Thứ sáu 08/05/2026 18:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thông báo, đăng ký, đề nghị về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo (Ảnh minh họa)

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 2, đến nay đã tạo ra những chuyển biến tích cực, tiến bộ, bảo đảm cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng đi vào nền nếp; đồng thời, quyền của cá nhân, tổ chức trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cũng được các cơ quan nhà nước quan tâm thực hiện.

Tuy nhiên, quá trình triển khai Luật phát sinh những tồn tại, hạn chế như: Một số cách giải thích của Luật chưa cụ thể; nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang diễn ra nhưng Luật chưa có quy định điều chỉnh; nhiều quy định trong Luật chưa được phân cấp, phân quyền, chưa thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính… Bên cạnh đó, bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới một số Luật liên quan trong thời gian qua đã đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Tín ngưỡng, tôn giáo nhằm phù hợp với tình hình mới, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật.

Trên cơ sở đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã nghiên cứu xây dựng chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (chính sách Luật) với một số nội dung dự kiến quy định cụ thể:

Thứ nhất, xác lập nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.

Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là việc các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên báo điện tử, trang thông tin điện tử, mạng xã hội, ứng dụng trực tuyến, nền tảng số trên không gian mạng.

Trong đó, chủ thể thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng gồm tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo như: Người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung, tổ chức, cá nhân khác quy định được thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.

Đặc biệt, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo trên không gian mạng phải tuân thủ 04 quy định gồm: (i) Không vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm; (ii) Bảo đảm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; (iii) Có nội dung nhận diện rõ ràng để phân biệt giữa nội dung hoạt động tín ngưỡng của cơ sở tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung với các nội dung khác; (iv) Các quy định của pháp luật về an ninh, an toàn thông tin mạng.

Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân này cũng có trách nhiệm thông báo, đăng ký, đề nghị về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các địa chỉ, kênh thông tin thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; tuân thủ pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật có liên quan; chịu trách nhiệm về các nội dung, thông tin đã cung cấp trên không gian mạng; lưu trữ thông tin, hồ sơ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và cung cấp đầu mối thông tin, hồ sơ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu; quản lý, giám sát hoạt động của các kênh thông tin tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng thuộc trách nhiệm quản lý; đồng thời có giải pháp kỹ thuật để kiểm soát và loại bỏ các nội dung vi phạm pháp luật khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.

Bên cạnh đó, nội dung chính sách dự kiến quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo phải ngăn chặn, gỡ bỏ các nội dung vi phạm trong thời gian nhất định, kể từ khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp không thực hiện theo yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền triển khai các biện pháp kỹ thuật ngăn chặn các nội dung vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và thực hiện biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

Tại Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Ủy ban nhân dân cấp huyện được giao 09 thẩm quyền. Tuy nhiên, sau quá trình thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị và triển khai mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp của Đảng và Nhà nước, việc rà soát và điều chỉnh các thẩm quyền này là cần thiết để bảo đảm tính tương thích với thực tiễn tổ chức bộ máy mới.

Theo đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đề xuất bổ sung 05 thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã gồm: (i) Tiếp nhận thông báo mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo cho người không chuyên hoạt động tôn giáo; (ii) Tiếp nhận thông báo tổ chức hội nghị thường niên của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở một xã; (iii) Chấp thuận tổ chức đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở một xã; (iv) Chấp thuận tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo, ngoài địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức trong một xã; (v) Chấp thuận việc giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, ngoài cơ sở tôn giáo, ngoài địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức trong một xã.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ tiếp nhận 02 thẩm quyền từ Bộ Dân tộc và Tôn giáo gồm: (i) Thủ tục đề nghị cho người nước ngoài đến giảng đạo cho nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; (ii) Thủ tục đề nghị cho người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam; đồng thời thực hiện các thẩm quyền của cơ quan chuyên môn về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.

Đáng chú ý, nội dung chính sách Luật cũng dự kiến bổ sung một số quy định nhằm tiếp tục bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người như: Hợp tác quốc tế trong công tác tín ngưỡng, tôn giáo; quyền của cá nhân, tổ chức được thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; đăng ký hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng; các nội dung liên quan đến đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử; mở rộng quyền cho tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bên cạnh việc được mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo cho tổ chức, còn được mời người Việt Nam làm chức sắc cho tổ chức tôn giáo nước ngoài giảng đạo cho tổ chức…

Thứ ba, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.

Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan, nội dung chính sách Luật dự kiến bổ sung một số biện pháp có tính chất cảnh báo, khuyến cáo, răn đe, ngăn ngừa chức sắc, chức việc, nhà tu hành, một số nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung… không vi phạm pháp luật như: Thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của công dân Việt Nam; thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký hoạt động tôn giáo; thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; đình chỉ chức vụ của chức việc.

Đối với công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, nội dung chính sách Luật dự kiến quy định 09 nội dung, cụ thể:

(i) Xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

(ii) Phổ biến, giáo dục pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

(iii) Hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật; tiếp nhận và xử lý đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật; đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về tín ngưỡng, tôn giáo.

(iv) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

(v) Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

(vi) Hợp tác quốc tế về tín ngưỡng, tôn giáo.

(vii) Báo cáo về công tác thi hành pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

(viii) Thực hiện ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu về tín ngưỡng, tôn giáo.

(ix) Phân cấp, ủy quyền các nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.

Thứ tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

Nội dung chính sách Luật tiếp tục kế thừa các thủ tục hành chính theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đồng thời rà soát, lược bỏ các quy định có liên quan đến cắt giảm thành phần hồ sơ; bỏ các quy định về thành phần hồ sơ, thời hạn thực hiện các thủ tục trong Luật theo hướng giao Chính phủ quy định chi tiết và phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.

Bên cạnh đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cũng nghiên cứu đề xuất nội dung về thúc đẩy chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần xây dựng Chính phủ số, hướng tới phát triển một nền quản trị số hiện đại, minh bạch, hiệu quả, gắn với việc bảo đảm an toàn thông tin và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể tôn giáo.

Thùy Dung

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghip ln thtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, s nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.

Theo dõi chúng tôi trên: