Sự cần thiết sửa đổi, hoàn thiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 xuất phát từ các cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn, nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, giải quyết các vấn đề phát sinh trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đồng thời khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tiễn thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tiếp tục phát huy các giá trị dân chủ, văn minh của loài người và chủ nghĩa xã hội. Cụ thể:
Thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng
Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta...”. Đảng yêu cầu “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”[1]; “kịp thời phòng, chống âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và kích động gây chia rẽ dân tộc, chống Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”[2]; đồng thời chỉ rõ quan điểm về công tác dân tộc trong thời kỳ mới là “thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi; kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta”[3].
Tại Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới yêu cầu chú trọng nội dung: “Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thực hiện nghiêm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Phát huy vai trò tích cực của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội”. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc đề ra nhiệm vụ, giải pháp: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đồng hành cùng dân tộc, tích cực tham gia các cuộc vận động phong trào thi đua yêu nước do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chính quyền các cấp phát động. Bảo đảm để các tổ chức tôn giáo hoạt động bình đẳng theo quy định của pháp luật và hiến chương điều lệ được Nhà nước công nhận; quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ giải quyết các nhu cầu chính đáng của quần chúng tín đồ trong hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh. Tôn trọng, khuyến kích phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Đặc biệt, nhiều nghị quyết, kết luận của Đảng gần đây đã xác định các nhiệm vụ, giải pháp khẩn trương sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật đáp ứng yêu cầu thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, như:
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) xác định nhiệm vụ: “Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời, đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng và quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân;… xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Thực hiện tốt nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm; quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”; “tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật trên tất cả các lĩnh vực,…; phát huy dân chủ, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; …”; “Xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, khoa học, trong sạch, công khai, minh bạch, tạo môi trường thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức với ba trụ cột chính: Tổ chức bộ máy; công vụ, công chức; hành chính điện tử và chuyển đổi số. Đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt bỏ các thủ tục không cần thiết, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, cản trở cạnh tranh lành mạnh; áp dụng hiệu quả dịch vụ công trực tuyến; xây dựng nền kinh tế số, chính phủ số, xã hội số”.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra nhiệm vụ: “Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, hiệu lực quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, bảo đảm quốc phòng và an ninh”.
Tại Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, một trong những nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới là: “Xác định rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; “Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động để cải cách tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị; … Đẩy mạnh cải cách hành chính; đổi mới toàn diện việc giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính; nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số cho người dân và doanh nghiệp”.
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, trong đó có nhiệm vụ “khẩn trương sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật đáp ứng yêu cầu thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, gắn với phân cấp, phân quyền…”; “... phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được...”.
Tại Kết luận số 226-KL/TW ngày 11/12/2025 của Ban Bí thư về việc chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, trong đó nhấn mạnh đổi mới phương thức làm việc, phối hợp công tác, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, yêu cầu: “Những nội dung đã phân cấp, phân quyền cần phải được đánh giá và chuẩn hoá rõ ràng. Cấp dưới khi được phân cấp, phân quyền phải tự chịu trách nhiệm việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ…. Quan tâm đầu tư, nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng số, nền tảng số, dữ liệu số, bảo đảm kết nối thông suốt, an toàn thông tin, đồng bộ hoá hệ thống dữ liệu từ Trung ương đến cơ sở, tạo thuận lợi trong khai thác dữ liệu dùng chung, kiểm soát tự động tránh trùng lặp nội dung; đẩy mạnh các dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp. Thực hiện việc xử lý thủ tục hành chính trên môi trường số và số hoá văn bản đạt từ 95% trở lên”.
Khắc phục bất cập từ thực tiễn thi hành Luật trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là thành viên. Hiến pháp năm 2013 quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật (Điều 24). Trên cơ sở đó, ngày 18/11/2016, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 2 đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 (Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018).
Qua gần 08 năm thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã đạt được nhiều kết quả tiến bộ, tích cực, bảo đảm các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng đi vào nền nếp, các điều kiện bảo đảm quyền của cá nhân, tổ chức trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được các cơ quan nhà nước quan tâm thực hiện. Những kết quả này đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, đồng thời tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, qua công tác tổng kết việc thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/9/2025) cho thấy, việc triển khai thi hành Luật còn gặp một số hạn chế, khó khăn, đặc biệt trước bối cảnh thực hiện tinh gọn bộ máy, yêu cầu ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Cụ thể:
Thứ nhất, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chưa có quy định về nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành (thay thế Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ) đã phần nào xác định hình thức tổ chức hoạt động tôn giáo, hoạt động quyên góp, tiếp nhận tài trợ trên không gian mạng bằng hình thức trực tuyến hoặc kết hợp hình thức trực tiếp với hình thức trực tuyến. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn tồn tại khoảng trống và bất cập như:
- Về phạm vi thực hiện, Nghị định số 95/2023/NĐ-CP mới chỉ dừng lại ở quy định thực hiện thủ tục hành chính (thay đổi hình thức thực hiện từ trực tiếp sang trực tuyến hoặc kết hợp hình thức trực tiếp với hình thức trực tuyến) đối với hoạt động tôn giáo, hoạt động quyên góp, tiếp nhận tài trợ. Đối với hoạt động tín ngưỡng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định số 95/2023/NĐ-CP không có quy định như đối với hoạt động tôn giáo.
- Về nguyên tắc thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, Nghị định số 95/2023/NĐ-CP đã đưa ra một số nguyên tắc phải tuân thủ khi tổ chức hoạt động tôn giáo, hoạt động quyên góp, tiếp nhận tài trợ bằng hình thức trực tuyến hoặc kết hợp hình thức trực tiếp với hình thức trực tuyến, nhưng vẫn còn chung chung, chưa cụ thể, như: tuân thủ Hiến pháp, Luật tín ngưỡng, tôn giáo, quy định của pháp luật về thông tin, truyền thông và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Luật chưa có quy định về ràng buộc trách nhiệm của cá nhân, tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng nói chung cũng như trách nhiệm pháp lý trong hoạt động tôn giáo, hoạt động quyên góp, tiếp nhận tài trợ.
Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng không chỉ là vấn đề mới mà còn là thực tế tất yếu trong kỷ nguyên số, đặt ra những yêu cầu cấp thiết trong việc hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, tạo hành lang pháp lý vững chắc vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm để hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thuần tuý có thể hoạt động thuận lợi, đúng pháp luật, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân, đồng thời ngăn chặn các hành vi lợi dụng, mượn danh nghĩa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, tuyên truyền mê tín, dị đoan, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, yêu cầu đặt ra cần thiết phải quy định đầy đủ, toàn diện về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, không chỉ dừng lại ở việc thực hiện thủ tục hành chính mà còn là việc ghi nhận chính thức trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quyền của cá nhân, tổ chức được thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; quy định các nguyên tắc mà cá nhân, tổ chức khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng phải chấp hành và trách nhiệm của cá nhân, tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp viễn thông trong việc ngăn chặn các nội dung vi phạm về tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ hai, để vận hành mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, trong bối cảnh chưa sửa đổi được Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 quy định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo (Nghị định số 124/2025/NĐ-CP). Trong tổng số thẩm quyền, nhiệm vụ của Chính phủ, cấp Bộ, các cấp chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện và xã) quy định tại Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định số 95/2023/NĐ-CP, đến nay đã phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền 101 thẩm quyền, nhiệm vụ. Trong đó, với 43 thẩm quyền, nhiệm vụ giữ lại cho cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương thực hiện là các thẩm quyền, nhiệm vụ về xây dựng thể chế, chính sách, chiến lược có tính liên tỉnh, liên vùng, liên quan đến nhiều bộ, cơ quan ngang bộ hoặc những vấn đề có yếu tố nước ngoài, nhiệm vụ cần quản lý thống nhất toàn quốc. Các nhiệm vụ, thẩm quyền này cần được tổng kết đánh giá, nghiên cứu đề xuất tiếp tục phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền khi sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Hiện nay, việc sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương 02 cấp dẫn đến một số quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo liên quan đến thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện không còn phù hợp. Vì vậy, cần thiết phải rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 để thực hiện việc điều chuyển thẩm quyền, chức năng của Ủy ban nhân dân cấp huyện cho cơ quan cấp tỉnh hoặc cấp xã thực hiện cho phù hợp.
Bên cạnh đó, thực tiễn công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo thời gian qua cũng gặp khó khăn, vướng mắc do một số vấn đề chưa có quy định của pháp luật điều chỉnh hoặc điều chỉnh chưa rõ ràng. Mặt khác, thẩm quyền của các cơ quan trong việc tham mưu quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo; quản lý xuất bản ấn phẩm tài liệu liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo; quản lý nhà nước về hoạt động y tế, giáo dục, từ thiện liên quan đến tôn giáo; thẩm quyền quản lý các hoạt động tín ngưỡng,... và trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chuyên môn cần tiếp tục được phân định cụ thể rành mạch hơn, tránh sự chồng chéo hoặc tạo khoảng trống trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong khi đó, tổ chức bộ máy thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo sau sắp xếp, sáp nhập đã có sự thay đổi rất lớn. Do vậy, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cần được sửa đổi, bổ sung để thực hiện phân quyền, phân cấp, tiếp tục bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và hoàn thiện các biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới.
Thứ ba, trong bối cảnh thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, để kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tính liên tục, thông suốt trong hoạt động của tổ chức bộ máy, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 124/2025/NĐ-CP, theo đó có 56 thủ tục hành chính ở 03 cấp (cấp trung ương có 23 thủ tục; cấp tỉnh có 24 thủ tục và cấp xã có 09 thủ tục). Vì vậy, khi sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, quy định về trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cần được điều chỉnh cho phù hợp, không quy định về trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Trong thành phần hồ sơ các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay bao gồm nhiều giấy tờ có liên quan, trong đó có phiếu lý lịch tư pháp của nhân sự dự kiến làm người đại diện của nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung, người dự kiến lãnh đạo các tổ chức;... Trong khi đó, Chỉ thị số 23/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quán triệt, tuân thủ đúng quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp; có các giải pháp hiệu quả và tiến tới chấm dứt yêu cầu người dân nộp Phiếu lý lịch tư pháp không đúng quy định.
Bên cạnh đó, theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, quy trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay vẫn còn thực hiện theo phương thức truyền thống (thực hiện tiếp nhận, quản lý và lưu trữ hồ sơ giấy). Việc lưu trữ hồ sơ giấy cũng gây khó khăn trong việc tổng hợp, báo cáo số liệu về tín ngưỡng, tôn giáo, làm giảm tính minh bạch và hiệu quả quản lý nhà nước. Vì vậy, việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm bớt số lượng giấy tờ, rút ngắn thời gian xử lý và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính là cần thiết.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.
Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc.