Thứ tư 23/09/2026 05:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: phổ biến, giáo dục pháp luật; viên chức; cơ sở giáo dục công lập; hoàn thiện pháp luật.

Đặt vấn đề

Phổ biến, giáo dục pháp luật là cầu nối đưa pháp luật vào đời sống, là bộ phận hữu cơ của công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Nghị quyết số 66-NQ/TW[1] đặt mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, công khai, minh bạch, khả thi, gắn với cơ chế thực hiện nghiêm minh. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định đột phá về thể chế và thực thi là một trong ba đột phá chiến lược[2]. Theo đó, phổ biến, giáo dục pháp luật cần được đổi mới cả về tư duy và phương thức, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.

Trong các chủ thể của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, gồm nhà giáo, viên chức quản lý và viên chức hỗ trợ giáo dục giữ vị trí đặc thù, vừa là đối tượng cần được phổ biến, giáo dục pháp luật để tuân thủ pháp luật trong hoạt động nghề nghiệp, vừa là chủ thể trực tiếp giáo dục pháp luật cho người học. Vì thế, chất lượng phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nhóm này ảnh hưởng sâu rộng đến việc hình thành văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội[3].

Sau 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã bộc lộ nhiều bất cập, đòi hỏi phải được sửa đổi. Yêu cầu này càng cấp thiết trong bối cảnh các đạo luật về giáo dục có hiệu lực từ ngày 01/01/2026[4], Luật Viên chức năm 2025 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, cùng yêu cầu chuyển đổi số và mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đáp ứng yêu cầu đó, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[5] (dự thảo Luật) gồm 05 chương, 39 điều, mở rộng phạm vi điều chỉnh gồm hoạt động truyền thông chính sách; dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luậ Phổ biến, giáo dục pháp luật[6] (dự thảo Nghị định) gồm 09 chương, 75 điều, quy định chi tiết 14 điều của dự thảo Luật. Nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành trên cơ sở so sánh với hai dự thảo trên, dựa trên số liệu và đánh giá chính thức tại Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[7], từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện.

1. Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập phải dựa trên cơ sở lý luận, trong đó, cần xây dựng khái niệm, đặc trưng, nội dung điều chỉnh cùng các tiêu chí, yêu cầu hoàn thiện của bộ phận pháp luật này.

1.1. Khái niệm và đặc trưng của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Để xác định nội hàm của bộ phận pháp luật này, trước hết, cần làm rõ khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật với tư cách là hoạt động pháp lý. Trong khoa học pháp lý Việt Nam, phổ biến, giáo dục pháp luật được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Các nghiên cứu về giáo dục pháp luật nhấn mạnh, giáo dục pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, theo nội dung và thông qua những phương pháp, hình thức nhất định từ phía chủ thể giáo dục pháp luật, tác động đến đối tượng tiếp nhận nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức pháp luật, trình độ hiểu biết về pháp luật, đồng thời, hình thành tình cảm, thói quen và hành vi xử sự tích cực theo pháp luật[8]. Một số nghiên cứu chỉ ra, ý thức pháp luật là kết quả của quá trình giáo dục pháp luật, là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành[9]. Nghiên cứu về giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức ở Việt Nam cho thấy, tính đặc thù của giáo dục pháp luật khi áp dụng cho đối tượng đang giữ vị trí trong bộ máy nhà nước[10].

Tại Nhật Bản, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được hiểu là hoạt động tuyên truyền, giúp những người bình thường không phải là chuyên gia pháp lý có thể hiểu được luật pháp, hệ thống tư pháp và các giá trị nền tảng của chúng, đồng thời, có được tư duy pháp lý[11]. Bên cạnh đó, khái niệm năng lực hiểu biết pháp luật ngày càng được nghiên cứu sâu rộng trong lĩnh vực giáo dục. Theo đó, năng lực hiểu biết pháp luật của nhân viên trường học là tổng hòa kiến thức, sự hiểu biết và kỹ năng cho phép họ vận dụng các quy phạm pháp luật vào thực tiễn nghề nghiệp hằng ngày[12]. Cách tiếp cận này cho thấy, đối với đội ngũ làm việc trong môi trường giáo dục, mục tiêu của phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ là trang bị tri thức, mà còn hướng tới năng lực vận dụng pháp luật trong hoạt động nghề nghiệp.

Trên cơ sở kế thừa các quan điểm trên, có thể xác định: phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền nhằm truyền đạt thông tin, tri thức pháp luật cho nhóm chủ thể này, qua đó, hình thành ý thức tôn trọng, tuân thủ, sử dụng và áp dụng pháp luật trong hoạt động nghề nghiệp, đồng thời, trang bị năng lực để họ truyền tải kiến thức pháp luật đến người học.

Trên cơ sở quan niệm pháp luật là “hệ thống quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của Nhà nước”[13], có thể hiểu: pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật mà đối tượng được phổ biến, giáo dục là viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập.

Là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, bên cạnh các đặc điểm chung, pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập có những đặc trưng riêng xuất phát từ tính đặc thù của đối tượng được phổ biến, giáo dục.

Thứ nhất, có tính chuyên biệt về đối tượng điều chỉnh. Đối tượng hướng tới của các quy phạm pháp luật này là viên chức đang làm việc tại các cơ sở giáo dục công lập. Đây là nhóm chủ thể vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức, vừa trực tiếp tham gia hoạt động giáo dục, quản lý và phục vụ giáo dục. Vì vậy, yêu cầu về nhận thức và thực hiện pháp luật có tính đặc thù.

Thứ hai, có nội dung gắn với hoạt động nghề nghiệp và môi trường giáo dục. Nội dung phổ biến, giáo dục không chỉ gồm các quy định pháp luật chung, mà còn tập trung vào quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm nghề nghiệp, đạo đức công vụ, kỷ luật và các quy định liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức.

Thứ ba, hướng tới nâng cao năng lực thực hiện pháp luật. Hoạt động này không chỉ nhằm cung cấp kiến thức pháp luật, mà còn giúp viên chức biết vận dụng pháp luật trong quá trình công tác, góp phần xây dựng đội ngũ có ý thức trách nhiệm và tác phong nghề nghiệp.

Thứ tư, gắn với cơ chế quản lý viên chức. Các quy định về chủ thể thực hiện, hình thức, nội dung và trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật được đặt trong mối quan hệ với hoạt động quản lý, sử dụng viên chức của cơ sở giáo dục công lập. Đặc điểm này bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ hỗ trợ nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng thực hiện nhiệm vụ của viên chức.

1.2. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Nội dung điều chỉnh phản ánh thành tố chung của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và đặc điểm nghề nghiệp đặc thù của đối tượng, thể hiện qua các nhóm quy phạm:

(i) Nhóm quy phạm về mục tiêu, yêu cầu và nguyên tắc, xác định mục tiêu kép (nâng cao ý thức tự giác tuân thủ pháp luật, củng cố đạo đức nghề nghiệp, kỷ cương và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong nhà trường) cùng các nguyên tắc đặc trưng: chính xác, thường xuyên, liên tục; phù hợp đặc điểm nghề nghiệp; gắn với hoạt động chuyên môn; ứng dụng chuyển đổi số.

(ii) Nhóm quy phạm về chủ thể, phân định địa vị pháp lý của chủ thể tổ chức, thực hiện (cơ quan tư pháp, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, người đứng đầu cơ sở giáo dục công lập và đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật) và chủ thể được phổ biến, giáo dục pháp luật là viên chức, có quyền tiếp cận, học tập pháp luật và nghĩa vụ chủ động tìm hiểu, gương mẫu chấp hành.

(iii) Nhóm quy phạm về nội dung, gồm pháp luật chung và các nhóm nội dung đặc thù gắn với nghề nghiệp: pháp luật về viên chức, phòng, chống tham nhũng; pháp luật chuyên ngành giáo dục và quy chế chuyên môn; đạo đức nhà giáo, quy tắc ứng xử; pháp luật về quyền trẻ em, quyền người học và phòng, chống bạo lực học đường.

(iv) Nhóm quy phạm về hình thức và phương pháp, theo hướng đa dạng, lồng ghép trong sinh hoạt nghề nghiệp, kết hợp truyền thống với hiện đại trên nền tảng số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và khuyến khích tự nghiên cứu, tự cập nhật pháp luật.

(v) Nhóm quy phạm về trách nhiệm và cơ chế phối hợp, quy định rõ tính bắt buộc của hoạt động, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, người đứng đầu cơ sở giáo dục công lập và cơ chế phối hợp liên ngành.

(vi) Nhóm quy phạm về các điều kiện bảo đảm, gồm tổ chức bộ máy, nhân lực, kinh phí, cơ sở vật chất, tài liệu và ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.

(vii) Nhóm quy phạm về quản lý nhà nước, kiểm tra, đánh giá và xử lý vi phạm, gồm nội dung quản lý nhà nước, công cụ và tiêu chí đánh giá hiệu quả, hoạt động kiểm tra, sơ kết, tổng kết và chế tài đối với hành vi vi phạm.

1.3. Mục tiêu, yêu cầu và tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích của các chủ thể có thẩm quyền nhằm sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới các quy phạm, làm cho bộ phận pháp luật này ngày càng đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi và đạt trình độ kỹ thuật lập pháp cao. Theo Nghị quyết số 27-NQ/TW[14], hệ thống pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần bảo đảm “dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, được thực hiện nghiêm minh và nhất quán”.

Trên cơ sở đó, mức độ hoàn thiện của bộ phận pháp luật này được đánh giá qua 05 tiêu chí[15]: (i) tính toàn diện: đủ các nhóm quy phạm, không để khoảng trống đối với đối tượng đặc thù; (ii) tính thống nhất, đồng bộ: không mâu thuẫn, chồng chéo giữa Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với các luật liên quan và bảo đảm thứ bậc hiệu lực; (iii) tính phù hợp và khả thi: tương thích với điều kiện kinh tế - xã hội, chủ trương của Đảng và có cơ chế thực hiện đi kèm; (iv) ngôn ngữ và kỹ thuật lập pháp: chính xác, rõ ràng, logic, đơn nghĩa; (v) tính hiệu quả: đạt mục tiêu chính sách với chi phí hợp lý, được xã hội tiếp nhận[16].

Trong kỷ nguyên mới gắn với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, chuyển đổi số và đổi mới căn bản giáo dục, bộ phận pháp luật này cần đáp ứng các yêu cầu cơ bản: (i) thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng tại các Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW[17] và Nghị quyết số 71-NQ/TW[18]; (ii) bảo đảm tính đặc thù của chủ thể, khắc phục tình trạng điều chỉnh khái quát, gắn nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật với đạo đức nghề nghiệp, pháp luật chuyên ngành giáo dục và quyền người học; (iii) đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, tạo cơ sở pháp lý cho phổ biến, giáo dục pháp luật trên nền tảng số, Cổng Pháp luật quốc gia, tương thích với pháp luật về dữ liệu cá nhân, an ninh mạng; (iv) bảo đảm tính khả thi và nguồn lực thực hiện, gắn với điều kiện về tổ chức, đội ngũ, kinh phí và lồng ghép trong chương trình bồi dưỡng viên chức; (v) phù hợp với điều ước, thông lệ quốc tế và bảo đảm tính ổn định gắn với khả năng dự báo.

2. Thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập hiện được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, một số quy định đã bộc lộ những bất cập sau:

2.1. Thực trạng nhóm quy phạm về mục tiêu, yêu cầu và nguyên tắc

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định chính sách của Nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật (Điều 3) và 05 nguyên tắc phổ biến, giáo dục pháp luật (Điều 5), được cụ thể hóa tại Nghị định số 28/2013/NĐ-CP[19]. Đây là khung nguyên tắc chung tương đối đầy đủ, nhưng khi áp dụng đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập đã bộc lộ hai hạn chế.

Thứ nhất, thiếu mục tiêu, nguyên tắc riêng phản ánh vai trò “kép” của nhà giáo, làm cho hoạt động dễ bị coi là nghĩa vụ hành chính thuần túy, thay vì gắn với chức năng nghề nghiệp.

Thứ hai, các nguyên tắc tại Điều 5 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 được xây dựng trước yêu cầu chuyển đổi số nên chưa ghi nhận ứng dụng công nghệ số là nguyên tắc nền tảng. Theo đó, Luật chưa quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật, trong khi hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số đã và đang được các bộ, ngành, địa phương triển khai để đáp ứng nhu cầu tiếp cận pháp luật của người dân[20]. Vì vậy, định hướng đẩy mạnh chuyển đổi số tại Kết luận số 80-KL/TW[21] và Nghị quyết số 66-NQ/TW chưa có cơ sở pháp lý đầy đủ để thể chế hóa. Dự thảo Luật đã khắc phục cơ bản hạn chế này, khi khoản 5 Điều 3 và khoản 2 Điều 5 ghi nhận chính sách, nguyên tắc đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng AI, còn khoản 3 Điều 5 quy định nguyên tắc gắn kết xây dựng với tổ chức thi hành pháp luật; dự thảo Nghị định cụ thể hóa tại Điều 19 về phổ biến, giáo dục pháp luật trên nền tảng số. Tuy nhiên, các nguyên tắc này vẫn mang tính khái quát chung, chưa phản ánh vai trò “kép” của nhà giáo.

2.2. Thực trạng nhóm quy phạm về chủ thể

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã thiết lập mạng lưới chủ thể tương đối đầy đủ: quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật (Điều 6), Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật (Điều 7), trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo (khoản 2 Điều 25), cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức (Điều 28), cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân (Điều 31), cán bộ, công chức, viên chức (Điều 34) và báo cáo viên pháp luật (các điều 35, 36 và 37). Tuy nhiên, Điều 31 chỉ xác định cơ sở giáo dục là chủ thể giáo dục pháp luật cho người học mà chưa thừa nhận viên chức là đối tượng cần được phổ biến, giáo dục pháp luật. Việc bồi dưỡng pháp luật cho công chức, viên chức hiện được lồng ghép trong chương trình bồi dưỡng chung hằng năm, song kiến thức pháp luật của đội ngũ này, nhất là ở cấp cơ sở, còn hạn chế; Luật chưa quy định và phân định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong công tác giáo dục pháp luật[22].

Bên cạnh đó, tiêu chuẩn báo cáo viên pháp luật tại Điều 35 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đòi hỏi trình độ chuyên môn về pháp luật, chưa phù hợp với đội ngũ viên chức ngành Giáo dục có năng lực sư phạm nhưng không được đào tạo chuyên ngành luật. Quy định về báo cáo viên pháp luật còn giới hạn trong phạm vi cán bộ, công chức, viên chức và sĩ quan lực lượng vũ trang, chưa thu hút rộng rãi chuyên gia, nhà khoa học, luật sư, luật gia; thẩm quyền công nhận, miễn nhiệm chưa phù hợp với chủ trương phân cấp, phân quyền và mô hình chính quyền địa phương hai cấp[23]. Cả nước hiện có 10.655 báo cáo viên pháp luật (trung ương 2.486, cấp tỉnh 8.169) và 144.538 tuyên truyền viên cấp xã, song hoạt động của đội ngũ này chưa đồng đều, còn hình thức[24].

Dự thảo Luật đã khắc phục bất cập về thẩm quyền khi giao việc lựa chọn, công bố danh sách báo cáo viên pháp luật cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp xã, bên cạnh người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan trung ương của một số tổ chức (khoản 2 Điều 33); đồng thời, tổ chức lại Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, theo đó, Hội đồng ở bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương và Hội đồng cấp xã chỉ thành lập khi cần thiết (các khoản 2, 3 và 4 Điều 7). Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa xác định viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là nhóm đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật độc lập: Điều 19 và Điều 20 chỉ điều chỉnh giáo dục pháp luật cho người học; trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức chỉ được ghi nhận gián tiếp tại khoản 5 Điều 24 và chưa được cá biệt hóa cho người đứng đầu cơ sở giáo dục công lập. Dự thảo Nghị định cùng hướng tiếp cận: Chương V quy định chi tiết Điều 19 và Điều 20 dự thảo Luật nhưng đối tượng thụ hưởng là người học; khoản 4 Điều 45 xác định bốn nhóm nhiệm vụ của người đứng đầu cơ sở giáo dục (tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện; bố trí giáo viên, giảng viên dạy pháp luật; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo) đều gắn với người học, không có nhiệm vụ nào đối với đội ngũ viên chức thuộc quyền quản lý. Ngược lại, Điều 32 dự thảo Luật kế thừa và mở rộng Điều 34 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 về trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật và lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật qua hoạt động chuyên môn, song đây là quy định chung đối với mọi viên chức, không phân hóa theo đặc thù ngành Giáo dục. Về kênh huy động tại chỗ, khoản 1 Điều 57 dự thảo Nghị định chỉ trao quyền lựa chọn báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh cho cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và một số cơ quan cấp tỉnh khác; cơ sở giáo dục công lập không thuộc nhóm này.

2.3. Thực trạng nhóm quy phạm về nội dung

Điều 10 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó có đề cập quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ, công chức; Điều 23 quy định nội dung giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân nhưng chỉ hướng tới người học; Nghị định số 28/2013/NĐ-CP chưa bổ sung nội dung riêng đối với viên chức ngành Giáo dục. Cách tiếp cận theo trục “công dân - người học” tạo khoảng trống pháp lý đối với viên chức, khi thiếu các nội dung gắn với nghề nghiệp như đạo đức nhà giáo, quyền trẻ em, phòng, chống bạo lực học đường và trách nhiệm pháp lý trong hoạt động giáo dục; đồng thời, chưa thống nhất với Luật Viên chức năm 2025, Luật Giáo dục năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Trẻ em năm 2016 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025[25]. Một số quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 thiếu đồng bộ, còn chồng chéo với các quy định trong lĩnh vực giáo dục, tài chính, ngân sách, tiếp cận thông tin, như trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại khoản 2 Điều 25[26]; đồng thời, đánh giá quy định về nội dung và hình thức giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới theo hướng thực chất, lấy người học làm trung tâm theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW[27].

Khoảng trống này chưa được dự thảo Luật khắc phục: Điều 10 quy định nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng khái quát, không còn quy định riêng về quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ, công chức; Điều 19 tiếp tục gắn nội dung giáo dục pháp luật với người học. Dự thảo Nghị định bổ sung Điều 68 về nội dung bồi dưỡng pháp luật cho công chức, viên chức với 07 nhóm nội dung và yêu cầu tối thiểu 10% tổng thời lượng chương trình bồi dưỡng hằng năm (khoản 2 Điều 68). Tuy nhiên, danh mục này được thiết kế theo trục công vụ chung, không có nhóm nội dung đặc thù của ngành Giáo dục như đạo đức nhà giáo, quy tắc ứng xử, quyền trẻ em, quyền người học hay phòng, chống bạo lực học đường; các nội dung này chỉ có thể được đưa vào qua điểm g khoản 1 và khoản 2 Điều 68 - những quy định có tính chất quét, trao quyền tự quyết cho từng cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, Điều 10 dự thảo Luật không thuộc phạm vi được quy định chi tiết theo Điều 1 dự thảo Nghị định, nên không có cơ sở pháp lý để phân hóa nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật theo nhóm đối tượng; việc phân hóa hiện chỉ thực hiện được trong phạm vi các điều đã được ủy quyền là Điều 17, Điều 18 và Điều 36 dự thảo Luật.

2.4. Thực trạng nhóm quy phạm về hình thức và phương pháp

Điều 11 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định 08 nhóm hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, Điều 13 quy định việc đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử, Điều 28 yêu cầu kết hợp phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn. Sau 13 năm thi hành, các hình thức này đã đạt được nhiều kết quả: toàn quốc đã tổ chức 3.602.879 cuộc phổ biến, giáo dục pháp luật trực tiếp cho 492.668.870 lượt người, biên soạn và cấp phát miễn phí 277.109.631 tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật[28]; số hóa, đăng tải 17.866.651 tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật và Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật đã cập nhật 153.491 văn bản quy phạm pháp luật cùng 1.954 văn bản hợp nhất tính đến tháng 3/2026[29]; Cổng Pháp luật quốc gia chính thức đưa vào vận hành từ ngày 31/5/2025[30].

Tuy nhiên, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định các hình thức có tính truyền thống, trong khi việc áp dụng các hình thức hiện đại, tiên tiến chưa được xác lập cụ thể, làm hạn chế việc bố trí nguồn lực cũng như chính sách, cơ chế để tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong phổ biến, giáo dục pháp luật[31]; trên thực tế, việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác này còn chậm[32]. Hạn chế của các hình thức luật định cũng đã được chỉ ra trong nghiên cứu về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các nhóm đối tượng đặc thù khác[33]. Đối với viên chức ngành Giáo dục, khoảng trống ở việc chưa thể chế hóa các phương thức trên nền tảng số như học liệu mở, khóa học trực tuyến hay tự nghiên cứu, vốn phù hợp với quỹ thời gian và đặc điểm lao động của đội ngũ này.

Dự thảo Luật đã bổ sung các hình thức hiện đại (khoản 1, khoản 2 và khoản 7 Điều 11; Điều 13) và tiếp tục ghi nhận yêu cầu lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp tại khoản 2 Điều 32, song chưa ghi nhận cơ chế tự nghiên cứu, tự cập nhật pháp luật và việc công nhận kết quả đó trong đánh giá viên chức. Dự thảo Nghị định chưa khắc phục khoảng trống này: khoản 1 Điều 69 liệt kê 06 hình thức lồng ghép bồi dưỡng pháp luật nhưng không có hình thức tự nghiên cứu; điểm e khoản 1 Điều 19 mới dừng ở khuyến khích xây dựng, vận hành nền tảng học tập pháp luật trực tuyến, chưa gắn kết quả học tập trên nền tảng đó với đánh giá viên chức; điểm c khoản 1 Điều 70 chỉ yêu cầu đánh giá kết quả tiếp thu, vận dụng kiến thức pháp luật trong thực thi công vụ.

2.5. Thực trạng nhóm quy phạm về trách nhiệm và cơ chế phối hợp

Hệ thống trách nhiệm theo chiều dọc gắn với Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế phối hợp theo chiều ngang theo Thông tư liên tịch số 30/2010/TTLT-BGDĐT-BTP[34] cơ bản đã được thiết lập, song còn bộc lộ một số bất cập sau:

Thứ nhất, trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục chưa được quy định cụ thể; hoạt động bồi dưỡng pháp luật mới được thiết kế cho giáo viên môn Giáo dục công dân, chưa bao quát các nhóm viên chức khác. Từ khi Chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho giáo viên dạy môn Giáo dục công dân được ban hành năm 2014[35] đến nay, cả nước có 1.856 giáo viên trung học cơ sở và 263 giáo viên trung học phổ thông được bồi dưỡng theo chương trình[36]. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa ý thức được trách nhiệm lồng ghép hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực thi công vụ, chưa thường xuyên trau dồi kiến thức pháp luật[37].

Thứ hai, sau gần 16 năm thi hành, Thông tư liên tịch số 30/2010/TTLT- BGDĐT- BTP đã không còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn: (i) đối tượng phối hợp chủ yếu hướng tới người học, chưa xác định viên chức ngành Giáo dục là nhóm đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật độc lập; (ii) căn cứ pháp lý đã thay đổi nhưng nội dung chưa được rà soát, cập nhật thống nhất với Luật Nhà giáo năm 2025 và yêu cầu chuyển đổi số; (iii) mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 chấm dứt hoạt động của Phòng Tư pháp và Phòng Giáo dục và Đào tạo, nên không còn cơ chế phối hợp ở cấp huyện; (iv) chế độ giao ban, kiểm tra, sơ kết, tổng kết liên ngành theo Điều 8 chưa được thực hiện thường xuyên. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp, địa phương theo cả chiều ngang và chiều dọc tại nhiều nơi chưa được coi trọng, hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tại một số bộ, ngành, địa phương còn mang tính hình thức và một số trường hợp coi là nhiệm vụ của riêng ngành Tư pháp[38].

Thứ ba, mặc dù Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã thể chế hóa trách nhiệm truyền thông chính sách của cơ quan chủ trì soạn thảo, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chưa có quy định tương ứng[39]. Hạn chế này đã được dự thảo Luật khắc phục khi đưa truyền thông chính sách vào phạm vi điều chỉnh và quy định tại Mục 4 Chương II (Điều 21 về mục đích, nội dung, hình thức; Điều 22 về trách nhiệm thực hiện, trong đó, điểm b khoản 1 xác định cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm chủ trì truyền thông chính sách). Về phối hợp liên ngành, dự thảo Nghị định bổ sung Điều 46 quy định trách nhiệm phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp; tuy nhiên, điều này chỉ điều chỉnh giáo dục pháp luật cho người học, không đề cập phổ biến, giáo dục pháp luật cho viên chức và chưa xác định cơ chế phối hợp ở cấp sở, cho thấy cần sửa đổi, thay thế Thông tư liên tịch số 30/2010/TTLT-BGDĐT-BTP.

2.6. Thực trạng nhóm quy phạm về các điều kiện bảo đảm

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 thiết lập các điều kiện bảo đảm thông qua quy định về xã hội hóa (Điều 4), bảo đảm tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất, phương tiện (Điều 38) và kinh phí (Điều 39). Giai đoạn 2022 - 2025, cả nước bố trí hơn 3.714 tỷ đồng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trong khi kinh phí từ nguồn xã hội hóa trung bình chỉ chiếm khoảng 5 - 8%[40]. Tuy nhiên, Điều 38 và Điều 39 chưa cập nhật yêu cầu bảo đảm hạ tầng số. Quy định ngân sách trung ương hỗ trợ kinh phí cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách không được triển khai trên thực tế, thiếu tính khả thi do chưa thống nhất với Luật Ngân sách nhà nước; đồng thời, còn thiếu quy định ưu tiên nguồn lực tương xứng theo yêu cầu của Nghị quyết số 66-NQ/TW[41].

Dự thảo Luật đã xử lý một phần khi khoản 3 Điều 36 quy định kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật do ngân sách nhà nước bảo đảm và huy động từ các nguồn hợp pháp khác, ưu tiên nguồn lực tương xứng cho các đối tượng đặc thù. Dự thảo Nghị định cụ thể hóa tại Điều 66 và Điều 71, theo đó, chế độ chi, định mức chi tiếp tục do Bộ Tài chính chủ trì xây dựng, sửa đổi, bổ sung (điểm a khoản 5 Điều 71); tuy nhiên, chưa quy định định mức tối thiểu hoặc cơ chế tài chính riêng cho cơ sở giáo dục công lập và chưa quy định chuẩn hạ tầng số tối thiểu. Thông tư số 56/2023/TT-BTC bộc lộ hạn chế khi định mức chi thấp và chưa bao quát các khoản chi phục vụ chuyển đổi số; chế độ, chính sách cho báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật còn thấp nên chưa huy động được những người có trình độ tham gia[42].

2.7. Thực trạng nhóm quy phạm về quản lý nhà nước, kiểm tra, đánh giá và xử lý vi phạm

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định 07 nội dung quản lý nhà nước (Điều 6) và 04 nhóm hành vi bị cấm (Điều 9). Trong 13 năm thi hành, ở trung ương đã có hơn 8.000 văn bản hành chính được ban hành để chỉ đạo, hướng dẫn, triển khai công tác này[43], cho thấy pháp luật hiện hành vẫn thiên về chỉ đạo hành chính, trong khi cơ chế đánh giá hiệu quả và xử lý vi phạm còn hạn chế. Chủ thể và nội dung quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định hiện hành chưa phù hợp, một số nội dung chưa đầy đủ và một số quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp[44]. Bên cạnh đó, Điều 9 chỉ liệt kê hành vi bị cấm mà chưa gắn với chế tài, nên hành vi không tổ chức hoặc tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật mang tính hình thức hầu như không bị xử lý; bộ tiêu chí kèm theo Thông tư số 03/2018/TT-BTP[45] được thiết kế chung cho bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chưa có tiêu chí riêng cho cơ sở giáo dục công lập.

Dự thảo Luật đã bổ sung Điều 37 về đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và khoản 6 Điều 9 nghiêm cấm hành vi không thực hiện đúng trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật, song không liệt kê nội dung quản lý nhà nước mà giao Chính phủ quy định chi tiết (Điều 6) và chưa thiết kế chế tài tương ứng. Dự thảo Nghị định quy định chi tiết Điều 37 tại Điều 72 và Điều 73, theo đó, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành công cụ, tiêu chí chung, còn bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành tiêu chí riêng (khoản 1 và khoản 2 Điều 73), nhưng không trực tiếp dự liệu tiêu chí đánh giá đối với cơ sở giáo dục công lập và chưa quy định biện pháp xử lý đối với hành vi bị nghiêm cấm tại khoản 6 Điều 9 dự thảo Luật.

3. Quan điểm, mục tiêu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Việc hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập cần quán triệt các quan điểm: thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW và Kết luận số 09-KL/TW[46], đồng thời, lấy đặc thù của đối tượng và yêu cầu chuyển đổi số làm trọng tâm. Mục tiêu là xây dựng khung pháp luật toàn diện, đồng bộ, khả thi, bảo đảm viên chức ngành Giáo dục vừa tuân thủ pháp luật trong hoạt động nghề nghiệp, vừa thực hiện tốt vai trò giáo dục pháp luật đối với người học. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của dự thảo Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành theo 07 nhóm quy phạm.

Thứ nhất, hoàn thiện nhóm quy phạm về mục tiêu, yêu cầu và nguyên tắc.

Khoản 4 Điều 3 dự thảo Luật đã bổ sung chính sách bồi dưỡng pháp luật cho công chức, viên chức; khoản 2 Điều 36 quy định việc bồi dưỡng này được lồng ghép và ưu tiên trong chương trình bồi dưỡng hằng năm, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm. Tuy nhiên, các quy định này mới nhìn nhận viên chức với tư cách người tiếp nhận; cần bổ sung vào khoản 4 Điều 3 hoặc dự thảo Nghị định cần quy định nội dung trang bị đồng thời năng lực tiếp nhận và năng lực giáo dục pháp luật cho người học; đồng thời, cụ thể hóa nguyên tắc phân hóa theo đối tượng (khoản 2 Điều 5) và nguyên tắc gắn với vị trí việc làm (khoản 2 Điều 36) thành yêu cầu riêng đối với phổ biến, giáo dục pháp luật nội bộ tại cơ sở giáo dục công lập trong văn bản quy định chi tiết.

Thứ hai, hoàn thiện nhóm quy phạm về chủ thể.

Cần cá biệt hóa trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục công lập trong xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật nội bộ và bảo đảm nguồn lực thực hiện, theo đó, bổ sung vào Điều 20 dự thảo Luật hoặc dự thảo Nghị định cần quy định về trách nhiệm của cơ sở giáo dục đối với đội ngũ viên chức thuộc quyền quản lý, bên cạnh trách nhiệm giáo dục pháp luật cho người học; trên cơ sở khoản 4 Điều 20 dự thảo Luật, nội dung này cần được cụ thể hóa tại Điều 45 dự thảo Nghị định. Về huy động nhà giáo, điểm c khoản 1 Điều 33 dự thảo Luật yêu cầu báo cáo viên pháp luật phải có trình độ cử nhân luật và ít nhất 02 năm công tác trong lĩnh vực pháp luật hoặc cử nhân khác và ít nhất 03 năm công tác liên quan đến pháp luật - tiêu chuẩn mà phần lớn nhà giáo được đào tạo chuyên ngành sư phạm khó đáp ứng. Trong khi đó, Điều 35 dự thảo Luật cho phép mời chuyên gia, người có trình độ chuyên môn tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật mà không đòi hỏi thủ tục công nhận - kênh phù hợp để huy động nhà giáo đã được bồi dưỡng pháp luật. Hạn chế khi khoản 2 Điều 35 chỉ trao cho nhóm này các quyền tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều 33, loại trừ quyền được bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật và kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật tại điểm c, vốn là nhu cầu thiết yếu của nhà giáo. Vì vậy, cần bổ sung điểm c khoản 3 Điều 33 vào phạm vi quyền quy định tại khoản 2 Điều 35; do Điều 35 không thuộc phạm vi quy định chi tiết của dự thảo Nghị định.

Thứ ba, hoàn thiện nhóm quy phạm về nội dung.

Điều 10 dự thảo Luật không giao Chính phủ quy định chi tiết và cũng không thuộc phạm vi quy định chi tiết của dự thảo Nghị định, do đó, cần bổ sung vào Điều 10 quy định giao Chính phủ quy định nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật đối với từng nhóm đối tượng. Trên cơ sở đó, cần bổ sung vào Điều 68 dự thảo Nghị định danh mục nội dung bồi dưỡng pháp luật đặc thù đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, gồm: pháp luật về viên chức, nhà giáo và phòng, chống tham nhũng; pháp luật chuyên ngành giáo dục; đạo đức nhà giáo và quy tắc ứng xử; pháp luật về quyền trẻ em và phòng, chống bạo lực học đường. Danh mục cần phân hóa theo từng nhóm viên chức và rà soát thống nhất với Luật Viên chức năm 2025, Luật Nhà giáo năm 2025, Luật Giáo dục năm 2019 và Luật Trẻ em năm 2016.

Thứ tư, hoàn thiện nhóm quy phạm về hình thức và phương pháp.

Khoản 7 Điều 11 dự thảo Luật đã xác định chương trình bồi dưỡng công chức, viên chức là một hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; dự thảo Nghị định cụ thể hóa tại các điều 67, 69 và 70. Để bảo đảm tính khả thi đối với ngành Giáo dục, cần bổ sung vào khoản 1 Điều 69 dự thảo Nghị định hình thức tự nghiên cứu, tự cập nhật pháp luật trên nền tảng học tập pháp luật trực tuyến quy định tại điểm e khoản 1 Điều 19 và bổ sung vào điểm c khoản 1 Điều 70 việc công nhận kết quả này trong đánh giá viên chức. Đồng thời, văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo cần gắn phổ biến, giáo dục pháp luật với chương trình bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên, giảng viên và xây dựng kho học liệu pháp luật điện tử mở chuyên ngành, phù hợp với giải pháp được Bộ Tư pháp kiến nghị về xây dựng chuẩn điều kiện về kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cần thiết khác cho giáo viên, giảng viên của môn pháp luật, giáo dục công dân[47].

Thứ năm, hoàn thiện nhóm quy phạm về trách nhiệm và cơ chế phối hợp.

Cần sửa đổi, thay thế Thông tư liên tịch số 30/2010/TTLT-BGDĐT-BTP, tập trung vào: (i) xác định viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là nhóm đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật độc lập, bên cạnh nhóm người học; (ii) cập nhật căn cứ pháp lý theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), Luật Nhà giáo năm 2025, Luật Viên chức năm 2025 và các chủ trương về chuyển đổi số; (iii) thiết lập cơ chế phối hợp phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gắn trách nhiệm của Sở Tư pháp, Sở Giáo dục và Đào tạo với các cơ sở giáo dục công lập; (iv) xây dựng kho học liệu pháp luật điện tử dùng chung kết nối Cổng Pháp luật quốc gia; (v) mở rộng phạm vi bồi dưỡng pháp luật đến toàn bộ viên chức ngành Giáo dục; (vi) quy định cơ chế kiểm tra, sơ kết, tổng kết và trách nhiệm xử lý đối với cơ quan, tổ chức không thực hiện đầy đủ trách nhiệm phối hợp.

Thứ sáu, hoàn thiện nhóm quy phạm về các điều kiện bảo đảm.

Trên cơ sở trách nhiệm của Bộ Tài chính tại điểm a khoản 5 Điều 71 dự thảo Nghị định, cần sửa đổi Thông tư số 56/2023/TT-BTC theo hướng: (i) quy định định mức kinh phí tối thiểu cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại các cơ sở giáo dục công lập trên cơ sở số lượng viên chức; (ii) bổ sung nội dung chi cho xây dựng học liệu pháp luật điện tử mở và ứng dụng AI trong hỏi - đáp pháp luật chuyên ngành giáo dục; (iii) nâng định mức thù lao đối với báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật và chuyên gia tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật tại các cơ sở giáo dục công lập theo các điều 33, 34 và 35 dự thảo Luật. Đồng thời, cần bổ sung vào Điều 66 dự thảo Nghị định quy định chuẩn hạ tầng số tối thiểu kết nối Cổng Pháp luật quốc gia và cơ chế khuyến khích hợp tác giữa cơ sở giáo dục với cơ sở đào tạo luật, đoàn luật sư và hội luật gia.

Thứ bảy, hoàn thiện nhóm quy phạm về quản lý nhà nước, kiểm tra, đánh giá và xử lý vi phạm.

Trên cơ sở Điều 37 dự thảo Luật và các điều 72, 73 dự thảo Nghị định, công cụ, tiêu chí chung thay thế Thông tư số 03/2018/TT-BTP cần dự liệu nhóm chủ thể là cơ sở giáo dục công lập; đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần ban hành tiêu chí riêng của ngành theo khoản 2 Điều 73 dự thảo Nghị định, gồm: mức độ tuân thủ pháp luật của viên chức; năng lực giáo dục pháp luật cho người học; hiệu quả tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật nội bộ; mức độ ứng dụng chuyển đổi số. Bộ công cụ cần được thiết kế theo hướng lượng hóa kết quả đầu ra, lấy ý thức chấp hành pháp luật làm thước đo hiệu quả[48]. Trên cơ sở khoản 6 Điều 9 và khoản 5 Điều 24 dự thảo Luật, dự thảo Nghị định cần quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục công lập trong tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật; trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện mang tính hình thức phải được xem xét trong đánh giá, xếp loại viên chức quản lý và là căn cứ khi bổ nhiệm, bổ nhiệm lại theo Luật Nhà giáo năm 2025 và pháp luật về viên chức.

Kết luận

Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập đã hình thành khuôn khổ pháp lý cơ bản. Dự thảo Luật và dự thảo Nghị định quy định chi tiết đã khắc phục nhiều bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 về chuyển đổi số, truyền thông chính sách, mô hình chính quyền địa phương hai cấp và bước đầu thiết lập cơ chế bồi dưỡng pháp luật cho công chức, viên chức với thời lượng tối thiểu 10% chương trình bồi dưỡng hằng năm. Tuy nhiên, cả hai dự thảo vẫn tiếp cận cơ sở giáo dục chủ yếu theo trục “người học”, chưa xác lập địa vị pháp lý độc lập cho viên chức với tư cách đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật, chưa cá biệt hóa trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục và chưa mở kênh phù hợp để nhà giáo tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật. Khắc phục những khoảng trống này, chủ yếu bằng các điều chỉnh có giới hạn trong dự thảo Luật và bằng văn bản quy định chi tiết, là điều kiện để đội ngũ viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập thực hiện được đồng thời hai vai trò mà pháp luật giao.

Nguyễn Văn Hưng

Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội

Ảnh: Internet

[1]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyênm ới.

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.37.

[3]. Lê Minh Tâm (1998), Vấn đề văn hóa pháp luật ở nước ta hiện nay, Tạp chí Luật học, số 5/1998, tr.16-24.

[4]. Luật Giáo dục năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Luật Giáo dục đại học năm 2025; Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025; Luật Nhà giáo năm 2025.

[5]. Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) trình Quốc hội kèm theo Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026.

[6]. Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật ngày 24/7/2026.

[7]. Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 của Bộ Tư pháp tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.

[8]. Nguyễn Đình Lộc (1977), Ý thức pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ Luật học, Liên Xô; Nguyễn Quốc Sửu (2010), Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.51-56.

[9]. Hoàng Thị Kim Quế (chủ biên, 2005), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.409.

[10]. Trần Công Lý (2009), Giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính, Hà Nội.

[11]. Nghị quyết về việc tiếp tục đẩy mạnh và triển khai công tác giáo dục pháp luật năm 2008 (Ý kiến của Hiệp hội Luật sư Quận Chugoku). Xem thêm: https://chugoku-ba.org/ctrl_concrete/iken/ketsugi_20081010-03.

[12]. Decker, J. R. & Brady, K. P. (2016), Increasing school employees’ special education legal literacy, Journal of School Public Relations, vol. 36, no. 3, pp.231-259. DOI: 10.3138/jspr.36.3.231.

[13]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, tr.224.

[14]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[15]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, tr.356-368; Dương Thị Tươi (2021), Xây dựng pháp luật ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, tr.228.

[16]. Lê Minh Tâm (2000), Về khái niệm hiệu quả pháp luật và những tiêu chí xác định hiệu quả pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2000, tr.51-52.

[17]. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[18]. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

[19]. Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04/4/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.

[20]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.29.

[21]. Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân.

[22]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.28.

[23]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.29.

[24]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.22-23.

[25]. Luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15.

[26]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.32.

[27]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.28-29.

[28]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.13.

[29]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.15.

[30]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.16.

[31]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.32.

[32]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.31.

[33]. Lý Nam Hải (2021), Hạn chế của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 49/2021, tr.64-65, 67.

[34]. Thông tư liên tịch số 30/2010/TTLT-BGDĐT-BTP ngày 16/11/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp hướng dẫn việc phối hợp thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường.

[35]. Quyết định số 1456/QĐ-BGDĐT ngày 28/4/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho giáo viên dạy môn Giáo dục công dân.

[36]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.21.

[37]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.31.

[38]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.30.

[39]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.28.

[40]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.24.

[41]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.30.

[42]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.31-32.

[43]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.6.

[44]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.27.

[45]. Thông tư số 03/2018/TT-BTP ngày 10/3/2018 của Bộ Tư pháp quy định bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

[46]. Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[47]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.35.

[48]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.35.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.

2. Decker, J. R. & Brady, K. P. (2016), Increasing school employees’ special education legal literacy, Journal of School Public Relations, vol. 36, no. 3, DOI: 10.3138/jspr.36.3.231.

3. Dương Thị Tươi (2021), Xây dựng pháp luật ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

5. Hoàng Thị Kim Quế (chủ biên, 2005), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

6. Lê Minh Tâm (1998), Vấn đề văn hóa pháp luật ở nước ta hiện nay, Tạp chí Luật học, số 5/1998.

7. Lê Minh Tâm (2000), Về khái niệm hiệu quả pháp luật và những tiêu chí xác định hiệu quả pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2000.

8. Lý Nam Hải (2021), Hạn chế của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 49/2021.

9. Nguyễn Đình Lộc (1977), Ý thức pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ Luật học, Liên Xô.

10. Nguyễn Quốc Sửu (2010), Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

11. Trần Công Lý (2009), Giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính, Hà Nội.

12. Trường Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

(Nguồn: Ấn phẩm chuyên sâu “Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, xuất bản năm 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng trong tổng rà soát văn bản tại Bộ Tư pháp

Hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng trong tổng rà soát văn bản tại Bộ Tư pháp

Từ ngày 01/9/2026 đến hết ngày 15/9/2026, công tác tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) tại Bộ Tư pháp đã thực hiện, hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng. Đây là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng của cơ quan Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành, địa phương trong công tác tổng rà soát.
Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Chiều 21/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược, Luật Người cao tuổi và Luật Bảo hiểm y tế. Tham dự cuộc họp có Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cùng đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp. Tại cuộc họp, Hội đồng tập trung trao đổi, góp ý đối với các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Khám bệnh, chữa bệnh và Luật Dược.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
KPI trong xây dựng pháp luật: Phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, rõ trách nhiệm, rõ kết quả

KPI trong xây dựng pháp luật: Phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, rõ trách nhiệm, rõ kết quả

Ngày 21/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo Công bố, triển khai Bộ Tài liệu hướng dẫn thực hiện đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng pháp luật, trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ Tư pháp Việt Nam và Dự án “Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II” (EU JULE) do Liên minh châu Âu tài trợ. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì Hội thảo.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Đổi mới tư duy, đưa cuộc sống vào pháp luật

Đổi mới tư duy, đưa cuộc sống vào pháp luật

Phát biểu kết luận Hội thảo khoa học cấp quốc gia "Những giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật" tổ chức ngày 21/9/2026, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; trong đó, muốn pháp luật nhanh chóng đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả thì trước hết phải đưa cuộc sống vào trong pháp luật.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu: Tạo môi trường để người dân, doanh nghiệp "dễ làm đúng, muốn làm đúng" pháp luật

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu: Tạo môi trường để người dân, doanh nghiệp "dễ làm đúng, muốn làm đúng" pháp luật

Ngày 21/9/2026, Hội thảo khoa học cấp quốc gia "Những giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật" được tổ chức tại trụ sở Bộ Tư pháp.
Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Ngày 18/9, ông Nguyễn Duy Thắng, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tham dự cuộc họp có đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ theo vị trí việc làm cho công chức thực hiện nhiệm vụ tư pháp xã, phường, đặc khu (Chương trình) tập trung vào tập huấn kỹ năng, đặc biệt các kỹ năng liên quan đến chuyển đổi số, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu và xử lý tình huống gắn với những khó khăn, vướng mắc trong thực tế triển khai thực hiện công việc.
Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày 15/9/2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1788/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Sáng ngày 16/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì Hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Ngô Quỳnh Hoa.

Theo dõi chúng tôi trên: