Từ khóa: phản biện xã hội; chất lượng phản biện xã hội; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; phát huy dân chủ; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhận bài: 09/6/2026 Hoàn thành biên tập: 15/6/2026 Duyệt đăng: 18/6/2026
The quality of social criticism of the Vietnam Fatherland Front in the Socialist Rule-of-Law State of Vietnam - Current situation and solutions
Abstract: In the process of building a socialist rule of Law State of Vietnam , the social critique of the Vietnam Fatherland Front plays a crucial role in promoting democracy, protecting the legitimate rights and interests of the people, and improving the quality of policy and law formulation and implementation. This study analyzes the social critique activities of the Vietnam Fatherland Front regarding policies and laws in the current period. Based on the method of analyzing, synthesizing, and evaluating legal regulations and practical implementation, the study clarifies the current state of the quality of social critique by the Vietnam Fatherland Front. From there, it proposes several solutions to improve the quality of social critique by the Vietnam Fatherland Front, meeting the requirements of building a socialist rule of Law State of Vietnam in the new era.
Keywords: Social critique; quality of social critique; Vietnam Fatherland Front; promoting democracy; socialist rule of Law State of Vietnam.
Article received: 09/6/2026 Editing completed: 15/6/2026 Approved for publication: 18/6/2026
Đặt vấn đề
Phản biện xã hội là yêu cầu tất yếu trong quá trình mở rộng dân chủ và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Trong điều kiện các chính sách, pháp luật ngày càng tác động sâu, rộng đến đời sống xã hội, việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phản ánh ý kiến của Nhân dân, phát hiện những bất cập từ thực tiễn và góp ý đối với quá trình xây dựng chính sách, pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc vào chất lượng nội dung phản biện, phương thức tổ chức thực hiện và mức độ tiếp thu của cơ quan có thẩm quyền. Đây là vấn đề cần tiếp tục được nhận diện, phân tích và hoàn thiện trong giai đoạn hiện nay.
1. Một số vấn đề về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Để đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần hiểu đúng bản chất, nội hàm và yêu cầu đối với công tác phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
1.1. Khái quát phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tại Việt Nam, phản biện xã hội gắn liền với quá trình phát triển kinh tế thị trường, mở rộng dân chủ và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều này phản ánh nhu cầu khách quan của xã hội trong tạo lập cơ chế để Nhân dân tham gia vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật. Phản biện xã hội được Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định là phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân, ý thức trách nhiệm của Nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước[1]... Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Phản biện xã hội là nhu cầu cần thiết và đòi hỏi bắt buộc của quá trình lãnh đạo và điều hành đất nước.
Dưới góc độ khoa học, có quan điểm cho rằng, phản biện xã hội là hoạt động nhận xét, đánh giá, lập luận và kiến nghị trên cơ sở khoa học, khách quan nhằm làm rõ tính hợp lý, tính khả thi của các chủ trương, chính sách và quyết định quản lý nhà nước[2]. Như vậy, bản chất của phản biện xã hội không phải là đối lập với cơ quan nhà nước mà là phương thức tham gia xây dựng, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia.
Theo Điều 32 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015), phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án của cơ quan nhà nước.
Như vậy, có thể hiểu, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với các chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước nhằm phát hiện những nội dung còn thiếu, chưa phù hợp, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, hiệu quả, phù hợp với đời sống xã hội trong hoạch định chính sách, xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội.
1.2. Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tùy lĩnh vực, mục đích khác nhau mà có quan điểm khác nhau về chất lượng. Tuy nhiên, theo Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO): “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của một đối tượng đáp ứng các yêu cầu”[3]. Theo đó, có thể hiểu: chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là mức độ đáp ứng các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp. Cụ thể, trong việc xem xét, đánh giá sự cần thiết, tính đúng đắn, khách quan, xây dựng, khoa học, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội ở địa phương của văn bản dự thảo và hiệu lực thực tế của kiến nghị sau phản biện.
1.3. Yêu cầu đặt ra đối với chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hiện, pháp luật chưa xác định yêu cầu cụ thể đối với chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp. Tuy nhiên, dựa trên tính chất, mục tiêu, nguyên tắc phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và yêu cầu của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt ra đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, nghiên cứu đưa ra 04 yêu cầu cơ bản làm căn cứ đánh giá như sau:
Thứ nhất, yêu cầu về bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng. Yêu cầu này tập trung đánh giá phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện trong khuôn khổ sự lãnh đạo của Đảng không. Nội dung phản biện có đi ngược cương lĩnh, nghị quyết của Đảng không. Có tuân thủ nghiêm túc các quy định, quy chế do Đảng ban hành nhằm bảo đảm chất lượng của phản biện xã hội trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không. Yêu cầu này củng cố vai trò cầu nối của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước, đồng thời, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh.
Thứ hai, yêu cầu bảo đảm dân chủ, đúng đắn, công khai, khách quan, xây dựng và phù hợp. Tính dân chủ trong phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam biểu biện thông qua lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng, tập hợp đầy đủ các ý kiến từ các tầng lớp Nhân dân. Tính đúng đắn biểu hiện qua các ý kiến phản biện phải dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học, có luận cứ rõ ràng, thuyết phục. Tính công khai thể hiện chủ yếu qua trách nhiệm giải trình đối với việc tiếp thu hay không tiếp thu các ý kiến phản biện. Tính khách quan, xây dựng và phù hợp là yếu tố then chốt bảo đảm phản biện không nhằm mục đích tiêu cực mà góp ý, đề xuất các giải pháp tối ưu để hoàn thiện chính sách, pháp luật. Các ý kiến góp ý phải xuất phát từ nhu cầu của Nhân dân, nhằm giải quyết kịp thời những vấn đề Nhân dân quan tâm, bức xúc cũng như bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Ngoài ra, sự phù hợp còn bảo đảm hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tuân thủ các quy định pháp luật, quy chế, điều lệ của tổ chức về phản biện xã hội.
Yêu cầu dân chủ, đúng đắn, công khai, khách quan, xây dựng và phù hợp trong phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng, bảo đảm hai đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gồm: quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ theo Hiến pháp, pháp luật; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Thứ ba, yêu cầu không làm trở ngại các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được phản biện xã hội. Mọi hình thức phản biện nói chung và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nói riêng cần thực hiện trên tinh thần hợp tác, xây dựng, không làm cản trở, gây khó khăn hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được phản biện. Điều này góp phần nâng cao chất lượng quản lý, điều hành và thúc đẩy sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị, đóng góp hiệu quả vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thứ tư, yêu cầu đối với hiệu lực thực tế của các kiến nghị phản biện xã hội. Tiêu chí này thể hiện chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Một ý kiến phản biện chất lượng không chỉ ở nội dung xác đáng mà còn thể hiện thông qua hiệu lực khi được tiếp thu và hiện thực hóa thành chính sách, pháp luật. Những kiến nghị sau phản biện cần được tiếp nhận và phản hồi theo cơ chế công khai, minh bạch từ phía các cơ quan nhà nước, bảo đảm các kiến nghị phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự phát huy tác dụng, góp phần vào quá trình xây dựng chính sách, pháp luật công bằng, hiệu quả.
2. Thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên ngày càng có chiều sâu, cụ thể, chặt chẽ, phát huy hiệu quả thiết thực[4], đặc biệt, từ khi ban hành Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTƯMTTQVN ngày 15/6/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP- ĐCTUBTƯMTTQVN).
2.1. Một số kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế
Thứ nhất, bảo đảm yêu cầu sự lãnh đạo của Đảng đối với phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thời gian qua đã và đang được thực hiện nghiêm túc dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua quan điểm: “Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”[5]. Đồng thời, bám sát Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 26/10/2022 của Ban Bí thư về phát huy vai trò, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội (Chỉ thị số 18-CT/TW). Sự lãnh đạo của Đảng tạo cơ sở chính trị quan trọng giúp hoạt động phản biện xã hội được thực hiện đúng định hướng, bảo đảm ổn định chính trị, không đi chệch mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn cho thấy, các ý kiến phản biện cơ bản không đi ngược với cương lĩnh, nghị quyết của Đảng, mà tập trung phát hiện những bất cập trong thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật, mang lại kết quả tích cực[6]. Nhiều kiến nghị phản biện giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời khắc phục hạn chế, tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực thi nhiệm vụ, đồng thời, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.
Tuy nhiên, tại một số địa phương, cấp ủy Đảng chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động phản biện xã hội, dẫn đến triển khai còn hình thức, thiếu chiều sâu. Điều này phản ánh nhận thức của một bộ phận cán bộ về vai trò của phản biện xã hội chưa đầy đủ, làm ảnh hưởng đến chất lượng tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quản lý nhà nước và xã hội[7].
Thứ hai, về bảo đảm yêu cầu dân chủ, đúng đắn, công khai, khách quan, xây dựng và phù hợp.
Tính dân chủ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phản biện xã hội thời gian qua được thể hiện qua việc phát huy trí tuệ của toàn thể Nhân dân, các chuyên gia, nhà khoa học và đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách, pháp luật. Điều này cho thấy, phản biện xã hội không còn là hoạt động nội bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mà từng bước trở thành cơ chế để Nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật và hoạch định chính sách công. Việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức phản biện đối với các dự thảo luật lớn như Luật Di sản văn hóa (sửa đổi), Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn phản ánh xu hướng dân chủ trong quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam.
Về tính đúng đắn, mặc dù, tình trạng một số nội dung phản biện chưa được chuẩn bị kỹ, song, chất lượng phản biện được nâng lên nhờ quá trình nghiên cứu hồ sơ dự thảo, khảo sát thực tiễn và tham vấn nhiều chủ thể khác nhau. Điều này cho thấy, phản biện xã hội đang dần chuyển từ hình thức góp ý khái quát sang phản biện, có cơ sở lý luận và thực tiễn rõ ràng. Đặc biệt, việc lựa chọn phản biện các dự thảo luật liên quan đến quyền và lợi ích của người dân như Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) phản ánh sự chuyển biến trong tư duy phản biện theo hướng lấy người dân làm trung tâm[8].
Về tính công khai, các kết quả phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp sau mỗi lần phản biện cơ bản đều công khai và được Nhân dân đồng tình, ủng hộ, ghi nhận[9]. Qua đó, có thể thấy, cơ chế phản biện xã hội bước đầu có sự tương tác hai chiều giữa Nhà nước với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nhân dân.
Về tính khách quan, xây dựng và phù hợp. Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thời gian qua bảo đảm tính khách quan, xây dựng và phù hợp khi tập trung phát hiện những bất cập trong quá trình xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân[10] . Điều này cho thấy, phản biện xã hội ngày càng phát huy vai trò là cơ chế để Nhân dân tham gia quản lý nhà nước, kiểm soát thực thi quyền lực và bảo đảm dân chủ trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điển hình, trong quá trình phản biện dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) năm 2023, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiếp cận dưới góc độ giới và nhu cầu thực tiễn của người dân, qua đó, kiến nghị hoàn thiện nhiều nội dung liên quan đến mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, trợ cấp thai sản và chế độ hưu trí[11]. Điều này phản ánh xu hướng phản biện xã hội ngày càng gắn với yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân - đặc trưng quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bên cạnh đó, phản biện xã hội được triển khai trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và các quy chế của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là minh chứng bảo đảm phù hợp và thượng tôn pháp luật trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, chất lượng phản biện xã hội chưa đồng đều, còn hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm[12], dẫn đến nhiều ý kiến phản biện còn hình thức, thiên về kỹ thuật lập pháp hơn là phân tích nội dung chính sách, pháp luật[13]. Ngoài ra, việc triển khai các quy định về giám sát, phản biện xã hội ở một số địa phương chưa thường xuyên[14], phản ánh nhận thức và trách nhiệm của một số cấp chính quyền đối với cơ chế dân chủ, phản biện xã hội còn hạn chế. Hệ quả, trong giai đoạn 2018 - 2022, một số địa phương như Lào Cai, Kiên Giang (nay là An Giang), Phú Yên (nay là Đắk Lắk), Yên Bái (nay là Lào Cai) chưa chủ động tổ chức phản biện xã hội ở cấp xã[15].
Thứ ba, về bảo đảm không làm trở ngại các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được phản biện xã hội.
Thực tiễn cho thấy phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không gây cản trở hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được phản biện, ngược lại đã góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nhiều hoạt động phản biện nhận được sự đồng tình, hỗ trợ tích cực của Chính phủ, bộ, ngành và chính quyền địa phương. Điển hình, trong năm 2023, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức Hội nghị phản biện xã hội dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) và dự thảo Luật Việc làm (sửa đổi), góp phần hoàn thiện các chính sách có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động. Qua đó cho thấy, phản biện xã hội ngày càng được khẳng định là thiết chế quan trọng phát huy dân chủ, tăng cường trách nhiệm giải trình, từ đó, đáp ứng đầy đủ yêu cầu trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tuy nhiên, sự phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình thực hiện phản biện xã hội có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, thiếu thường xuyên[16]. Chính quyền một số nơi và một số cơ quan chuyên môn chưa chủ động trong các hoạt động phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; một số nội dung phối hợp còn hình thức, dàn trải, hiệu quả chưa cao. Điều này làm giảm hiệu quả thực chất của cơ chế phản biện xã hội trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật.
Thứ tư, về bảo đảm hiệu lực thực tế của các kiến nghị phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Thực tiễn cho thấy, hiệu lực thực tế của các kiến nghị phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được nâng cao khi nhiều cơ quan nhà nước ngày càng coi trọng ý kiến phản biện trong quá trình xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật. Nhiều địa phương kiên quyết không ban hành, thông qua văn bản khi chưa có ý kiến phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam[17]. Điều này cho thấy, phản biện xã hội đang trở thành yêu cầu quan trọng, bảo đảm tính khách quan, dân chủ và tính khả thi của chính sách, pháp luật. Nhiều kiến nghị phản biện được cơ quan có thẩm quyền tiếp thu, góp phần đưa ra quyết định đúng các vấn đề trong công tác lãnh đạo, quản lý cũng như hoàn thiện chính sách, tăng cường bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong kỷ nguyên mới[18].
Mặc dù vậy, mức độ tiếp thu các ý kiến phản biện của cơ quan chủ trì, soạn thảo chính sách, pháp luật còn hạn chế, tồn tại nhiều ý kiến chưa được giải trình. Công tác theo dõi tiếp thu, giải trình sau khi thực hiện phản biện xã hội tuy được quan tâm nhưng chưa sâu sát. Bên cạnh đó, hiệu lực các kiến nghị phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ yếu mang tính tham khảo, chưa có giá trị ràng buộc pháp lý, dẫn đến khả năng tác động thực chất đến quá trình sửa đổi, điều chỉnh các chính sách, pháp luật còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến vai trò của phản biện xã hội trong phát huy dân chủ, bảo đảm công khai, minh bạch và đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.2. Nguyên nhân của hạn chế
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các hạn chế trên, trong đó có một số nguyên nhân chính sau:
Thứ nhất, nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên, cơ quan nhà nước và Nhân dân về vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phản biện còn hạn chế, chưa đầy đủ.
Thứ hai, pháp luật về phản biện xã hội chưa hoàn thiện nên việc thực hiện còn nhiều vướng mắc, khó khăn, chưa bảo đảm chất lượng. Điển hình, chưa có văn bản hướng dẫn quy định về phản biện xã hội tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015. Điều 6 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025[19] quy định về phản biện xã hội, nhưng chỉ quy định các cơ quan soạn thảo có trách nhiệm tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia phản biện xã hội, chưa phải là trách nhiệm các cơ quan soạn thảo gửi hồ sơ đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để đề nghị phản biện. Hơn nữa, hai văn bản trên đều chưa quy định giá trị pháp lý của văn bản phản biện xã hội, cơ chế tiếp nhận ý kiến phản biện và chế tài đối với việc không tiếp nhận ý kiến phản biện cũng như không giải trình thỏa đáng[20].
Thứ ba, cán bộ làm công tác phản biện còn thiếu về số lượng, năng lực chuyên môn chưa đồng đều dẫn đến việc triển khai các hoạt động chưa bảo đảm tiến độ, chất lượng[21].
Thứ tư, một số địa phương, điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí[22] cho phản biện xã hội còn khó khăn. Việc thu hút sự tham gia của hội đồng tư vấn, các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học phục vụ cho công tác giám sát, phản biện xã hội gặp vướng mắc từ các quy định về nội dung chi, mức chi.
3. Một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Để khắc phục được những khó khăn, bất cập trên, góp phần nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo đó, Đảng cần chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức Đảng phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT- UBTVQH14-CP-ĐCTUBTƯMTTQVN, Chỉ thị số 18-CT/TW nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong thực hiện quyền và trách nhiệm phản biện xã hội trong thực tiễn[23]. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, giám sát của các cấp ủy Đảng đối với hoạt động phản biện xã hội.
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo đó, cần rà soát, bổ sung các quy định về giá trị pháp lý đối với cơ chế tiếp nhận ý kiến phản biện và chế tài đối với việc không tiếp nhận ý kiến phản biện cũng như không giải trình thỏa đáng nhằm nâng cao hiệu lực thực tế của kiến nghị phản biện tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.
Thứ ba, nâng cao nhận thức, năng lực chuyên môn của các chủ thể trực tiếp thực hiện phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo đó, cần tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng phản biện xã hội cho đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên nhằm nâng cao năng lực phân tích, tổng hợp, xây dựng ý kiến phản biện khoa học, khách quan và thuyết phục.
Thứ tư, đổi mới hình thức, nội dung phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đa dạng hóa hình thức phản biện, toàn diện hóa nội dung, tăng cường vai trò chủ trì và phối hợp, phát huy vai trò của Nhân dân, đổi mới phương pháp tổ chức, tăng cường công khai minh bạch và xây dựng các mô hình hiệu quả giúp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy tối đa vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Thứ năm, hoàn thiện tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, nâng cao chất lượng cán bộ phản biện xã hội. Cần tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp theo hướng tinh, gọn, giảm bớt các đầu mối trung gian không cần thiết, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý, tránh trùng lặp, chồng chéo. Cụ thể, thực hiện cần sắp xếp tổ chức bộ máy cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể cấp tỉnh, cấp xã theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, theo đó, hợp nhất cơ quan tham mưu, giúp việc về chung với cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh; giữ nguyên tư cách pháp nhân của các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng nhưng bảo đảm tính chủ động, sáng tạo của mỗi tổ chức.
Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế phối hợp, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong thực hiện kết quả phản biện xã hội. Để nâng cao hiệu quả phối hợp, cần xây dựng và hoàn thiện các quy chế phối hợp công tác cụ thể, rõ ràng, phân định trách nhiệm, quyền hạn của từng bên trong từng lĩnh vực hoạt động phản biện xã hội. Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế giám sát thực hiện các kiến nghị phản biện, bảo đảm các kiến nghị được các cơ quan Nhà nước tiếp thu, giải trình và xử lý nghiêm túc, minh bạch.
Thứ bảy, bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí, thông tin phục vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo đó, cần có cơ chế phân bổ kinh phí rõ ràng, ổn định, bảo đảm nguồn tài chính cho các hoạt động khảo sát, nghiên cứu, tổ chức hội nghị và bồi dưỡng cán bộ. Bên cạnh đó, cần đầu tư trang bị các phòng họp hiện đại, trang thiết bị âm thanh, ánh sáng, ghi hình, kết nối internet tốc độ cao để tổ chức hội nghị, tọa đàm, đối thoại trực tiếp hoặc trực tuyến với các cơ quan, tổ chức và Nhân dân.
Kết luận
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có tác động trực tiếp đến hiệu quả tham gia của Nhân dân trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Thực tiễn cho thấy phản biện xã hội ngày càng có chiều sâu, từng bước khẳng định vai trò trong phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội và đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, để phản biện xã hội thực sự trở thành công cụ hiệu quả trong quản trị quốc gia, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý, nâng cao chất lượng chủ thể phản biện và bảo đảm hiệu lực thực tế của các kiến nghị phản biện trong thời gian tới.
ThS. Nguyễn Hải Anh
Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực 1
Ảnh: Internet
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.182-183.
[2]. TS. Lê Thị Thiều Hoa (2023), Phản Biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
[3]. Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2015, Hệ thống quản lý chất lượng - cơ sở và từ vựng, Điều 3.6.2.
[4]. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT ngày 10/11/2023, Báo cáo Sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTƯMTTQVN ngày 15/6/2017 quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tr.16.
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. I, tr.190.
[6]. Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Dự thảo Báo cáo của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa IX, tháng 10/2024, nhiệm kỳ 2024 - 2029, Nâng cao vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, phát huy dân chủ, truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh, nhân dân ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, tr.13.
[7]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.18.
[8]. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Báo cáo số 800/BC-MTTW-BTT ngày 19/01/2024, Báo cáo về kết quả thực hiện công tác giám sát và phản biện xã hội năm 2023, phương hướng, nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội năm 2024 của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tr.23.
[9]. Báo cáo số 800/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.23.
[10]. Báo cáo số 800/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.22.
[11]. Báo cáo số 800/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.19.
[12]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.18.
[13]. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Báo cáo số 43/BC-MTTW-BTT ngày 21/01/2025, Báo cáo về kết quả thực hiện công tác giám sát và phản biện xã hội năm 2024, phương hướng, nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội năm 2025 của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tr.20.
[14]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.18.
[15]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, Phụ lục 3.
[16]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.20.
[17]. Báo cáo số 800/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.24.
[18]. Đối với dự thảo Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn, cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp thu các kiến nghị về các quy định về quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân; về nguồn lực trong xây dựng, quản lý và triển khai quy hoạch; về vai trò của Mặt trận Tổ quóc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận. Đối với dự thảo Luật Phòng, chống mua bán người (sửa đổi), các ý kiến phản biện của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam về (i) bổ sung chuyển tuyến người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, nạn nhân đến cơ sở hỗ trợ nạn nhân/Trung tâm trợ giúp xã hội; (ii) bổ sung trách nhiệm của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tham gia phòng, chống mua bán người, chăm sóc, hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân đã được tiếp thu và đề cập trong Luật hiện hành.
[19]. Được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15.
[20]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.19.
[21]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.20.
[22]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.19.
[23]. Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT, tlđd, tr.21.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Báo cáo số 753/BC-MTTW-BTT ngày 10/11/2023, Báo cáo Sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết liên tịch số 403/2017 NQLT-UBTVQH14-CP- ĐCTUBTƯMTTQVN ngày 15/6/2017 quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại điểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I.
4. GS.TS. Nguyễn Minh Đoan (2011), Bàn thêm về phản biện xã hội ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 3/2011.
5. Nguyễn Văn Pha (2013), Một số vấn đề về hoạt động góp ý, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác xây dựng pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
6. PGS.TS. Nguyễn Văn Động (2011), Phản biện xã hội - nhìn từ góc độ, Tạp chí Luật học.
7. TS. Hồ Bá Thâm, CN. Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (đồng chủ biên, 2010), Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền, Nxb. Chính trị Quốc gia.
8. TS. Lê Thị Thiều Hoa (2023), Phản Biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
9. TS. Nguyễn Thọ Ánh (2012), Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
10. Vũ Hoàng Công (2023), Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, Tạp chí Lý luận chính trị.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (455) tháng 6/2026)