Chủ trương của Đảng với yêu cầu quản trị hiện đại về đất đai
Với tinh thần chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và phát triển kinh tế số, xã hội số, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị đã xác định nhiệm vụ trọng tâm: “Xây dựng và phát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu quốc gia. Hình thành hệ thống trung tâm dữ liệu quốc gia, các trung tâm dữ liệu vùng và địa phương kết nối đồng bộ và thống nhất”.
Tiếp đó, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan đã đặt ra yêu cầu cốt lõi: “Chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị hiện đại về đất đai, bảo đảm quản lý thống nhất, công khai, minh bạch, hiệu quả, vận hành thông suốt trên nền tảng số, dữ liệu số và ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo”, “Xây dựng, vận hành Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai theo hướng tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiện đại, đa mục tiêu; bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu chuyên ngành về quy hoạch, thuế, công chứng, ngân hàng, bất động sản…”.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, quản lý đất đai không thể tách rời việc xác định chính xác vị trí của từng thửa đất, công trình trên thực địa, Nghị định số 326/2026/NĐ-CP đã hiện thực hóa các mục tiêu nêu tại Nghị quyết số 21-NQ/TW với việc gắn cho mỗi thửa đất, công trình, địa danh... một mã số định danh duy nhất.
Định danh địa điểm - cấp mã định danh duy nhất để phân biệt địa điểm này với địa điểm khác
Lần đầu tiên trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam quy định rõ: “Định danh địa điểm là hoạt động thu thập, tạo lập dữ liệu và cấp mã định danh duy nhất cho một địa điểm cụ thể nhằm phân biệt địa điểm này với địa điểm khác”. Với quy định khoa học và chặt chẽ này đã khắc phục triệt để tình trạng nhầm lẫn giữa “địa chỉ hành chính” với “địa điểm thực địa”. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định mở rộng, phân loại đối tượng định danh, theo đó, khoản 2 Điều 2 quy định những đối tượng được định danh không chỉ giới hạn ở nhà ở hay thửa đất thông thường, mà bao quát toàn bộ cấu trúc vật lý trên thực địa, gồm: các thửa đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, địa danh hoặc bất cứ cấu trúc vật lý và các đối tượng khác. Việc bao quát toàn diện các thực thể không gian giúp kiểm soát từ những đơn vị vi mô như căn hộ, vị trí kinh doanh cho tới các hạ tầng lớn như tuyến đường, công trình công cộng.
Với quy định mỗi địa danh được cấp một mã định danh là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số do Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm xác lập (Điều 4 Nghị định số 326/2026/NĐ-CP) theo nguyên tắc quy định tại Điều 3 Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm: Mỗi địa điểm chỉ gắn liền với một mã định danh duy nhất, không trùng lặp trong phạm vi toàn hệ thống. Mã định địa điểm sau khi được tạo lập, gắn mã duy nhất cho một đối tượng cụ thể phải có tính ổn định lâu dài.
Vai trò, ý nghĩa của mã định danh địa điểm, Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm
Khi áp dụng mã định danh địa điểm 12 số góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong các thủ tục hành chính liên quan đến cư trú, đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép xây dựng, giao dịch bất động sản hoặc sang tên, chuyển nhượng. Việc quy định này góp phần giảm thiểu tối đa thời gian xử lý hồ sơ, chi phí đi lại, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ thực thi.
Đối với công tác quản lý công, mã định danh địa điểm có vai trò kết nối giữa con người và vị trí địa lý như: (i) Giúp lực lượng chức năng nắm bắt chính xác hiện trạng cư trú, quản lý cơ sở kinh doanh có điều kiện, hỗ trợ công tác cứu nạn, cứu hộ, phòng cháy, chữa cháy tới tận từng căn hộ, ngõ ngách chính xác theo tọa độ không gian; (ii) Khắc phục triệt để tình trạng “dự án ảo”, tài sản ảo; (iii) Hỗ trợ cơ quan thuế quản lý chặt chẽ hoạt động kinh doanh, cho thuê tài sản, kinh doanh dịch vụ lưu trú trên địa điểm thực tế; (iv) Dữ liệu địa điểm tích hợp tọa độ không gian góp phần quy hoạch đô thị thông minh, phát triển mạng lưới giao thông, cấp thoát nước và phân bổ tiện ích an sinh xã hội hợp lý.
Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm không chỉ ghi nhận thông tin mô tả mà kết hợp đồng thời nhiều trường dữ liệu quan trọng điển hình: Tọa độ địa lý chuẩn hóa theo hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000 hoặc hệ tọa độ toàn cầu WGS-84 (điểm e khoản 2 Điều 5 Nghị định số 326/2026/NĐ-CP), bảo đảm tích hợp bản đồ số và dữ liệu không gian ba chiều. Mỗi công trình, thửa đất, địa danh được định danh rõ ràng, minh bạch giúp công tác quản lý dễ dàng, minh bạch, giải quyết tình trạng nhầm lẫn về mốc giới, diện tích.
Yêu cầu triển khai định danh địa điểm
Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện việc chuẩn bị cơ sở hạ tầng, hệ thống mạng viễn thông, truyền dẫn, các quy trình, thủ tục liên quan tới dữ liệu định danh địa điểm gồm: Bộ Công an (Điều 9); Bộ Khoa học và Công nghệ (Điều 10); Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Điều 11); Bộ Xây dựng (Điều 12); Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Điều 13); Bộ Quốc phòng (Điều 14); bộ, cơ quan ngang bộ (Điều 15); Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 16).
Để dữ liệu số hóa được thông tin địa điểm phục vụ cho yêu cầu định danh địa điểm cần sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân từ khâu chủ trì đầu tư, xây dựng cơ sở dữ liệu định danh địa điểm tập trung thống nhất từ trung ương đến địa phương, chuẩn bị các thiết bị, phần mềm, hạ tầng phục vụ xử lý dữ liệu định danh địa điểm tới việc quy định áp dụng hệ tọa độ, hệ quy chiếu trong định danh địa điểm để sử dụng thống nhất; cách triển khai đánh số và gắn biển số nhà, công trình xây dựng; cách đặt tên, đổi tên đường, phố, công trình công cộng. Đặc biệt, “kết nối, tích hợp, chia sẻ Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử, cổng dịch vụ công quốc gia và các nền tảng khác” nhằm bảo đảm phục vụ việc tra cứu, giải quyết việc quản lý được thông suốt, đồng bộ.
Việc ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP là cần thiết, khi các hệ thống dữ liệu được khơi thông và kết nối với nhau, bộ máy hành chính nhà nước sẽ vận hành minh bạch, thủ tục sẽ tinh gọn hơn và nền kinh tế số sẽ có thêm động lực để bứt phá. Để triển khai định danh địa điểm cần bảo đảm về hạ tầng, mạng viễn thông ổn định, đội ngũ thực hiện có chuyên môn, kĩ thuật; sau khi hệ thống được triển khai, vận hành cần tổ chức hướng dẫn cho đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ. Ngoài ra, định danh địa điểm chứa đựng thông tin về vị trí cư trú, sở hữu tài sản của công dân nên việc khai thác dữ liệu cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
(Ảnh: Internet)