Thứ năm 24/09/2026 21:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.

Từ khóa: quyền tự do báo chí; quyền đời sống riêng tư của trẻ em; hình ảnh; xung đột quyền; cân bằng quyền.

Nhận bài: 10/6/2026 Hoàn thành biên tập: 17/6/2026 Duyệt đăng: 18/6/2026

Legal conflict between freedom of the press and the right to privacy of children regarding their images

Abstract: The right to freedom of the press and the right to privacy of children's images are two important legal categories, reflecting the development of a democratic and progressive society. In the context of the rapid development of digital media, the use of children's images in journalistic activities is increasingly common, raising the risk of violating children's privacy and creating legal conflicts between the right to freedom of the press and the right to protection of children's privacy. Based on an analysis of the current legal situation and the identification of legal conflicts between these two rights, this study points out the limitations of the law in resolving these conflicts and proposes solutions to improve the law towards a balanced approach to ensure harmony between the right to freedom of the press and the right to privacy of children's images.

Keywords: Freedom of the press; right to privacy of children; images; conflict of rights; balance of rights.

Article received: 10/6/2026 Editing completed: 17/6/2026 Approved for publication: 18/6/2026

Đặt vấn đề

Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đều là các quyền cơ bản của con người, giữ vai trò nền tảng trong Nhà nước pháp quyền hiện đại. Tự do báo chí là biểu hiện sự tiến bộ và là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội[1]. Quyền tự do báo chí góp phần bảo đảm tính minh bạch thông tin, là công cụ quan trọng giám sát quyền lực, phản biện xã hội và kết nối người dân với các cơ quan quản lý nhà nước, trong khi quyền đời sống riêng tư giúp bảo vệ nhân phẩm, sự tự chủ và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trong kỷ nguyên số, hình ảnh là yếu tố then chốt giúp báo chí truyền tải thông tin trực quan, sinh động và gia tăng sức lan tỏa. Tuy nhiên, yêu cầu bảo đảm tính xác thực và hiệu quả thông tin của báo chí dẫn đến nguy cơ xâm phạm quyền đời sống riêng tư của trẻ em khi hình ảnh trẻ em được đăng tải, đặc biệt, trong các vụ việc tiêu cực, xâm hại hoặc có khả năng nhận diện danh tính. Một hình ảnh được công bố trong môi trường số có thể tồn tại vĩnh viễn, vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của trẻ em - nhóm chủ thể chưa đủ năng lực nhận thức và khả năng tự bảo vệ. Điều này cho thấy, trong nhiều trường hợp, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí xung đột với quyền đời sống riêng tư của trẻ em.

Tuy nhiên, hiện, pháp luật chưa có quy định giải quyết xung đột nhằm tạo sự cân bằng giữa các quyền. Vì vậy, việc phân tích các quy định pháp luật của từng quyền, nhận diện xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em, đồng thời, đưa ra quan điểm tiếp cận và giải pháp để giải quyết những xung đột có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận và thực tiễn.

1. Quy định pháp luật về quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Việc nghiên cứu xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh đòi hỏi phải làm rõ cơ sở pháp lý cũng như giới hạn của từng quyền trong hệ thống pháp luật hiện hành.

1.1. Quy định pháp luật về quyền tự do báo chí và giới hạn quyền

Điều 25 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Trên cơ sở hiến định, quyền tự do báo chí được Việt Nam cụ thể hóa trong Luật Báo chí và các văn bản hướng dẫn. Đặc biệt, Việt Nam đã nội luật hóa quyền tự do báo chí theo Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR 1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR 1996). Theo đó, Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí giúp báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng, xuất bản trên không gian mạng[2]. Tuy nhiên, quyền tự do báo chí không phải là quyền tuyệt đối, mà được đặt trong giới hạn không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân[3].

Mặc dù quy định về giới hạn quyền tự do báo chí của pháp luật Việt Nam phù hợp với quy định tại Điều 19 ICCPR 1996 nhưng việc cụ thể hóa giới hạn quyền tự do báo chí chủ yếu xác định những hành vi bị cấm hoặc những nghĩa vụ mang tính nguyên tắc của quyền tự do báo chí[4] nên với tính chất đặc thù của nghề nghiệp là tự do và minh bạch thông tin dẫn đến không ít trường hợp quyền tự do báo chí xung đột với quyền đời sống riêng tư của cá nhân. Có nghiên cứu cho rằng, báo chí là lĩnh vực mà việc xâm phạm quyền riêng tư của cá nhân xảy ra thường xuyên nhất, đôi khi được coi như một việc hiển nhiên trong ngành, thậm chí việc xâm phạm sự riêng tư của cá nhân là một phần không thể thiếu để có bài viết thu hút sự chú ý của dư luận[5]. Chủ thể bị xâm phạm quyền riêng tư nhiều nhất là người nổi tiếng, người của công chúng, đặc biệt là trẻ em - nhóm yếu thế trong xã hội, chưa đủ khả năng tự bảo vệ mình.

1.2. Quy định pháp luật về quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Quyền đời sống riêng tư cá nhân là một trong các quyền nhân thân cơ bản của con người. Tại Việt Nam, quyền đời sống riêng tư lần đầu tiên được quy định tại Điều 11 Hiến pháp năm 1946: “Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật” và tiếp tục được kế thừa, mở rộng, bổ sung trong Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013. Khoản 1 Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình”. Trên cơ sở hiến định, quyền đời sống riêng tư được cụ thể hóa trong nhiều văn bản luật như Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025), Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Báo chí năm 2025, Luật Trẻ em năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2025, Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012),… và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Theo đó, quyền đời sống riêng tư là quyền bất khả xâm phạm, gồm quyền kiểm soát thông tin cá nhân và việc sử dụng hình ảnh. Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải có sự đồng ý của người đó, trừ một số trường hợp ngoại lệ quy định tại khoản 2 Điều 32. Quy định này nhằm hạn chế nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của cá nhân, bởi trong nhiều trường hợp, dù hình ảnh được chụp từ phía sau, làm mờ hoặc che khuất một phần, cá nhân vẫn có thể được nhận diện thông qua các đặc điểm như hình thể, tư thế, kiểu tóc, dáng đi hoặc bối cảnh gắn với hoạt động riêng tư.

Trong một số trường hợp, việc sử dụng hình ảnh mà không được sự đồng ý của cá nhân sẽ vượt qua giới hạn về sự riêng tư của cá nhân và gia đình, đó là những hình ảnh mang tính riêng tư, họ không muốn tiết lộ dẫn đến xâm phạm đời sống riêng tư và gây ra những hậu quả về vật chất, tinh thần cho chủ thể có hình ảnh và người liên quan[6].

Trẻ em là chủ thể của các quyền con người, được thụ hưởng đầy đủ các quyền vốn có, đặc biệt là quyền được sống, được bảo vệ, chăm sóc và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và nhân cách. Hướng tiếp cận này được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi, đặc biệt, được công nhận toàn cầu theo Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 (CRC) - văn kiện pháp lý quốc tế toàn diện nhất về quyền trẻ em mà Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn[7]. Theo CRC, nguyên tắc “lợi ích tốt nhất của trẻ em” được xác định là tiêu chí trung tâm trong mọi quyết định liên quan đến trẻ em. Bình luận chung số 14 của Ủy ban Quyền trẻ em của Liên hợp quốc khẳng định nguyên tắc này có giá trị như chuẩn mực pháp lý bắt buộc, đòi hỏi phải được cân nhắc thực chất.

Trên cơ sở pháp luật quốc tế, Việt Nam đã hiến định hóa quyền trẻ em, thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ của Nhà nước và tạo cơ sở pháp lý tối cao để nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế, định hướng toàn bộ hệ thống pháp luật và chính sách quốc gia[8]. Tuy nhiên, quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh chưa được hiến định rõ ràng và trực tiếp. Dù vậy, quyền này đã được quy định trong Luật Trẻ em năm 2016, đặc biệt, nguyên tắc cốt lõi của CRC “lợi ích tốt nhất của trẻ em” đã được nội luật hóa trong Luật Trẻ em năm 2016: “Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em”[9]. Đặt trong

mối quan hệ với quyền tự do báo chí, việc sử dụng hình ảnh trẻ em phải thực hiện theo quy định: “Khi thông tin về những vụ việc tiêu cực, vi phạm pháp luật mà trẻ em là nạn nhân hoặc là người liên quan, phải làm mờ hoặc che mặt trẻ em và bảo đảm thông tin bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em theo quy định”[10]. Như vậy, quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh không chỉ là quyền cần được tôn trọng, mà còn là giới hạn pháp lý có tính ưu tiên đối với việc thực hiện các quyền khác, trong đó có quyền tự do báo chí. Trong hoạt động báo chí, nếu không có sự cân nhắc thận trọng nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em thì việc xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em là điều không thể tránh khỏi.

2. Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí và quyền về đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh xuất phát từ sự khác biệt của hai chế định quyền hướng đến. Nếu quyền tự do báo chí hướng tới bảo đảm quyền tự do tiếp cận thông tin, tri thức ở một phổ rộng cho mọi công dân, thì quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh ưu tiên bảo vệ quyền nhân thân của trẻ em vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trong nhiều trường hợp, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí xung đột lợi ích với quyền đời sống riêng tư của trẻ em. Xung đột này thể hiện qua các biểu hiện chính sau:

2.1. Xung đột giữa yêu cầu bảo đảm tính trung thực của thông tin và nghĩa vụ bảo vệ hình ảnh trẻ em

Điều 3 Luật Báo chí năm 2025 quy định một trong những chức năng, nhiệm vụ của báo chí là thông tin trung thực. Theo đó, thông tin là điểm khởi đầu, đồng thời, là nguồn cơ bản và quan trọng nhất của mọi hoạt động báo chí[11]. Trong hoạt động nghề nghiệp, báo chí thường sử dụng hình ảnh thực tế để tăng độ tin cậy và sức thuyết phục của thông tin. Việc khai thác hình ảnh cá nhân trên báo chí là yếu tố không thể thiếu để có tác phẩm báo chí chất lượng. Vì vậy, báo chí luôn ưu tiên lựa chọn những hình ảnh thực của nhân vật gắn với sự kiện, vụ việc theo chủ đề tác giả thể hiện để đăng tải, xuất bản hơn là ảnh minh họa[12]. Mục đích của báo chí nhằm phản ánh trung thực sự kiện, cảnh báo xã hội, qua đó, góp phần hỗ trợ cơ quan chức năng kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi xâm phạm quyền trẻ em; đồng thời, tạo sức ép dư luận tích cực, tác động đến quá trình hoạch định chính sách và ban hành các quyết định quản lý có lợi cho xã hội[13]. Từ góc độ nghề nghiệp, việc đăng tải hình ảnh trẻ em được xem là yếu tố trực quan, giúp tăng mức độ thuyết phục và tính xác thực của thông tin. Tuy nhiên, pháp luật về trẻ em đặt ra giới hạn pháp lý rõ ràng đối với việc sử dụng hình ảnh trẻ em. Điều 15 Thông tư số 09/2017/TT-BTTTT[14] quy định, khi thông tin về các vụ việc tiêu cực, vi phạm pháp luật mà trẻ em là nạn nhân hoặc người liên quan, cơ quan báo chí có nghĩa vụ làm mờ hoặc che mặt trẻ em, đồng thời, bảo đảm bí mật đời sống riêng tư và bí mật cá nhân của trẻ em theo quy định pháp luật. Sự tồn tại song song giữa yêu cầu bảo đảm tính trung thực, đầy đủ của thông tin và nghĩa vụ làm mờ, che mặt, bảo vệ hình ảnh trẻ em làm nảy sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em, bởi ranh giới xác định rất khó, giữa sự thật khách quan với việc bảo vệ quyền con người[15], nếu không cẩn trọng, báo chí có thể vi phạm quyền trẻ em ngay khi đang tìm cách bảo vệ trẻ em[16]. Trong trường hợp xảy ra xung đột khi cả hai quyền cùng có cơ sở pháp lý, hạn chế của pháp luật là chưa quy định nguyên tắc ưu tiên quyền. Hệ quả là quá trình áp dụng pháp luật thường chuyển thành sự lựa chọn thiên lệch theo hướng ưu tiên một quyền, thay vì thực hiện cân bằng giữa các quyền. Thực tiễn cho thấy, quyền tự do báo chí thường được ưu tiên hơn thông qua viện dẫn tính trung thực và sức thuyết phục của thông tin.

2.2. Xung đột trong áp dụng ngoại lệ “lợi ích công cộng” và nghĩa vụ bảo vệ lợi tốt nhất của trẻ em

Khoản 2 Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các trường hợp được sử dụng hình ảnh cá nhân mà không cần sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật, gồm sử dụng hình ảnh vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng hoặc hình ảnh được ghi nhận từ các hoạt động công cộng. Quy định này được xây dựng trên nền tảng bảo vệ quyền nhân thân theo cách chủ thể của quyền có đủ khả năng nhận thức, tự đánh giá và tự bảo vệ lợi ích của mình trước việc công bố hình ảnh. Ngược lại, Luật Trẻ em năm 2016 khẳng định quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư và quyền được bảo vệ hình ảnh của trẻ em, đồng thời, xác lập nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em là chuẩn mực chi phối trong mọi quyết định liên quan đến trẻ em. Tuy nhiên, việc thiếu quy định phân hóa chủ thể đối với trẻ em trong các trường hợp ngoại lệ tại khoản 2 Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 làm phát sinh mâu thuẫn pháp lý: một mặt, pháp luật cho phép báo chí sử dụng hình ảnh không cần sự đồng ý trên cơ sở lợi ích công cộng; mặt khác, pháp luật về trẻ em đòi hỏi bảo vệ quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh phải được đặt dưới sự ưu tiên tuyệt đối của nguyên tắc lợi ích tốt nhất của trẻ em. Khi áp dụng vào hoạt động báo chí, mâu thuẫn này chuyển thành xung đột pháp lý trực tiếp giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh. Việc vận dụng các ngoại lệ về lợi ích công cộng tại Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng trực tiếp dẫn đến sự ưu tiên mặc nhiên cho quyền tự do báo chí và đương nhiên quyền đời sống riêng tư đối với hình ảnh trẻ em bị thu hẹp trong quá trình áp dụng pháp luật. Ngoài ra, khái niệm “lợi ích công cộng” không được kiểm soát bằng các tiêu chí pháp lý khách quan và cụ thể có thể dẫn đến tình trạng báo chí “lạm dụng” viện dẫn ngoại lệ khi đăng tải hình ảnh trẻ em theo hướng chủ quan, mọi thông tin thu hút sự quan tâm của công chúng đều mặc nhiên được xem là lợi ích công cộng. Hậu quả là quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh không được bảo vệ tốt nhất, vì thông tin nào liên quan đến công chúng đều có thể trở thành lợi ích công cộng để báo chí đăng hình ảnh mà không cần xin phép.

2.3. Xung đột giữa thông tin cần thiết và khai thác đời tư

Xung đột giữa thông tin cần thiết và khai thác đời tư thường xuất hiện khi báo chí phản ánh hiện tượng xã hội hoặc chính sách công. Thực tế, nhiều trường hợp nội dung thông tin có thể được truyền tải đầy đủ bằng dữ liệu, số liệu hoặc hình ảnh minh họa nhưng cơ quan báo chí vẫn lựa chọn công bố hình ảnh nhận diện cá nhân kèm theo các chi tiết về hoàn cảnh gia đình, tình trạng sức khỏe, tâm lý hoặc điều kiện sống, vượt quá mức độ cần thiết để phục vụ mục tiêu thông tin, đồng thời, nhằm gia tăng hiệu ứng truyền thông. Ví dụ, vụ xâm hại tình dục bé gái 09 tuổi ở Chương Mỹ - Hà Nội, vụ cha ruột xâm hại con xảy ra ở tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh),... nhiều cơ quan báo chí đã đưa tin quá chi tiết những hình ảnh, thông tin bí mật đời tư của nạn nhân là trẻ em[17]. Hậu quả là hình ảnh trẻ em trong các bài viết từ công cụ truyền tải thông tin bị chuyển hóa thành phương tiện khai thác đời sống riêng tư, tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm nghiêm trọng quyền nhân thân của trẻ em.

3. Đề xuất hướng tiếp cận và hoàn thiện pháp luật nhằm giải quyết xung đột giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Để các giải pháp hoàn thiện pháp luật có cơ sở lý luận và thực tiễn, cần xác định hướng tiếp cận phù hợp trong giải quyết xung đột giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.

3.1. Hướng tiếp cận

Trong bối cảnh giữa các quyền nảy sinh xung đột pháp lý, lý thuyết cân bằng quyền (balancing of rights) được công nhận rộng rãi trong pháp luật quốc tế như một phương pháp dung hòa cần thiết, hợp lý và công bằng. Theo hệ thống Công ước châu Âu về nhân quyền (ECHR), khi quyền tự do biểu đạt và tự do báo chí (Điều 10) xung đột với quyền tôn trọng đời sống riêng tư (Điều 8), Tòa án Nhân quyền châu Âu (ECtHR) áp dụng bài kiểm tra cân bằng (balancing test) chặt chẽ dựa trên các tiêu chí: tính cần thiết (necessity) trong xã hội dân chủ, tính tương xứng (proportionality test) và việc phải phân biệt rõ giữa “lợi ích công cộng thực sự” (genuine public interest) với “sự tò mò thuần túy của công chúng” (mere public curiosity)[18]. Khi giải quyết xung đột, Tòa án xem xét cân bằng giữa quyền riêng tư (Điều 8 ECHR) và quyền tự do biểu đạt (Điều 10 ECHR) bằng cách đánh giá việc công bố hình ảnh có thực sự đóng góp cho một tranh luận vì lợi ích công cộng hay không, trước khi chấp nhận can thiệp vào quyền riêng tư[19].

Trong khi đó, theo CRC, quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em được đặt trong mối quan hệ cân bằng quy định tại Điều 3 và Điều 16. Việc công bố thông tin hoặc hình ảnh liên quan đến trẻ em trong các vụ việc nhạy cảm chỉ được chấp nhận khi bảo đảm không gây tổn hại đến nhân phẩm, danh dự và sự phát triển toàn diện của trẻ em, trong đó, nguyên tắc “lợi ích tốt nhất của trẻ em” đóng vai trò như tiêu chí ưu tiên khi xung đột quyền phát sinh. Đồng thời, thực tiễn xét xử của ECtHR cho thấy, trong những trường hợp liên quan đến trẻ em, quyền riêng tư và quyền được bảo vệ đặc biệt theo Điều 8 cần được đánh giá thận trọng hơn do tính dễ bị tổn thương của trẻ em[20].

Những kinh nghiệm từ hệ thống ECHR và CRC cho thấy, xung đột giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em không được giải quyết bằng việc ưu tiên tuyệt đối một quyền mà thông qua cơ chế cân bằng quyền dựa trên các tiêu chí cụ thể. Đây là hướng tiếp cận quan trọng để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm tạo cơ chế pháp lý rõ ràng cho việc giải quyết các xung đột phát sinh trong thực tiễn.

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật

Để tương thích, phù hợp với pháp luật quốc tế, Việt Nam cần nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của hệ thống ECHR và CRC dưới góc độ cân bằng quyền, phù hợp với điều kiện thực tiễn để giải quyết các xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay.

3.2.1. Quy định nguyên tắc ưu tiên quyền trong trường hợp xung đột giữa yêu cầu bảo đảm thông tin trung thực và nghĩa vụ bảo vệ hình ảnh trẻ em

Hoạt động báo chí là một trong những công cụ kết nối giữa công dân và Nhà nước. Quyền tự do báo chí là quyền cơ bản về chính trị và dân sự của con người cần được mở rộng để báo chí luôn giữ vai trò tiên phong trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Trong khi đó, trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước nên việc bảo đảm và bảo vệ quyền trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng quốc tế cũng như của Việt Nam. Điều này cho thấy, quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đều là những quyền cơ bản quan trọng trong xã hội dân chủ. Tuy nhiên, do cách tiếp cận quyền hướng đến nên hai quyền này tiềm ẩn những xung đột nhất định. Việc giải quyết xung đột quyền theo hướng ưu tiên quyền không đồng nghĩa với việc triệt tiêu quyền còn lại mà tạo sự dung hòa để các quyền được bảo đảm phát triển tốt nhất vì lợi ích chung của xã hội.

Để tạo cơ sở pháp lý cho nguyên tắc ưu tiên quyền, trước hết, cần hiến định nguyên tắc “lợi ích tốt nhất của trẻ em”, khi đó, sẽ tạo cơ sở pháp lý để Tòa án và các cơ quan nhà nước giải thích và áp dụng pháp luật theo cách có lợi nhất đối với trẻ em, đặc biệt, trong những trường hợp có sự xung đột giữa các lợi ích khác nhau[21], đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để luật hóa nguyên tắc ưu tiên quyền trẻ em. Trên cơ sở đó, tại các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Báo chí năm 2025 cần làm rõ và bổ sung một số quy định sau:

Một là, quy định điều khoản nghĩa vụ bắt buộc cơ quan báo chí áp dụng các biện pháp bảo vệ hình ảnh trong trường hợp trẻ em là nạn nhân hoặc là người liên quan đến các vụ việc tiêu cực, trừ khi có căn cứ đặc biệt về lợi ích công cộng vượt trội. Quy định này giúp báo chí nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ quyền đời sống riêng tư của trẻ em trong hoạt động nghề nghiệp, tránh tình trạng báo chí coi việc sử dụng hình ảnh trẻ em là điều hiển nhiên để bảo đảm thông tin trung thực. Ngoài ra, quy định còn khẳng định dù định hướng giải quyết xung đột quyền theo hướng ưu tiên quyền nhưng pháp luật không tuyệt đối hóa nguyên tắc ưu tiên quyền trẻ em trong trường hợp quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh đối lập, loại trừ, xâm hại lợi ích của xã hội. Nếu có căn cứ đặc biệt về lợi ích công cộng vượt trội, việc cơ quan báo chí sử dụng hình ảnh trẻ em không bị coi là xâm phạm quyền đời sống riêng tư.

Hai là, quy định cụ thể tiêu chí xác định lợi ích công cộng vượt trội. Nguyên tắc ưu tiên quyền sẽ không phát huy hiệu quả tối ưu nếu không tạo lập căn cứ pháp lý để xác định lợi ích công cộng vượt trội, bởi khoảng trống pháp lý sẽ tạo thêm xung đột lợi ích giữa các quyền này.

3.2.2. Quy định điều kiện áp dụng ngoại lệ “lợi ích công cộng” đối với trẻ em

CRC không phủ nhận vai trò của lợi ích công cộng, nhưng yêu cầu lợi ích này phải được đánh giá dưới các tiêu chí nghiêm ngặt hơn khi liên quan đến trẻ em. Bình luận chung số 14 của Ủy ban Quyền trẻ em của Liên hợp quốc nhấn mạnh, lợi ích tốt nhất của trẻ em không chỉ là khẩu hiệu chính sách, mà còn là chuẩn mực lập luận bắt buộc trong quá trình ra quyết định. Trường hợp ngoại lệ mà kết quả cuối cùng không hoàn toàn phù hợp với lợi ích tốt nhất của trẻ em, cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh nguyên tắc này vẫn được xem xét là mối quan tâm hàng đầu thông qua việc xác định rõ từng cân nhắc cụ thể, giải thích lý do các cân nhắc đó được đánh giá có trọng lượng lớn hơn. Việc chỉ viện dẫn chung chung “lợi ích công cộng” hoặc “các lợi ích khác” vượt trội hơn lợi ích của trẻ em bị coi là không đáp ứng yêu cầu của CRC. Quy định đòi hỏi phải chứng minh tính cần thiết, tính tương xứng và tác động lâu dài của biện pháp đó đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em, tránh làm suy giảm vị thế pháp lý độc lập của trẻ em với tư cách là chủ thể quyền[22].

Trên cơ sở quy định pháp luật quốc tế, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Báo chí năm 2025 cần bổ sung các tiêu chí pháp lý cụ thể nhằm kiểm soát việc viện dẫn “lợi ích công cộng” khi đăng tải hình ảnh trẻ em, gồm: (i) mức độ cần thiết của hình ảnh đối với nội dung thông tin; (ii) khả năng thay thế bằng các biện pháp ít xâm phạm hơn; (iii) đánh giá tác động trước và sau khi công bố đối với quyền, lợi ích lâu dài của trẻ em. Việc cụ thể hóa các tiêu chí sẽ góp phần ngăn ngừa xu hướng ưu tiên mặc nhiên quyền tự do báo chí và tạo sự cân bằng giữa các quyền.

3.2.3. Quy định rõ ranh giới giữa thông tin cần thiết cho mục đích xã hội và thông tin mang tính khai thác đời tư khi báo chí đăng hình ảnh trẻ em

Khoảng trống pháp lý về ranh giới này khiến xử lý xung đột trên thực tế phụ thuộc vào nhận định chủ quan của cơ quan báo chí, dẫn đến nguy cơ mở rộng quá mức phạm vi thông tin được công bố và làm suy giảm hiệu quả bảo vệ quyền đời sống riêng tư của trẻ em.

Để giải quyết xung đột quyền, các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật Báo chí năm 2025 cần quy định rõ các tiêu chí nhằm phân biệt và kiểm soát ranh giới giữa thông tin cần thiết cho mục đích xã hội và thông tin khai thác đời sống riêng tư khi đăng tải hình ảnh trẻ em trên báo chí. Theo đó, việc sử dụng hình ảnh trẻ em chỉ được chấp nhận khi: (i) nội dung phản ánh trực tiếp sự kiện, hiện tượng xã hội mà trẻ em là chủ thể trung tâm không thể thay thế; (ii) hình ảnh được xử lý theo nguyên tắc hạn chế tối đa khả năng nhận dạng; (iii) không tiết lộ các yếu tố gắn với đời sống riêng tư, danh dự, nhân thân của trẻ em ngoài phạm vi thông tin cần truyền tải; (iv) quy định rõ các dấu hiệu của hành vi khai thác đời tư.

Việc xác lập các tiêu chí này không nhằm hạn chế quyền tự do báo chí bất hợp lý mà nhằm tạo cơ sở pháp lý minh bạch để giải quyết xung đột giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh, qua đó, bảo đảm việc thực hiện mỗi quyền không dẫn đến sự xâm phạm đối với quyền còn lại.

Kết luận

Xung đột giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh không xuất phát từ việc thiếu các quy định bảo vệ quyền mà chủ yếu do thiếu quy định xử lý xung đột hiệu quả. Khoảng trống pháp lý về nguyên tắc ưu tiên quyền, tiêu chí áp dụng ngoại lệ vì lợi ích công cộng và ranh giới giữa thông tin cần thiết với thông tin khai thác đời tư đã làm gia tăng nguy cơ xâm phạm quyền đời sống riêng tư của trẻ em trong hoạt động báo chí. Trên cơ sở nhận diện các dạng xung đột pháp lý, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng tiếp cận cân bằng quyền, tạo cơ sở pháp lý giải quyết các xung đột nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tự do báo chí, đồng thời, tăng cường bảo vệ quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh trong môi trường truyền thông hiện đại.

TS. Lê Thị Thu Hằng

Khoa Luật - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Ảnh: Dantri.com

[1]. Tạ Ngọc Tấn (2021), Lại bàn về tự do báo chí (Phần 1), https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/lai-ban-ve-tu-do-bao-chi-phan-1-p24224.html, truy cập ngày 18/5/2026.

[2]. Khoản 3 Điều 7 Luật Báo chí năm 2025.

[3]. Khoản 2 Điều 7 Luật Báo chí năm 2025.

[4]. Điều 8 Luật Báo chí năm 2025.

[5]. Trần Ngọc Tuấn (2024), Quyền về đời sống riêng tư của cá nhân theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.88.

[6]. Trần Ngọc Tuấn (2024), tlđd, tr.78.

[7]. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2011), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.253-257.

[8]. Nguyễn Văn Công, Tô Văn Hòa (2026), Bảo đảm, bảo vệ quyền trẻ em qua các bản Hiến pháp Việt Nam và định hướng hoàn thiện trong kỷ nguyên mới, Tạp chí Luật học, số 2/2026, tr.27.

[9]. Khoản 1 Điều 21 Luật Trẻ em năm 2016.

[10]. Điểm a khoản 1 Điều 15 Thông tư số 09/2017/TT-BTTTT ngày 23/6/2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về tỷ lệ nội dung, thời điểm, thời lượng dành cho trẻ em và cảnh báo nội dung không phù hợp với trẻ em trên báo nói, báo hình, báo in, báo điện tử và xuất bản phẩm.

[11]. Nguyễn Thị Quế Anh, Nguyễn Anh Đức (2015), Một số kiến nghị về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin qua hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập 31 Số 3 (2015), tr.4.

[12]. Đoàn Phú (2022), Tôn trọng quyền hình ảnh của cá nhân trên báo chí, https://baodongnai.com.vn/bandoc/202205/ton-trong-quyen-hinh-anh-cua-ca-nhan-tren-bao-chi-3118095/, truy cập ngày 18/5/2026.

[13]. VOV (2017), Đăng công khai thông tin cá nhân trẻ em bị xâm hại là tội ác?, https://vov.vn/xa-hoi/dang-cong-khai-thong-tin-ca-nhan-tre-em-bi-xam-hai-la-toi-ac-630855.vov, truy cập ngày 18/5/2026.

[14]. Thông tư số 09/2017/TT-BTTTT ngày 23/6/2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về tỷ lệ nội dung, thời điểm, thời lượng dành cho trẻ em và cảnh báo nội dung không phù hợp với trẻ em trên báo nói, báo hình, báo in, báo điện tử và xuất bản phẩm.

[15]. Nguyễn Sơn Tùng, Trịnh Nam Anh (2024), Một số vấn đề về quyền riêng tư trong quy định của Luật Báo chí - thực trạng và kiến nghị hoàn thiện, https://diendanbaochi.vn/mot-so-van-de-ve-quyen-rieng-tu-trong-quy-dinh-cua-luat-bao-chi-thuc-trang-va-kien-nghi-hoan-thien-50.html, truy cập ngày 18/5/2026.

[16]. Hồng Minh (2017), Không được phép làm tổn hại trẻ khi đưa tin, sử dụng hình ảnh, https://baophapluat.vn/khong-duoc-phep-lam-ton-hai-tre-khi-dua-tin-su-dung-hinh-anh-post258979.html, truy cập ngày 18/5/2026.

[17]. VOV (2019), Nhiều cơ quan báo chí vi phạm Luật Trẻ em do tiết lộ thông tin đời tư, https://vov.vn/xa-hoi/nhieu-co-quan-bao-chi-vi-pham-luat-tre-em-do-tiet-lo-thong-tin-doi-tu-894845.vov, truy cập ngày 18/5/2026.

[18]. European Court of Human Rights (2012), Jugement of Strasbourg Grand Chamber on 7th February 2012, Case of Axel Springer Ag v. Germany -Application no 39954/08, https://hudoc.echr.coe.int/eng#{%22itemid%22:[%22001-109034%22], truy cập ngày 18/5/2026.

[19]. European Court of Human Rights (2023), Factsheet - Right to the protection of one’s image, https://www.echr.coe.int/documents/fs_own_image_eng.pdf, truy cập ngày 18/5/2026.

[20]. European Court of Human Rights (2026), Guide on the case-law of the European Convention on Human Rights – Rights of the child, https://ks.echr.coe.int/documents/d/echr-ks/guide_rights_of_the_child_eng, truy cập ngày 18/5/2026.

[21]. Nguyễn Văn Công, Tô Văn Hòa (2026), tlđd, tr.34.

[22]. Committee on the Rights of the Child (2013), General comment No. 14 (2013) on the right of the child to have his or her best interests taken as a primary consideration (art. 3, para. 1), UN Doc. CRC/C/GC/14, 29 May 2013, p.97.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Committee on the Rights of the Child (2013), General comment No. 14 (2013) on the right of the child to have his or her best interests taken as a primary consideration (art. 3, para. 1), UN Doc.CRC/C/GC/14, 29 May 2013.

2. Đoàn Phú (2022), Tôn trọng quyền hình ảnh của cá nhân trên báo chí, https://baodongnai.com.vn/bandoc/202205/ton-trong-quyen-hinh-anh-cua-ca-nhan-tren-bao-chi-3118095/, truy cập ngày 18/5/2026.

3. European Court of Human Rights (2012), Jugement of Strasbourg Grand Chamber on 7th February 2012, Case of Axel Springer Ag v. Germany - Application no 39954/08, https://hudoc.echr.coe.int/eng#{%22itemid%22:[%22001-109034%22], truy cập ngày 18/5/2026.

4. European Court of Human Rights (2023), Factsheet - Right to the protection of one’s image, https://www.echr.coe.int/documents/fs_ own_image_eng.pdf, truy cập ngày 18/5/2026.

5. European Court of Human Rights (2026), Guide on the case-law of the European Convention on Human Rights - Rights of the child, https://ks.echr.coe.int/documents/d/echr-ks/guide_rights_of_the_child_eng, truy cập ngày 18/5/2026.

6. Hồng Minh (2017), Không được phép làm tổn hại trẻ khi đưa tin, sử dụng hình ảnh, https://baophapluat.vn/khong-duoc-phep-lam-ton-hai-tre-khi-dua-tin-su-dung-hinh-anh-post258979.html, truy cập ngày 18/5/2026.

7. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2011), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

8. Nguyễn Sơn Tùng, Trịnh Nam Anh (2024), Một số vấn đề về quyền riêng tư trong quy định của Luật Báo chí - thực trạng và kiến nghị hoàn thiện, https://diendanbaochi.vn/mot-so-van-de-ve-quyen-rieng-tu-trong-quy-dinh-cua-luat-bao-chi-thuc-trang-va-kien-nghi-hoan-thien-50.html, truy cập ngày 18/5/2026.

9. Nguyễn Thị Quế Anh, Nguyễn Anh Đức (2015), Một số kiến nghị về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin qua hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập 31 Số 3 (2015).

10. Nguyễn Văn Công, Tô Văn Hòa (2026), Bảo đảm, bảo vệ quyền trẻ em qua các bản Hiến pháp Việt Nam và định hướng hoàn thiện trong kỷ nguyên mới, Tạp chí Luật học, số 2/2026.

11. Tạ Ngọc Tấn (2021), Lại bàn về tự do báo chí (Phần 1), https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/lai-ban-ve-tu-do-bao-chi-phan-1-p24224.html, truy cập ngày 18/5/2026.

12. Trần Ngọc Tuấn (2024), Quyền về đời sống riêng tư của cá nhân theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.

13. VOV (2017), Đăng công khai thông tin cá nhân trẻ em bị xâm hại là tội ác?, https://vov.vn/xa-hoi/dang-cong-khai-thong-tin-ca-nhan-tre-em-bi-xam-hai-la-toi-ac-630855.vov, truy cập ngày 18/5/2026.

14. VOV (2019), Nhiều cơ quan báo chí vi phạm Luật Trẻ em do tiết lộ thông tin đời tư, https://vov.vn/xa-hoi/nhieu-co-quan-bao-chi-vi-pham-luat-tre-em-do-tiet-lo-thong-tin-doi-tu-894845.vov, truy cập ngày 18/5/2026.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (455) tháng 6/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Xác định bản chất pháp lý của nghĩa vụ tài chính khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Xác định bản chất pháp lý của nghĩa vụ tài chính khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Tóm tắt: Xác định bản chất pháp lý của khoản tiền mà người sử dụng lao động phải trả khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm tính thống nhất của pháp luật lao động. Trên cơ sở phân tích Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019 và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ những bất cập trong xác định căn cứ phát sinh, thời gian tính trả và giới hạn áp dụng của nghĩa vụ tài chính này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật theo hướng xác định khoản tiền phải trả là nghĩa vụ tài chính mang tính trách nhiệm lao động đặc thù, đồng thời, bổ sung các tiêu chí về thời gian tính trả và giới hạn nghĩa vụ nhằm bảo đảm tính thống nhất và cân bằng lợi ích giữa các bên trong quan hệ lao động.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Tóm tắt: Xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là yêu cầu quan trọng nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới; trong đó, không thể thiếu sự đóng góp của các doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; nghiên cứu đánh giá thực tiễn sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế những năm qua; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của các doanh nghiệp, với tư cách là một thành tố cơ bản trong xây dựng, phát triển đất nước và chủ thể đồng kiến tạo thể chế, phục vụ phát triển đất nước.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.

Theo dõi chúng tôi trên: