![]() |
| Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thông báo, đăng ký, đề nghị về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo (Ảnh minh họa) |
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 2, đến nay đã tạo ra những chuyển biến tích cực, tiến bộ, bảo đảm cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng đi vào nền nếp; đồng thời, quyền của cá nhân, tổ chức trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cũng được các cơ quan nhà nước quan tâm thực hiện.
Tuy nhiên, quá trình triển khai Luật phát sinh những tồn tại, hạn chế như: Một số cách giải thích của Luật chưa cụ thể; nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang diễn ra nhưng Luật chưa có quy định điều chỉnh; nhiều quy định trong Luật chưa được phân cấp, phân quyền, chưa thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính… Bên cạnh đó, bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới một số Luật liên quan trong thời gian qua đã đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Tín ngưỡng, tôn giáo nhằm phù hợp với tình hình mới, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật.
Trên cơ sở đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã nghiên cứu xây dựng chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (chính sách Luật) với một số nội dung dự kiến quy định cụ thể:
Thứ nhất, xác lập nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là việc các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên báo điện tử, trang thông tin điện tử, mạng xã hội, ứng dụng trực tuyến, nền tảng số trên không gian mạng.
Trong đó, chủ thể thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng gồm tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo như: Người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung, tổ chức, cá nhân khác quy định được thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
Đặc biệt, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo trên không gian mạng phải tuân thủ 04 quy định gồm: (i) Không vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm; (ii) Bảo đảm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; (iii) Có nội dung nhận diện rõ ràng để phân biệt giữa nội dung hoạt động tín ngưỡng của cơ sở tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung với các nội dung khác; (iv) Các quy định của pháp luật về an ninh, an toàn thông tin mạng.
Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân này cũng có trách nhiệm thông báo, đăng ký, đề nghị về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các địa chỉ, kênh thông tin thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; tuân thủ pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật có liên quan; chịu trách nhiệm về các nội dung, thông tin đã cung cấp trên không gian mạng; lưu trữ thông tin, hồ sơ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và cung cấp đầu mối thông tin, hồ sơ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu; quản lý, giám sát hoạt động của các kênh thông tin tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng thuộc trách nhiệm quản lý; đồng thời có giải pháp kỹ thuật để kiểm soát và loại bỏ các nội dung vi phạm pháp luật khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
Bên cạnh đó, nội dung chính sách dự kiến quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo phải ngăn chặn, gỡ bỏ các nội dung vi phạm trong thời gian nhất định, kể từ khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp không thực hiện theo yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền triển khai các biện pháp kỹ thuật ngăn chặn các nội dung vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và thực hiện biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Tại Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Ủy ban nhân dân cấp huyện được giao 09 thẩm quyền. Tuy nhiên, sau quá trình thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị và triển khai mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp của Đảng và Nhà nước, việc rà soát và điều chỉnh các thẩm quyền này là cần thiết để bảo đảm tính tương thích với thực tiễn tổ chức bộ máy mới.
Theo đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đề xuất bổ sung 05 thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã gồm: (i) Tiếp nhận thông báo mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo cho người không chuyên hoạt động tôn giáo; (ii) Tiếp nhận thông báo tổ chức hội nghị thường niên của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở một xã; (iii) Chấp thuận tổ chức đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở một xã; (iv) Chấp thuận tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo, ngoài địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức trong một xã; (v) Chấp thuận việc giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, ngoài cơ sở tôn giáo, ngoài địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức trong một xã.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ tiếp nhận 02 thẩm quyền từ Bộ Dân tộc và Tôn giáo gồm: (i) Thủ tục đề nghị cho người nước ngoài đến giảng đạo cho nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; (ii) Thủ tục đề nghị cho người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam; đồng thời thực hiện các thẩm quyền của cơ quan chuyên môn về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Đáng chú ý, nội dung chính sách Luật cũng dự kiến bổ sung một số quy định nhằm tiếp tục bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người như: Hợp tác quốc tế trong công tác tín ngưỡng, tôn giáo; quyền của cá nhân, tổ chức được thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; đăng ký hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng; các nội dung liên quan đến đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử; mở rộng quyền cho tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bên cạnh việc được mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo cho tổ chức, còn được mời người Việt Nam làm chức sắc cho tổ chức tôn giáo nước ngoài giảng đạo cho tổ chức…
Thứ ba, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan, nội dung chính sách Luật dự kiến bổ sung một số biện pháp có tính chất cảnh báo, khuyến cáo, răn đe, ngăn ngừa chức sắc, chức việc, nhà tu hành, một số nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung… không vi phạm pháp luật như: Thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của công dân Việt Nam; thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký hoạt động tôn giáo; thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; đình chỉ chức vụ của chức việc.
Đối với công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, nội dung chính sách Luật dự kiến quy định 09 nội dung, cụ thể:
(i) Xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
(ii) Phổ biến, giáo dục pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
(iii) Hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật; tiếp nhận và xử lý đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật; đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về tín ngưỡng, tôn giáo.
(iv) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
(v) Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
(vi) Hợp tác quốc tế về tín ngưỡng, tôn giáo.
(vii) Báo cáo về công tác thi hành pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
(viii) Thực hiện ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu về tín ngưỡng, tôn giáo.
(ix) Phân cấp, ủy quyền các nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung chính sách Luật tiếp tục kế thừa các thủ tục hành chính theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đồng thời rà soát, lược bỏ các quy định có liên quan đến cắt giảm thành phần hồ sơ; bỏ các quy định về thành phần hồ sơ, thời hạn thực hiện các thủ tục trong Luật theo hướng giao Chính phủ quy định chi tiết và phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.
Bên cạnh đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cũng nghiên cứu đề xuất nội dung về thúc đẩy chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần xây dựng Chính phủ số, hướng tới phát triển một nền quản trị số hiện đại, minh bạch, hiệu quả, gắn với việc bảo đảm an toàn thông tin và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể tôn giáo.