Thứ năm 24/09/2026 21:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật
Ảnh minh họa

Mở thêm không gian thí điểm, nhưng không đứng ngoài khuôn khổ pháp luật

Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới xác định yêu cầu chủ động xây dựng, thử nghiệm các cơ chế, chính sách mới, có tính đột phá, khác biệt để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình phát triển Thủ đô.

Thể chế hóa định hướng này, khoản 1 Điều 9 Luật Thủ đô năm 2026 quy định: “Thành phố được quyết định thí điểm cơ chế, chính sách mới, khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc đối với những vấn đề chưa được pháp luật quy định để áp dụng tại thành phố Hà Nội”.

Quy định trên tạo thêm cơ sở pháp lý để Hà Nội nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thí điểm những cách tiếp cận mới trong trường hợp pháp luật chưa có quy định điều chỉnh hoặc quy định hiện hành chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn của Thủ đô.

Tuy nhiên, cơ chế này không đồng nghĩa với việc Hà Nội có thể tự do đặt ra các chính sách nằm ngoài khuôn khổ pháp luật. Luật Thủ đô năm 2026 xác định những lĩnh vực không được thí điểm, gồm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tôn giáo và các lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, các chính sách được đưa vào thí điểm phải tuân thủ những nguyên tắc chặt chẽ. Theo quy định của Luật, chính sách phải phù hợp với Hiến pháp, không trái với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; không hạn chế quyền con người, quyền cơ bản của công dân và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch.

Việc thí điểm cũng không được gây ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội; không gây tác động bất lợi đến sức khỏe cộng đồng, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách tôn giáo.

Như vậy, điểm đáng chú ý của cơ chế mới không chỉ nằm ở việc cho phép Hà Nội thí điểm những chính sách khác với luật, mà còn ở việc Luật Thủ đô đồng thời thiết lập những giới hạn và nguyên tắc để kiểm soát việc thực hiện quyền thí điểm.

Thí điểm có thời hạn, có phạm vi

Một chính sách thí điểm chỉ có ý nghĩa khi kết quả có thể được kiểm chứng trong thực tế. Vì vậy, Luật Thủ đô năm 2026 không thiết kế cơ chế này theo hướng áp dụng không xác định thời hạn.

Theo quy định tại Điều 9 Luật Thủ đô năm 2026, thời gian thí điểm tối đa là 05 năm và có thể được gia hạn tối đa 05 năm.

Giới hạn về thời gian tạo cơ sở để cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện, theo dõi, đánh giá tác động và xác định hướng xử lý tiếp theo. Sau thời gian thí điểm, chính sách có thể được chấm dứt, điều chỉnh hoặc tiếp tục theo cơ chế mà pháp luật quy định.

Về phạm vi, Luật xác định các nhóm vấn đề có thể được áp dụng cơ chế thí điểm. Trong đó có các mô hình mới về tổ chức chính quyền địa phương cấp thành phố, mô hình quản trị và xây dựng Nhà nước hiện đại; các vấn đề về công vụ, công chức; các mô hình kinh tế mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục và đào tạo, văn hóa, y tế.

Cơ chế này cũng được áp dụng đối với nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp đô thị; các mô hình quản lý phát triển đô thị, nông thôn, không gian và phát triển bền vững; phương thức khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển và quản trị Thủ đô.

Đáng chú ý, Luật còn cho phép nghiên cứu, thí điểm các giải pháp đối với những vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng, trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người dân hoặc sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.

Có thể thấy, phạm vi thí điểm được thiết kế khá rộng, nhưng tập trung vào những vấn đề gắn trực tiếp với yêu cầu quản trị, phát triển và giải quyết các vấn đề mới của Hà Nội.

Từ đề xuất chính sách đến yêu cầu kiểm soát rủi ro

Điểm đáng chú ý của cơ chế thí điểm là không chỉ trao quyền quyết định chính sách, mà đồng thời đặt ra yêu cầu về trách nhiệm trong quá trình thiết kế, tổ chức thực hiện và kiểm soát rủi ro.

Trên cơ sở chủ trương được cấp có thẩm quyền chấp thuận, Hội đồng nhân dân thành phố ban hành nghị quyết về thí điểm. Nghị quyết phải xác định mục tiêu, phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian, địa bàn thực hiện; kết quả, tác động dự kiến; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể có liên quan.

Đặc biệt, nghị quyết phải quy định về quản trị rủi ro; cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá; điều kiện và trình tự, thủ tục điều chỉnh, gia hạn hoặc chấm dứt thí điểm.

Như vậy, việc đề xuất một chính sách thí điểm không chỉ dừng ở việc xác định “được làm gì”. Cơ quan có thẩm quyền còn phải làm rõ chính sách nhằm giải quyết vấn đề nào, áp dụng với đối tượng nào, trong phạm vi và thời gian ra sao, dự kiến tạo ra kết quả gì, đồng thời xác định cơ chế xử lý khi phát sinh rủi ro.

Cách tiếp cận này tạo cơ sở để quá trình thí điểm được theo dõi và đánh giá dựa trên những tiêu chí cụ thể, thay vì chỉ dựa vào nhận định chung về hiệu quả của chính sách.

Phân biệt thí điểm chính sách với ban hành quy định đặc thù

Luật Thủ đô năm 2026 quy định nhiều cơ chế đặc thù khác nhau. Vì vậy, cần phân biệt cơ chế thí điểm chính sách (Điều 9) với cơ chế ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nội dung đặc thù (Điều 8).

Theo Điều 8, văn bản quy phạm pháp luật để thi hành Luật Thủ đô có thể có quy định khác với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở Trung ương. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, trong phạm vi thẩm quyền, còn được ban hành quy định để điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền trong một số lĩnh vực; đơn giản hóa thủ tục hành chính và quy định các biện pháp đặc thù phù hợp với yêu cầu phát triển Thủ đô. Đối với việc ban hành các quy định này, khoản 3 Điều 8 yêu cầu phải đánh giá sự cần thiết, tính hợp lý; xác định mục tiêu, kết quả dự kiến, cơ chế theo dõi, giám sát và trách nhiệm giải trình; đánh giá tác động chính sách và tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, đối tượng chịu tác động trực tiếp.

Trong khi đó, cơ chế thí điểm tập trung vào việc thử nghiệm một cơ chế, chính sách mới trong phạm vi và thời gian xác định, đi kèm với cơ chế quản trị rủi ro, giám sát, đánh giá và xử lý kết quả sau thí điểm. Sự phân biệt này có ý nghĩa trong thực tiễn, bởi không phải mọi chính sách đặc thù được áp dụng tại Hà Nội đều là chính sách thí điểm.

Thử nghiệm có kiểm soát: Cơ chế chuyên biệt cho đổi mới sáng tạo

Bên cạnh cơ chế thí điểm chính sách, Luật Thủ đô năm 2026 còn thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Điều 19).

Theo đó, Hội đồng nhân dân thành phố quy định tiêu chí, điều kiện, trình tự, thủ tục cho phép điều chỉnh, kết thúc hoặc hoàn thành việc thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới và các đối tượng khác.

Cơ chế này còn bao gồm các quy định về bảo vệ người tham gia thử nghiệm; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên; chính sách ưu đãi, hỗ trợ; việc sử dụng dữ liệu nhà nước, cơ sở hạ tầng và tài sản công; mua sắm ưu đãi, đầu tư và hỗ trợ thị trường đối với các sản phẩm, giải pháp thử nghiệm thành công.

Theo quy định, Ủy ban nhân dân thành phố quyết định cho phép và quy định việc thử nghiệm đối với từng dự án theo tiêu chí, điều kiện đã được xác định. Trong phạm vi thử nghiệm có kiểm soát, đối với những dự án mà pháp luật đã có quy định nhưng chưa đủ cụ thể hoặc không còn phù hợp, Ủy ban nhân dân thành phố có thể quyết định tạm thời không áp dụng một số quy định pháp luật trong phạm vi thử nghiệm.

Nếu cơ chế thí điểm chính sách hướng tới các vấn đề phục vụ quản trị và phát triển Thủ đô với phạm vi tương đối rộng, thì cơ chế tại Điều 19 thiết lập một không gian chuyên biệt hơn cho việc thử nghiệm công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới.

Thí điểm phải đi cùng cơ chế dừng, đánh giá và hoàn thiện pháp luật

Một chính sách thí điểm không nhất thiết phải được tiếp tục trong mọi trường hợp. Giá trị của cơ chế này còn nằm ở khả năng phát hiện những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện để có phương án điều chỉnh phù hợp.

Việc Luật Thủ đô yêu cầu nghị quyết thí điểm phải quy định cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá, điều chỉnh, gia hạn hoặc chấm dứt chính là cơ sở pháp lý cho quá trình này.

Thông qua việc tổ chức thực hiện trong một phạm vi và thời gian nhất định, cơ quan có thẩm quyền có điều kiện đánh giá tác động thực tế của chính sách, nhận diện những điểm chưa phù hợp, từ đó xem xét điều chỉnh chính sách hoặc kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật.

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cũng được đặt trong mối liên hệ với quá trình hoàn thiện pháp luật. Đối với quá trình thử nghiệm, Ủy ban nhân dân thành phố có trách nhiệm theo dõi, kiểm soát, báo cáo Hội đồng nhân dân và kiến nghị hoàn thiện pháp luật khi cần thiết.

Bảo vệ người thực thi nhưng gắn với điều kiện rõ ràng

Cùng với việc trao thêm không gian cho đổi mới chính sách, Luật Thủ đô năm 2026 cũng có quy định nhằm bảo vệ những người tham gia quá trình xây dựng và thực hiện các cơ chế đặc thù.

Khoản 2 Điều 34 Luật Thủ đô năm 2026 quy định người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị; cán bộ, công chức, viên chức và người tham gia vào quá trình xây dựng, ban hành, thực hiện Luật Thủ đô và các văn bản theo Điều 8, Điều 9 được loại trừ hoặc miễn trách nhiệm pháp lý trong trường hợp không có động cơ vụ lợi, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục nhưng vẫn xảy ra thiệt hại.

Quy định này cho thấy pháp luật không chỉ đặt ra yêu cầu đối với người ra quyết định mà còn tính đến những rủi ro có thể phát sinh khi triển khai chính sách mới. Tuy nhiên, việc loại trừ hoặc miễn trách nhiệm pháp lý không phải là cơ chế miễn trừ chung, bởi Luật đồng thời đặt ra các điều kiện về không vụ lợi và tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục.

Qua đó, trách nhiệm đổi mới và trách nhiệm kiểm soát rủi ro được đặt song song: người thực thi có không gian để triển khai chính sách mới, nhưng việc thực hiện vẫn phải nằm trong khuôn khổ và các điều kiện mà pháp luật quy định.

Nhìn tổng thể, cơ chế thí điểm chính sách mới theo Luật Thủ đô năm 2026 vừa mở thêm không gian để Hà Nội chủ động giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tiễn, vừa đặt ra các yêu cầu về phạm vi, thời hạn, đánh giá tác động, quản trị rủi ro và trách nhiệm trong quá trình thực hiện. Qua đó, việc thí điểm không chỉ nhằm kiểm nghiệm một chính sách cụ thể mà còn tạo thêm cơ sở thực tiễn để điều chỉnh, hoàn thiện chính sách và pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của Thủ đô trong giai đoạn mới.

Linh Đan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng trong tổng rà soát văn bản tại Bộ Tư pháp

Hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng trong tổng rà soát văn bản tại Bộ Tư pháp

Từ ngày 01/9/2026 đến hết ngày 15/9/2026, công tác tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) tại Bộ Tư pháp đã thực hiện, hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng. Đây là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng của cơ quan Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành, địa phương trong công tác tổng rà soát.
Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Chiều 21/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược, Luật Người cao tuổi và Luật Bảo hiểm y tế. Tham dự cuộc họp có Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cùng đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp. Tại cuộc họp, Hội đồng tập trung trao đổi, góp ý đối với các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Khám bệnh, chữa bệnh và Luật Dược.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
KPI trong xây dựng pháp luật: Phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, rõ trách nhiệm, rõ kết quả

KPI trong xây dựng pháp luật: Phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, rõ trách nhiệm, rõ kết quả

Ngày 21/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo Công bố, triển khai Bộ Tài liệu hướng dẫn thực hiện đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng pháp luật, trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ Tư pháp Việt Nam và Dự án “Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II” (EU JULE) do Liên minh châu Âu tài trợ. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì Hội thảo.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Đổi mới tư duy, đưa cuộc sống vào pháp luật

Đổi mới tư duy, đưa cuộc sống vào pháp luật

Phát biểu kết luận Hội thảo khoa học cấp quốc gia "Những giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật" tổ chức ngày 21/9/2026, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; trong đó, muốn pháp luật nhanh chóng đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả thì trước hết phải đưa cuộc sống vào trong pháp luật.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu: Tạo môi trường để người dân, doanh nghiệp "dễ làm đúng, muốn làm đúng" pháp luật

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu: Tạo môi trường để người dân, doanh nghiệp "dễ làm đúng, muốn làm đúng" pháp luật

Ngày 21/9/2026, Hội thảo khoa học cấp quốc gia "Những giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật" được tổ chức tại trụ sở Bộ Tư pháp.
Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Ngày 18/9, ông Nguyễn Duy Thắng, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tham dự cuộc họp có đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ theo vị trí việc làm cho công chức thực hiện nhiệm vụ tư pháp xã, phường, đặc khu (Chương trình) tập trung vào tập huấn kỹ năng, đặc biệt các kỹ năng liên quan đến chuyển đổi số, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu và xử lý tình huống gắn với những khó khăn, vướng mắc trong thực tế triển khai thực hiện công việc.
Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày 15/9/2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1788/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Sáng ngày 16/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì Hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Ngô Quỳnh Hoa.

Theo dõi chúng tôi trên: