất, khả thi, phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 27-NQ/TW[1] và Nghị quyết số 66-NQ/TW[2] về tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật. Trên cơ sở đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) quy định về trình tự, thủ tục để Tòa án xem xét, quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Tuy nhiên, pháp luật tha tù trước thời hạn có điều kiện còn một số hạn chế, bất cập cần hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới.
1. Một số vấn đề về tha tù trước thời hạn có điều kiện
Trong khoa học luật hình sự, tha tù trước thời hạn có điều kiện được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Có quan điểm tiếp cận theo hướng, người đang chấp hành hình phạt tù, khi đáp ứng các điều kiện luật định, có thể được miễn tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại của hình phạt đã tuyên nhưng sự miễn chấp hành đó gắn với những điều kiện nhất định[3]. Có quan điểm cho rằng, tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù chưa chấp hành có điều kiện. Người được hưởng biện pháp này không phải tiếp tục chấp hành hình phạt tù chưa được chấp hành nhưng phải tuân thủ các quy định đối với họ trong thời gian nhất định[4].
Xét từ phương diện chính sách hình sự, sự hình thành chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện gắn liền với yêu cầu kết hợp giữa tính nghiêm minh và tính nhân đạo trong xử lý người phạm tội. Chính sách hình sự không chỉ hướng tới việc phòng ngừa, trừng trị tội phạm, mà còn chú trọng giáo dục, cải tạo và tạo điều kiện để người phạm tội sửa chữa lỗi sai, tái hòa nhập cộng đồng. Quan điểm này được thể hiện tại Nghị quyết số 49-NQ/TW, trong đó nhấn mạnh yêu cầu đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội[5]. Trên cơ sở đó, tha tù trước thời hạn có điều kiện được ghi nhận trong BLHS năm 2015, tạo cơ chế pháp lý cho phép người đang chấp hành hình phạt tù có đủ điều kiện được trở về cộng đồng trước thời hạn, tiếp tục quá trình giáo dục, cải tạo trong môi trường xã hội bình thường dưới sự quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền. Đây là chuyển biến trong tư duy lập pháp hình sự, từ việc chủ yếu chú trọng chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ sang kết hợp giữa cải tạo trong cơ sở giam giữ và giáo dục, giám sát tại cộng đồng.
Ở góc độ pháp luật thực định, Điều 1 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP[6] xác định, tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp được Tòa án áp dụng đối với người đang chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự, xét thấy không cần buộc họ phải tiếp tục chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ. Tuy nhiên, nếu chỉ nhấn mạnh việc người bị kết án không phải tiếp tục chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ thì chưa phản ánh đầy đủ yếu tố có điều kiện như tên gọi của chế định. Khả năng không phải tiếp tục chấp hành phần hình phạt phụ thuộc vào việc tuân thủ các điều kiện trong thời gian thử thách. Có thể thấy, sự ràng buộc về nghĩa vụ và hậu quả pháp lý khi vi phạm là dấu hiệu quan trọng phân biệt tha tù trước thời hạn có điều kiện với các trường hợp miễn chấp hành hình phạt mang tính triệt để.
Từ những cách tiếp cận trên, có thể nhận thấy sự khác biệt trong xác định bản chất pháp lý của tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nếu tiếp cận dưới góc độ miễn chấp hành hình phạt, chế định này thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước khi cho phép người bị kết án không phải tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại tại cơ sở giam giữ. Nếu tiếp cận từ góc độ thi hành án hình sự, tha tù trước thời hạn có điều kiện thể hiện sự chuyển đổi phương thức quản lý, giáo dục người chấp hành án từ môi trường giam giữ sang môi trường cộng đồng. Hai cách tiếp cận này không loại trừ, mà bổ sung cho nhau trong việc nhận diện đầy đủ nội hàm của chế định.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu, tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp pháp lý hình sự do Tòa án quyết định đối với người đang chấp hành án phạt tù khi người đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định, cho phép họ không phải tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại tại cơ sở giam giữ, mà chuyển sang chấp hành chế độ thử thách tại cộng đồng, dưới sự quản lý, giám sát và thực hiện các nghĩa vụ do pháp luật quy định; việc không phải tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại chỉ được bảo đảm khi người được tha tù tuân thủ các điều kiện trong thời gian thử thách.
2. Thực trạng quy định pháp luật về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện
Tha tù trước thời hạn có điều kiện là một trong những chính sách hình sự, là chế định quan trọng trong pháp luật hình sự Việt Nam. Đây là cơ sở pháp lý nền tảng có liên quan đến nhiều chế định khác mà căn cứ vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để các cơ quan tư pháp hình sự tham gia vào quá trình áp dụng pháp luật trong giai đoạn chấp hành hình phạt tù.
2.1. Quy định về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện
Thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện được quy định tại Điều 368 BLTTHS năm 2015, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC[7] và các văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, tổ chức thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện được quy định tại Luật Thi hành án hình sự (THAHS) năm 2025. Thủ tục xét tha tù trước thời hạn gồm các bước:
Thứ nhất, lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện. Đây là giai đoạn khởi đầu, có ý nghĩa đặc biệt cơ quan tiến hành tố tụng như Tòa án, Viện kiểm sát đánh giá người đang chấp hành án có đáp ứng đầy đủ quan trọng trong toàn bộ thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện; là cơ sở pháp lý và thực tiễn để các các điều kiện do pháp luật hình sự quy định hay không. Trách nhiệm lập hồ sơ tha tù trước thời hạn có điều kiện thuộc về các cơ quan đang trực tiếp quản lý hoặc tổ chức thi hành hình phạt tù. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, tùy nơi người bị kết án đang chấp hành án, chủ thể lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có thể là trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Sau khi hoàn thành, hồ sơ được gửi đến Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù (khoản 1 Điều 368).
Thứ hai, Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ và thể hiện quan điểm. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, sau khi nhận hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu phải ra văn bản thể hiện quan điểm về việc đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của cơ quan đề nghị. Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan lập hồ sơ bổ sung tài liệu, thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ phải bổ sung tài liệu và gửi cho Viện kiểm sát, Tòa án (khoản 3 Điều 368).
Thứ ba, Tòa án mở phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều kiện. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ của cơ quan đề nghị, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều kiện; đồng thời, thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử kiểm sát viên tham gia phiên họp. Trường hợp Tòa án yêu cầu cơ quan lập hồ sơ bổ sung tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ phải bổ sung tài liệu và gửi cho Tòa án, Viện kiểm sát (khoản 4 Điều 368). Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện gồm Chánh án và 02 Thẩm phán, do Chánh án làm Chủ tịch Hội đồng (khoản 5 Điều 368).
Thứ tư, gửi quyết định và tổ chức thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Sau khi Hội đồng xét tha tù ban hành quyết định, thủ tục chưa kết thúc, mà chuyển sang giai đoạn công bố và tổ chức thi hành. Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ việc chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ sang cơ chế quản lý, giám sát người được tha tù tại cộng đồng. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, Tòa án phải gửi quyết định cho phạm nhân và các cơ quan, tổ chức có liên quan (khoản 8 Điều 368 BLTTHS năm 2015). Các chủ thể nhận quyết định gồm Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan đã lập hồ sơ đề nghị, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan THAHS có thẩm quyền, chính quyền địa phương hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện và các cơ quan khác theo quy định.
Thứ năm, hủy, kháng nghị, khiếu nại đối với quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Sau khi quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện được ban hành, BLTTHS năm 2015 quy định thủ tục hủy, kháng nghị và khiếu nại nhằm bảo đảm tính hợp pháp của quyết định và quyền, lợi ích hợp pháp của người được tha tù. Theo khoản 10 Điều 368 BLTTHS năm 2015, trường hợp người được tha tù vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 BLHS năm 2015[8], cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý phải lập hồ sơ chuyển đến Viện kiểm sát và Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện để xem xét, quyết định. Thẩm quyền hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thuộc Tòa án đã ban hành quyết định tha tù. Theo khoản 11 Điều 368 BLTTHS năm 2015, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, phạm nhân có quyền khiếu nại đối với quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện và quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết kháng nghị, khiếu nại được thực hiện theo Chương XXII (xét xử phúc thẩm) và Chương XXXIII (khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự) BLTTHS năm 2015. Những quy định này tạo cơ chế kiểm soát tính hợp pháp của các quyết định tư pháp, đồng thời, bảo đảm quyền của người được tha tù trong quá trình áp dụng chế định này.
2.2. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện
Nghiên cứu cho thấy, mặc dù, thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện đã được quy định tương đối đầy đủ, song, các quy định chưa thống nhất ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành pháp luật.
Thứ nhất, quy định pháp luật điều chỉnh thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện còn chồng chéo, thiếu thống nhất giữa BLTTHS năm 2015 và Luật THAHS năm 2025. Mặc dù, Điều 368 BLTTHS năm 2015 có tên gọi “Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện”, nhưng phạm vi điều chỉnh không chỉ gồm hoạt động xem xét, quyết định của Tòa án, mà mở rộng sang việc thi hành quyết định, xử lý vi phạm trong thời gian thử thách và hủy quyết định tha tù. Trong khi đó, các nội dung này tiếp tục được quy định tại Điều 57, Điều 68 và Điều 70 Luật THAHS năm 2025 dẫn đến sự chồng chéo về phạm vi điều chỉnh. Bất cập thể hiện ở thời điểm thi hành quyết định tha tù: khoản 9 Điều 368 BLTTHS năm 2015 quy định việc công bố và thực hiện thủ tục thi hành sau khi Tòa án ra quyết định, trong khi, khoản 2 Điều 337 BLTTHS năm 2015 quy định thời hạn kháng nghị là 07 ngày đối với Viện kiểm sát cùng cấp và 15 ngày đối với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Điều này có thể dẫn đến trường hợp phạm nhân được trả tự do khi quyết định chưa có hiệu lực pháp luật. Khoản 1 Điều 57 Luật THAHS năm 2025 đã khắc phục bất cập này khi quy định chỉ thực hiện việc tha phạm nhân sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật, nhưng cho thấy sự thiếu đồng bộ giữa hai đạo luật.
Thứ hai, thẩm quyền hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện chưa hợp lý. Theo khoản 10 Điều 368 BLTTHS năm 2015 và khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP, khi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính từ 02 lần trở lên trong thời gian thử thách, Tòa án đã ra quyết định tha tù có thẩm quyền xem xét hủy quyết định này theo đề nghị của cơ quan THAHS có thẩm quyền. Tuy nhiên, quy định trên có thể phát sinh khó khăn khi nơi cư trú của người được tha tù không thuộc địa bàn của Tòa án đã ban hành quyết định. Chẳng hạn, người đang chấp hành án tại tỉnh A được Tòa án nhân dân tỉnh A quyết định tha tù, nhưng sau đó trở về cư trú, chấp hành thời gian thử thách tại tỉnh B. Khi người này vi phạm nghĩa vụ đến mức phải xem xét hủy quyết định tha tù, cơ quan thi hành án hình sự nơi cư trú phải lập hồ sơ chuyển đến Tòa án nhân dân tỉnh A để giải quyết. Nếu khoảng cách địa lý lớn, việc chuyển hồ sơ, xác minh tài liệu và phối hợp giữa các cơ quan có thể kéo dài, ảnh hưởng đến tính kịp thời của việc xử lý, đồng thời, gây khó khăn trong quản lý, giám sát, thậm chí, phát sinh nguy cơ người vi phạm bỏ trốn trong thời gian chờ giải quyết[9]. Như vậy, việc tách biệt giữa địa phương trực tiếp quản lý, phát hiện vi phạm với Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định tha tù làm gia tăng thời gian, chi phí phối hợp và ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành án hình sự.
Thứ ba, thời hạn mở phiên họp xem xét hủy quyết định và một số quy định về bổ sung hồ sơ tha tù trước thời hạn có điều kiện chưa phù hợp. So với thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, thời hạn để Tòa án xem xét việc hủy quyết định tha tù được quy định ngắn hơn, xuất phát từ tính chất cấp thiết của việc xử lý hành vi vi phạm trong thời gian thử thách. Việc hủy quyết định tha tù sẽ dẫn đến hậu quả người được tha tù phải quay trở lại cơ sở giam giữ để tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại; đồng thời, nếu người này tiếp tục có hành vi vi phạm, có thể ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, yêu cầu Tòa án phải xem xét, quyết định trong một thời hạn ngắn là cần thiết. Tuy nhiên, thời hạn giải quyết ngắn chỉ thực sự khả thi khi hồ sơ đề nghị được chuẩn bị đầy đủ, chính xác. Thực tế, có thể phát sinh trường hợp tài liệu về hành vi vi phạm, số lần vi phạm nghĩa vụ, quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc các tài liệu khác có liên quan chưa đầy đủ hoặc còn mâu thuẫn. Nếu pháp luật chỉ quy định thời hạn mở phiên họp, mà không quy định rõ quyền của Tòa án, Viện kiểm sát trong việc yêu cầu bổ sung hồ sơ và thời hạn thực hiện việc bổ sung, có thể dẫn đến hai khả năng: (i) Tòa án phải quyết định trên cơ sở hồ sơ chưa đầy đủ; (ii) việc giải quyết bị kéo dài nhưng không có căn cứ pháp lý rõ ràng để xác định trách nhiệm của cơ quan lập hồ sơ. Như vậy, việc quyết định cho phép hay không cho phép tha tù trước thời hạn có điều kiện sẽ không bảo đảm tính khách quan, chính xác.
Thứ tư, nội dung của biểu mẫu dùng cho tha tù trước thời hạn có điều kiện và quy định của BLTTHS năm 2015 chưa thống nhất. Công văn số 160/TANDTC-PC[10] ban hành Mẫu số 01/HS về quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và Mẫu số 02/HS về quyết định hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Tuy nhiên, tại mục 3 phần “QUYẾT ĐỊNH” của Mẫu số 02/HS chỉ quy định: “Quyết định này có thể bị kháng nghị và có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị”, mà không đề cập đến quyền khiếu nại của phạm nhân. Trong khi, khoản 11 Điều 368 BLTTHS năm 2015 ghi nhận cả quyền kháng nghị của Viện kiểm sát và quyền khiếu nại của phạm nhân đối với quyết định hủy tha tù trước thời hạn có điều kiện. Sự thiếu thống nhất này có thể làm cho phạm nhân không nhận thức đầy đủ quyền khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nhất là khi quyết định hủy tha tù buộc họ phải tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại[11].
Thứ năm, chưa quy định rõ thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện. Khoản 11 Điều 368 BLTTHS năm 2015 quy định, phạm nhân có quyền khiếu nại đối với quyết định chấp nhận, không chấp nhận đề nghị tha tù và quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; trình tự, thủ tục giải quyết được thực hiện theo Chương XXXIII BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 477 BLTTHS năm 2015 chủ yếu xác định thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của các cá nhân như Thẩm phán, Phó Chánh án, Chánh án, mà chưa quy định cụ thể đối với quyết định của Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện[12]. Trong khi, quyết định của Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện được ban hành theo cơ chế tập thể, có thể không thể đồng nhất với quyết định của Chánh án. Việc quy định chưa rõ gây khó khăn trong việc xác định chủ thể có thẩm quyền giải quyết, ảnh hưởng đến khả năng thực hiện quyền khiếu nại của phạm nhân.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện
Từ những vướng mắc, bất cập trên, có thể thấy, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện là cần thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của pháp luật. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị cụ thể sau:
Thứ nhất, xác định cụ thể văn bản pháp luật điều chỉnh thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện. Hiện, vấn đề thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện được quy định trong BLTTHS năm 2015 và Luật THAHS năm 2025. Nghiên cứu cho rằng, BLTTHS năm 2015 chỉ nên tập trung điều chỉnh thủ tục để Tòa án xem xét và quyết định việc tha tù trước thời hạn có điều kiện, gồm các vấn đề như tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ đề nghị, thẩm quyền của Tòa án, thành phần tham gia phiên họp, trình tự xem xét, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị và việc ban hành quyết định. Đây là những nội dung liên quan đến hoạt động xét, quyết định của Tòa án nên phù hợp với phạm vi điều chỉnh của pháp luật tố tụng hình sự.
Ngược lại, sau khi quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện được ban hành và có hiệu lực pháp luật, các quan hệ pháp luật phát sinh về cơ bản chuyển sang giai đoạn THAHS. Những nội dung như công bố quyết định, cấp giấy chứng nhận tha tù; thực hiện trả tự do cho phạm nhân; bàn giao và quản lý hồ sơ; tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trong thời gian thử thách; giải quyết việc thay đổi nơi cư trú; xử lý vi phạm nghĩa vụ, rút ngắn thời gian thử thách hoặc tổ chức thi hành quyết định hủy tha tù trước thời hạn có điều kiện thuộc quy trình tổ chức thực hiện quyết định đã có hiệu lực. Vì vậy, các vấn đề này cần được điều chỉnh thống nhất trong Luật THAHS năm 2025.
Việc phân định rõ thẩm quyền trên giúp khắc phục tình trạng một nội dung nhưng quy định ở hai văn bản luật, dễ dẫn đến sự trùng lặp hoặc không thống nhất trong áp dụng. BLTTHS năm 2015 nên quy định đến thời điểm Tòa án hoàn tất việc xem xét và ban hành quyết định; còn từ khi quyết định có hiệu lực, việc tổ chức thi hành và quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật THAHS năm 2025.
Thứ hai, hoàn thiện quy định về thẩm quyền hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Để bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả trong xem xét, xử lý hành vi vi phạm của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, việc xác định thẩm quyền của Tòa án cần gắn với địa bàn trực tiếp quản lý, giám sát người được tha tù trong thời gian thử thách. Xét về bản chất, việc hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện không chỉ là hoạt động xem xét lại một quyết định tư pháp đã ban hành, mà gắn với quá trình đánh giá việc chấp hành nghĩa vụ của người được tha tù. Vì vậy, thẩm quyền giải quyết cần được xác định trên cơ sở bảo đảm sự tương thích giữa hoạt động xét, quyết định của Tòa án với hoạt động quản lý, giám sát của cơ quan THAHS, đồng thời, đáp ứng yêu cầu kịp thời, khách quan và hiệu quả trong áp dụng pháp luật. Theo đó, cần nghiên cứu sửa đổi khoản 10 Điều 368 BLTTHS năm 2015 theo hướng giao thẩm quyền xem xét, hủy quyết định tha tù cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người được tha tù đang cư trú, chấp hành thời gian thử thách thay vì giao thẩm quyền Tòa án đã ban hành quyết định tha tù như quy định hiện hành. Cụ thể, khoản 10 Điều 368 BLTTHS năm 2015 nên sửa đổi thành: “Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang cư trú, chấp hành thời gian thử thách có thẩm quyền xem xét, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện theo đề nghị của cơ quan THAHS có thẩm quyền”.
Thứ ba, bổ sung quy định về thời hạn và cơ chế yêu cầu bổ sung hồ sơ trong thủ tục xem xét hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Việc hoàn thiện thủ tục này cần bảo đảm sự hài hòa giữa tính khẩn trương trong xử lý hành vi vi phạm và yêu cầu thận trọng khi ban hành quyết định tư pháp. Vì quyết định hủy tha tù trực tiếp làm thay đổi tình trạng pháp lý của người được tha tù, buộc họ phải tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại. Vì vậy, việc xem xét, quyết định phải dựa trên hệ thống tài liệu, chứng cứ đầy đủ, được kiểm tra, đánh giá khách quan, đồng thời, bảo đảm cơ chế kiểm sát tính hợp pháp của quá trình giải quyết. Theo đó, cần bổ sung cơ chế yêu cầu hoàn thiện hồ sơ, trong đó xác định rõ quyền của Tòa án, Viện kiểm sát và trách nhiệm của cơ quan lập hồ sơ. Cụ thể, nên sửa đổi, bổ sung đoạn 2 khoản 10 Điều 368 BLTTHS năm 2015 theo hướng: trường hợp Tòa án hoặc Viện kiểm sát xét thấy cần bổ sung tài liệu thì có quyền yêu cầu cơ quan lập hồ sơ thực hiện việc bổ sung; trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ phải hoàn thành việc bổ sung và gửi lại cho Tòa án, Viện kiểm sát.
Thứ tư, sửa đổi, bổ sung biểu mẫu quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nhằm bảo đảm quyền khiếu nại của phạm nhân được ghi nhận đầy đủ trong các văn bản áp dụng pháp luật, việc hoàn thiện hệ thống biểu mẫu cần được đặt trong yêu cầu bảo đảm tính thống nhất giữa quy định của pháp luật tố tụng hình sự và hoạt động áp dụng pháp luật. Xét về bản chất, quyền khiếu nại là một trong những bảo đảm pháp lý quan trọng để phạm nhân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước các quyết định tư pháp có ảnh hưởng trực tiếp đến việc chấp hành hình phạt. Vì vậy, việc ghi nhận đầy đủ quyền này trong biểu mẫu không chỉ có ý nghĩa về mặt hình thức mà còn góp phần bảo đảm tính minh bạch và khả năng thực hiện quyền trên thực tế. Theo đó, cần sửa đổi Mẫu số 02/HS ban hành kèm theo Công văn số 160/TANDTC-PC theo hướng bổ sung quyền khiếu nại của phạm nhân bên cạnh quyền kháng nghị của Viện kiểm sát. Việc sửa đổi này sẽ bảo đảm sự thống nhất với khoản 11 Điều 368 BLTTHS năm 2015, đồng thời, giúp phạm nhân nhận thức đầy đủ quyền khiếu nại của mình để kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khi quyết định hủy tha tù trước thời hạn có điều kiện được ban hành.
Thứ năm, hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện. Để quyền khiếu nại của phạm nhân được bảo đảm thực hiện trên thực tế, cần thiết lập cơ chế giải quyết phù hợp với tính chất tập thể của Hội đồng, bảo đảm tính khách quan và tránh việc chủ thể ban hành quyết định đồng thời giải quyết khiếu nại đối với chính quyết định đó. Theo đó, cần bổ sung vào khoản 11 Điều 368 BLTTHS năm 2015 theo hướng: Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã ban hành quyết định bị khiếu nại có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, người có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả bằng văn bản cho người khiếu nại và các cơ quan có liên quan. Đồng thời, cần bổ sung khoản 4 Điều 477 BLTTHS để bảo đảm tính thống nhất về thẩm quyền và trình tự giải quyết khiếu nại theo hướng: khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương tương ứng xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại phải được gửi cho người khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án hình sự có liên quan.
Kết luận
Tha tù trước thời hạn có điều kiện thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước, khuyến khích và tạo điều kiện cho người chấp hành án phạt tù tích cực cải tạo để sớm được tái hòa nhập cộng đồng. Mặc dù, pháp luật Việt Nam đã quy định tương đối đầy đủ thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, song còn những bất cập về sự chồng chéo giữa BLTTHS năm 2015 và Luật THAHS năm 2025, thẩm quyền hủy quyết định tha tù, cơ chế bổ sung hồ sơ và giải quyết khiếu nại. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng phân định rõ phạm vi điều chỉnh giữa BLTTHS năm 2015 và Luật THAHS năm 2025, đồng thời, hoàn thiện cơ chế khiếu nại, kháng nghị nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phạm nhân và nâng cao hiệu quả THAHS.
ThS. Đặng Văn Phượng
Chánh án Tòa án quân sự Quân khu 4
Ảnh: Internet
[1]. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW).
[2]. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[3]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.389.
[4]. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần chung), Nxb. Tư pháp, tr.323.
[5]. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
[6]. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2018), Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 Bộ luật Hình sự về tha tù trước thời hạn có điều kiện (Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP).
[7]. Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 09/02/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an về quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện (Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC).
[8]. Khoản 4 Điều 66 BLHS năm 2015 quy định: “4. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên trong thời gian thử thách, thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đó và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành. Nếu người đó thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này”.
[9]. Nguyễn Kim Chi (2023), Một số vướng mắc trong công tác xét tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghề luật, số 5, tr.55.
[10]. Tòa án nhân dân tối cao (2018), Công văn số 160/TANDTC-PC ngày 23/7/2018 ban hành một số biểu mẫu về tha tù trước thời hạn có điều kiện.
[11]. Lương Quang (2021), Thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.25.
[12]. Lê Huỳnh Tấn Duy, Lương Quang, Trần Thanh Sơn (2021), Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện: Một số hạn chế và kiến nghị hoàn thiện luật, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 04 (143), tr.100.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
2. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần chung), Nxb. Tư pháp.
3. Lương Quang (2021), Thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Lê Huỳnh Tấn Duy, Lương Quang, Trần Thanh Sơn (2021), Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện: Một số hạn chế và kiến nghị hoàn thiện luật, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 04 (143).
5. Nguyễn Kim Chi (2023), Một số vướng mắc trong công tác xét tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghề luật, số 5.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (461) - tháng 9/2026)