Thứ năm 24/09/2026 22:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: phản biện xã hội; chất lượng phản biện xã hội; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; phát huy dân chủ; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nhận bài: 09/6/2026 Hoàn thành biên tập: 15/6/2026 Duyệt đăng: 18/6/2026

The quality of social criticism of the Vietnam Fatherland Front in the Socialist Rule-of-Law State of Vietnam - Current situation and solutions

Abstract: In the process of building a socialist rule of Law State of Vietnam , the social critique of the Vietnam Fatherland Front plays a crucial role in promoting democracy, protecting the legitimate rights and interests of the people, and improving the quality of policy and law formulation and implementation. This study analyzes the social critique activities of the Vietnam Fatherland Front regarding policies and laws in the current period. Based on the method of analyzing, synthesizing, and evaluating legal regulations and practical implementation, the study clarifies the current state of the quality of social critique by the Vietnam Fatherland Front. From there, it proposes several solutions to improve the quality of social critique by the Vietnam Fatherland Front, meeting the requirements of building a socialist rule of Law State of Vietnam in the new era.

Keywords: Social critique; quality of social critique; Vietnam Fatherland Front; promoting democracy; socialist rule of Law State of Vietnam.

Article received: 09/6/2026 Editing completed: 15/6/2026 Approved for publication: 18/6/2026

Đặt vấn đề

Phản biện xã hội là yêu cầu tất yếu trong quá trình mở rộng dân chủ và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Trong điều kiện các chính sách, pháp luật ngày càng tác động sâu, rộng đến đời sống xã hội, việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phản ánh ý kiến của Nhân dân, phát hiện những bất cập từ thực tiễn và góp ý đối với quá trình xây dựng chính sách, pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc vào chất lượng nội dung phản biện, phương thức tổ chức thực hiện và mức độ tiếp thu của cơ quan có thẩm quyền. Đây là vấn đề cần tiếp tục được nhận diện, phân tích và hoàn thiện trong giai đoạn hiện nay.

1. Một số vấn đề về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Để đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần hiểu đúng bản chất, nội hàm và yêu cầu đối với công tác phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

1.1. Khái quát phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tại Việt Nam, phản biện xã hội gắn liền với quá trình phát triển kinh tế thị trường, mở rộng dân chủ và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều này phản ánh nhu cầu khách quan của xã hội trong tạo lập cơ chế để Nhân dân tham gia vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật. Phản biện xã hội được Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định là phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân, ý thức trách nhiệm của Nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước[1]... Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Phản biện xã hội là nhu cầu cần thiết và đòi hỏi bắt buộc của quá trình lãnh đạo và điều hành đất nước.

Dưới góc độ khoa học, có quan điểm cho rằng, phản biện xã hội là hoạt động nhận xét, đánh giá, lập luận và kiến nghị trên cơ sở khoa học, khách quan nhằm làm rõ tính hợp lý, tính khả thi của các chủ trương, chính sách và quyết định quản lý nhà nước[2]. Như vậy, bản chất của phản biện xã hội không phải là đối lập với cơ quan nhà nước mà là phương thức tham gia xây dựng, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia.

Theo Điều 32 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015), phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án của cơ quan nhà nước.

Như vậy, có thể hiểu, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với các chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước nhằm phát hiện những nội dung còn thiếu, chưa phù hợp, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, hiệu quả, phù hợp với đời sống xã hội trong hoạch định chính sách, xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội.

1.2. Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tùy lĩnh vực, mục đích khác nhau mà có quan điểm khác nhau về chất lượng. Tuy nhiên, theo Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO): “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của một đối tượng đáp ứng các yêu cầu”[3]. Theo đó, có thể hiểu: chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là mức độ đáp ứng các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp. Cụ thể, trong việc xem xét, đánh giá sự cần thiết, tính đúng đắn, khách quan, xây dựng, khoa học, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội ở địa phương của văn bản dự thảo và hiệu lực thực tế của kiến nghị sau phản biện.

1.3. Yêu cầu đặt ra đối với chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Hiện, pháp luật chưa xác định yêu cầu cụ thể đối với chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp. Tuy nhiên, dựa trên tính chất, mục tiêu, nguyên tắc phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và yêu cầu của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt ra đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, nghiên cứu đưa ra 04 yêu cầu cơ bản làm căn cứ đánh giá như sau:

Thứ nhất, yêu cầu về bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng. Yêu cầu này tập trung đánh giá phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện trong khuôn khổ sự lãnh đạo của Đảng không. Nội dung phản biện có đi ngược cương lĩnh, nghị quyết của Đảng không. Có tuân thủ nghiêm túc các quy định, quy chế do Đảng ban hành nhằm bảo đảm chất lượng của phản biện xã hội trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không. Yêu cầu này củng cố vai trò cầu nối của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước, đồng thời, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh.

Thứ hai, yêu cầu bảo đảm dân chủ, đúng đắn, công khai, khách quan, xây dựng và phù hợp. Tính dân chủ trong phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam biểu biện thông qua lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng, tập hợp đầy đủ các ý kiến từ các tầng lớp Nhân dân. Tính đúng đắn biểu hiện qua các ý kiến phản biện phải dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học, có luận cứ rõ ràng, thuyết phục. Tính công khai thể hiện chủ yếu qua trách nhiệm giải trình đối với việc tiếp thu hay không tiếp thu các ý kiến phản biện. Tính khách quan, xây dựng và phù hợp là yếu tố then chốt bảo đảm phản biện không nhằm mục đích tiêu cực mà góp ý, đề xuất các giải pháp tối ưu để hoàn thiện chính sách, pháp luật. Các ý kiến góp ý phải xuất phát từ nhu cầu của Nhân dân, nhằm giải quyết kịp thời những vấn đề Nhân dân quan tâm, bức xúc cũng như bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Ngoài ra, sự phù hợp còn bảo đảm hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tuân thủ các quy định pháp luật, quy chế, điều lệ của tổ chức về phản biện xã hội.

Yêu cầu dân chủ, đúng đắn, công khai, khách quan, xây dựng và phù hợp trong phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng, bảo đảm hai đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gồm: quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ theo Hiến pháp, pháp luật; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Thứ ba, yêu cầu không làm trở ngại các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được phản biện xã hội. Mọi hình thức phản biện nói chung và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nói riêng cần thực hiện trên tinh thần hợp tác, xây dựng, không làm cản trở, gây khó khăn hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được phản biện. Điều này góp phần nâng cao chất lượng quản lý, điều hành và thúc đẩy sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị, đóng góp hiệu quả vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thứ tư, yêu cầu đối với hiệu lực thực tế của các kiến nghị phản biện xã hội. Tiêu chí này thể hiện chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Một ý kiến phản biện chất lượng không chỉ ở nội dung xác đáng mà còn thể hiện thông qua hiệu lực khi được tiếp thu và hiện thực hóa thành chính sách, pháp luật. Những kiến nghị sau phản biện cần được tiếp nhận và phản hồi theo cơ chế công khai, minh bạch từ phía các cơ quan nhà nước, bảo đảm các kiến nghị phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự phát huy tác dụng, góp phần vào quá trình xây dựng chính sách, pháp luật công bằng, hiệu quả.

2. Thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên ngày càng có chiều sâu, cụ thể, chặt chẽ, phát huy hiệu quả thiết thực[4], đặc biệt, từ khi ban hành Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTƯMTTQVN ngày 15/6/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP- ĐCTUBTƯMTTQVN).

2.1. Một số kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế

Thứ nhất, bảo đảm yêu cầu sự lãnh đạo của Đảng đối với phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thời gian qua đã và đang được thực hiện nghiêm túc dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua quan điểm: “Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”[5]. Đồng thời, bám sát Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 26/10/2022 của Ban Bí thư về phát huy vai trò, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội (Chỉ thị số 18-CT/TW). Sự lãnh đạo của Đảng tạo cơ sở chính trị quan trọng giúp hoạt động phản biện xã hội được thực hiện đúng định hướng, bảo đảm ổn định chính trị, không đi chệch mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn cho thấy, các ý kiến phản biện cơ bản không đi ngược với cương lĩnh, nghị quyết của Đảng, mà tập trung phát hiện những bất cập trong thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật, mang lại kết quả tích cực[6]. Nhiều kiến nghị phản biện giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời khắc phục hạn chế, tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực thi nhiệm vụ, đồng thời, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

Tuy nhiên, tại một số địa phương, cấp ủy Đảng chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động phản biện xã hội, dẫn đến triển khai còn hình thức, thiếu chiều sâu. Điều này phản ánh nhận thức của một bộ phận cán bộ về vai trò của phản biện xã hội chưa đầy đủ, làm ảnh hưởng đến chất lượng tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quản lý nhà nước và xã hội[7].

Thứ hai, về bảo đảm yêu cầu dân chủ, đúng đắn, công khai, khách quan, xây dựng và phù hợp.

Tính dân chủ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phản biện xã hội thời gian qua được thể hiện qua việc phát huy trí tuệ của toàn thể Nhân dân, các chuyên gia, nhà khoa học và đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách, pháp luật. Điều này cho thấy, phản biện xã hội không còn là hoạt động nội bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mà từng bước trở thành cơ chế để Nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật và hoạch định chính sách công. Việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức phản biện đối với các dự thảo luật lớn như Luật Di sản văn hóa (sửa đổi), Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn phản ánh xu hướng dân chủ trong quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam.

Về tính đúng đắn, mặc dù, tình trạng một số nội dung phản biện chưa được chuẩn bị kỹ, song, chất lượng phản biện được nâng lên nhờ quá trình nghiên cứu hồ sơ dự thảo, khảo sát thực tiễn và tham vấn nhiều chủ thể khác nhau. Điều này cho thấy, phản biện xã hội đang dần chuyển từ hình thức góp ý khái quát sang phản biện, có cơ sở lý luận và thực tiễn rõ ràng. Đặc biệt, việc lựa chọn phản biện các dự thảo luật liên quan đến quyền và lợi ích của người dân như Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) phản ánh sự chuyển biến trong tư duy phản biện theo hướng lấy người dân làm trung tâm[8].

Về tính công khai, các kết quả phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp sau mỗi lần phản biện cơ bản đều công khai và được Nhân dân đồng tình, ủng hộ, ghi nhận[9]. Qua đó, có thể thấy, cơ chế phản biện xã hội bước đầu có sự tương tác hai chiều giữa Nhà nước với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nhân dân.

Về tính khách quan, xây dựng và phù hợp. Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thời gian qua bảo đảm tính khách quan, xây dựng và phù hợp khi tập trung phát hiện những bất cập trong quá trình xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân[10] . Điều này cho thấy, phản biện xã hội ngày càng phát huy vai trò là cơ chế để Nhân dân tham gia quản lý nhà nước, kiểm soát thực thi quyền lực và bảo đảm dân chủ trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điển hình, trong quá trình phản biện dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) năm 2023, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiếp cận dưới góc độ giới và nhu cầu thực tiễn của người dân, qua đó, kiến nghị hoàn thiện nhiều nội dung liên quan đến mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, trợ cấp thai sản và chế độ hưu trí[11]. Điều này phản ánh xu hướng phản biện xã hội ngày càng gắn với yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân - đặc trưng quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bên cạnh đó, phản biện xã hội được triển khai trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và các quy chế của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là minh chứng bảo đảm phù hợp và thượng tôn pháp luật trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, chất lượng phản biện xã hội chưa đồng đều, còn hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm[12], dẫn đến nhiều ý kiến phản biện còn hình thức, thiên về kỹ thuật lập pháp hơn là phân tích nội dung chính sách, pháp luật[13]. Ngoài ra, việc triển khai các quy định về giám sát, phản biện xã hội ở một số địa phương chưa thường xuyên[14], phản ánh nhận thức và trách nhiệm của một số cấp chính quyền đối với cơ chế dân chủ, phản biện xã hội còn hạn chế. Hệ quả, trong giai đoạn 2018 - 2022, một số địa phương như Lào Cai, Kiên Giang (nay là An Giang), Phú Yên (nay là Đắk Lắk), Yên Bái (nay là Lào Cai) chưa chủ động tổ chức phản biện xã hội ở cấp xã[15].

Thứ ba, về bảo đảm không làm trở ngại các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được phản biện xã hội.

Thực tiễn cho thấy phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không gây cản trở hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được phản biện, ngược lại đã góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nhiều hoạt động phản biện nhận được sự đồng tình, hỗ trợ tích cực của Chính phủ, bộ, ngành và chính quyền địa phương. Điển hình, trong năm 2023, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức Hội nghị phản biện xã hội dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) và dự thảo Luật Việc làm (sửa đổi), góp phần hoàn thiện các chính sách có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động. Qua đó cho thấy, phản biện xã hội ngày càng được khẳng định là thiết chế quan trọng phát huy dân chủ, tăng cường trách nhiệm giải trình, từ đó, đáp ứng đầy đủ yêu cầu trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tuy nhiên, sự phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình thực hiện phản biện xã hội có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, thiếu thường xuyên[16]. Chính quyền một số nơi và một số cơ quan chuyên môn chưa chủ động trong các hoạt động phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; một số nội dung phối hợp còn hình thức, dàn trải, hiệu quả chưa cao. Điều này làm giảm hiệu quả thực chất của cơ chế phản biện xã hội trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật.

Thứ tư, về bảo đảm hiệu lực thực tế của các kiến nghị phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Thực tiễn cho thấy, hiệu lực thực tế của các kiến nghị phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được nâng cao khi nhiều cơ quan nhà nước ngày càng coi trọng ý kiến phản biện trong quá trình xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật. Nhiều địa phương kiên quyết không ban hành, thông qua văn bản khi chưa có ý kiến phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam[17]. Điều này cho thấy, phản biện xã hội đang trở thành yêu cầu quan trọng, bảo đảm tính khách quan, dân chủ và tính khả thi của chính sách, pháp luật. Nhiều kiến nghị phản biện được cơ quan có thẩm quyền tiếp thu, góp phần đưa ra quyết định đúng các vấn đề trong công tác lãnh đạo, quản lý cũng như hoàn thiện chính sách, tăng cường bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong kỷ nguyên mới[18].

Mặc dù vậy, mức độ tiếp thu các ý kiến phản biện của cơ quan chủ trì, soạn thảo chính sách, pháp luật còn hạn chế, tồn tại nhiều ý kiến chưa được giải trình. Công tác theo dõi tiếp thu, giải trình sau khi thực hiện phản biện xã hội tuy được quan tâm nhưng chưa sâu sát. Bên cạnh đó, hiệu lực các kiến nghị phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ yếu mang tính tham khảo, chưa có giá trị ràng buộc pháp lý, dẫn đến khả năng tác động thực chất đến quá trình sửa đổi, điều chỉnh các chính sách, pháp luật còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến vai trò của phản biện xã hội trong phát huy dân chủ, bảo đảm công khai, minh bạch và đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2.2. Nguyên nhân của hạn chế

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các hạn chế trên, trong đó có một số nguyên nhân chính sau:

Thứ nhất, nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên, cơ quan nhà nước và Nhân dân về vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phản biện còn hạn chế, chưa đầy đủ.

Thứ hai, pháp luật về phản biện xã hội chưa hoàn thiện nên việc thực hiện còn nhiều vướng mắc, khó khăn, chưa bảo đảm chất lượng. Điển hình, chưa có văn bản hướng dẫn quy định về phản biện xã hội tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015. Điều 6 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025[19] quy định về phản biện xã hội, nhưng chỉ quy định các cơ quan soạn thảo có trách nhiệm tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia phản biện xã hội, chưa phải là trách nhiệm các cơ quan soạn thảo gửi hồ sơ đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để đề nghị phản biện. Hơn nữa, hai văn bản trên đều chưa quy định giá trị pháp lý của văn bản phản biện xã hội, cơ chế tiếp nhận ý kiến phản biện và chế tài đối với việc không tiếp nhận ý kiến phản biện cũng như không giải trình thỏa đáng[20].

Thứ ba, cán bộ làm công tác phản biện còn thiếu về số lượng, năng lực chuyên môn chưa đồng đều dẫn đến việc triển khai các hoạt động chưa bảo đảm tiến độ, chất lượng[21].

Thứ tư, một số địa phương, điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí[22] cho phản biện xã hội còn khó khăn. Việc thu hút sự tham gia của hội đồng tư vấn, các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học phục vụ cho công tác giám sát, phản biện xã hội gặp vướng mắc từ các quy định về nội dung chi, mức chi.

3. Một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Để khắc phục được những khó khăn, bất cập trên, góp phần nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo đó, Đảng cần chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức Đảng phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT- UBTVQH14-CP-ĐCTUBTƯMTTQVN, Chỉ thị số 18-CT/TW nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong thực hiện quyền và trách nhiệm phản biện xã hội trong thực tiễn[23]. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, giám sát của các cấp ủy Đảng đối với hoạt động phản biện xã hội.

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo đó, cần rà soát, bổ sung các quy định về giá trị pháp lý đối với cơ chế tiếp nhận ý kiến phản biện và chế tài đối với việc không tiếp nhận ý kiến phản biện cũng như không giải trình thỏa đáng nhằm nâng cao hiệu lực thực tế của kiến nghị phản biện tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.

Thứ ba, nâng cao nhận thức, năng lực chuyên môn của các chủ thể trực tiếp thực hiện phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo đó, cần tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng phản biện xã hội cho đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên nhằm nâng cao năng lực phân tích, tổng hợp, xây dựng ý kiến phản biện khoa học, khách quan và thuyết phục.

Thứ tư, đổi mới hình thức, nội dung phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đa dạng hóa hình thức phản biện, toàn diện hóa nội dung, tăng cường vai trò chủ trì và phối hợp, phát huy vai trò của Nhân dân, đổi mới phương pháp tổ chức, tăng cường công khai minh bạch và xây dựng các mô hình hiệu quả giúp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy tối đa vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Thứ năm, hoàn thiện tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, nâng cao chất lượng cán bộ phản biện xã hội. Cần tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp theo hướng tinh, gọn, giảm bớt các đầu mối trung gian không cần thiết, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý, tránh trùng lặp, chồng chéo. Cụ thể, thực hiện cần sắp xếp tổ chức bộ máy cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể cấp tỉnh, cấp xã theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, theo đó, hợp nhất cơ quan tham mưu, giúp việc về chung với cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh; giữ nguyên tư cách pháp nhân của các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng nhưng bảo đảm tính chủ động, sáng tạo của mỗi tổ chức.

Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế phối hợp, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong thực hiện kết quả phản biện xã hội. Để nâng cao hiệu quả phối hợp, cần xây dựng và hoàn thiện các quy chế phối hợp công tác cụ thể, rõ ràng, phân định trách nhiệm, quyền hạn của từng bên trong từng lĩnh vực hoạt động phản biện xã hội. Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế giám sát thực hiện các kiến nghị phản biện, bảo đảm các kiến nghị được các cơ quan Nhà nước tiếp thu, giải trình và xử lý nghiêm túc, minh bạch.

Thứ bảy, bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí, thông tin phục vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo đó, cần có cơ chế phân bổ kinh phí rõ ràng, ổn định, bảo đảm nguồn tài chính cho các hoạt động khảo sát, nghiên cứu, tổ chức hội nghị và bồi dưỡng cán bộ. Bên cạnh đó, cần đầu tư trang bị các phòng họp hiện đại, trang thiết bị âm thanh, ánh sáng, ghi hình, kết nối internet tốc độ cao để tổ chức hội nghị, tọa đàm, đối thoại trực tiếp hoặc trực tuyến với các cơ quan, tổ chức và Nhân dân.

Kết luận

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có tác động trực tiếp đến hiệu quả tham gia của Nhân dân trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Thực tiễn cho thấy phản biện xã hội ngày càng có chiều sâu, từng bước khẳng định vai trò trong phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội và đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, để phản biện xã hội thực sự trở thành công cụ hiệu quả trong quản trị quốc gia, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý, nâng cao chất lượng chủ thể phản biện và bảo đảm hiệu lực thực tế của các kiến nghị phản biện trong thời gian tới.

ThS. Nguyễn Hải Anh

Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực 1

Ảnh: Internet

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.182-183.

[2]. TS. Lê Thị Thiều Hoa (2023), Phản Biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

[3]. Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2015, Hệ thống quản lý chất lượng - cơ sở và từ vựng, Điều 3.6.2.

[4]. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT ngày 10/11/2023, Báo cáo Sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTƯMTTQVN ngày 15/6/2017 quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tr.16.

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. I, tr.190.

[6]. Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Dự thảo Báo cáo của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa IX, tháng 10/2024, nhiệm kỳ 2024 - 2029, Nâng cao vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, phát huy dân chủ, truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh, nhân dân ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, tr.13.

[7]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.18.

[8]. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Báo cáo số 800/BC-MTTW-BTT ngày 19/01/2024, Báo cáo về kết quả thực hiện công tác giám sát và phản biện xã hội năm 2023, phương hướng, nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội năm 2024 của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tr.23.

[9]. Báo cáo số 800/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.23.

[10]. Báo cáo số 800/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.22.

[11]. Báo cáo số 800/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.19.

[12]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.18.

[13]. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Báo cáo số 43/BC-MTTW-BTT ngày 21/01/2025, Báo cáo về kết quả thực hiện công tác giám sát và phản biện xã hội năm 2024, phương hướng, nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội năm 2025 của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tr.20.

[14]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.18.

[15]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, Phụ lục 3.

[16]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.20.

[17]. Báo cáo số 800/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.24.

[18]. Đối với dự thảo Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn, cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp thu các kiến nghị về các quy định về quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân; về nguồn lực trong xây dựng, quản lý và triển khai quy hoạch; về vai trò của Mặt trận Tổ quóc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận. Đối với dự thảo Luật Phòng, chống mua bán người (sửa đổi), các ý kiến phản biện của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam về (i) bổ sung chuyển tuyến người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, nạn nhân đến cơ sở hỗ trợ nạn nhân/Trung tâm trợ giúp xã hội; (ii) bổ sung trách nhiệm của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tham gia phòng, chống mua bán người, chăm sóc, hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân đã được tiếp thu và đề cập trong Luật hiện hành.

[19]. Được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15.

[20]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.19.

[21]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.20.

[22]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.19.

[23]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.21.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT ngày 10/11/2023, Báo cáo Sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết liên tịch số 403/2017 NQLT-UBTVQH14-CP- ĐCTUBTƯMTTQVN ngày 15/6/2017 quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại điểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I.

4. GS.TS. Nguyễn Minh Đoan (2011), Bàn thêm về phản biện xã hội ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 3/2011.

5. Nguyễn Văn Pha (2013), Một số vấn đề về hoạt động góp ý, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác xây dựng pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.

6. PGS.TS. Nguyễn Văn Động (2011), Phản biện xã hội - nhìn từ góc độ, Tạp chí Luật học.

7. TS. Hồ Bá Thâm, CN. Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (đồng chủ biên, 2010), Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền, Nxb. Chính trị Quốc gia.

8. TS. Lê Thị Thiều Hoa (2023), Phản Biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

9. TS. Nguyễn Thọ Ánh (2012), Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

10. Vũ Hoàng Công (2023), Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, Tạp chí Lý luận chính trị.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (455) tháng 6/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: