Thứ tư 01/07/2026 00:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện cơ chế quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.

1. Vị trí việc làm trong quản lý và sử dụng viên chức

Theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật Viên chức năm 2025[1], vị trí việc làm là công việc gắn với chức vụ, chức danh viên chức trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL). Quy định mới xác định vị trí việc làm không chỉ là tên gọi công việc mà là cơ sở pháp lý cốt yếu để thực hiện tuyển dụng[2], bố trí, sử dụng và quản lý viên chức[3].

Để hướng dẫn chi tiết, Điều 3 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm của viên chức (Nghị định số 232/2026/NĐ-CP) đã chuẩn hóa các khái niệm, bao gồm: Danh mục vị trí việc làm là hệ thống các vị trí được quy định thống nhất về tên gọi, làm cơ sở để ĐVSNCL xác định danh mục cụ thể phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của đơn vị (khoản 1). Danh mục này được phân loại cụ thể tại Điều 6 thành nhóm quản lý, chuyên môn nghiệp vụ và hỗ trợ. Bản mô tả công việc là văn bản xác định mục tiêu, công việc, kết quả, sản phẩm đầu ra, phạm vi trách nhiệm và các mối quan hệ công tác của từng vị trí[4]. Khung năng lực là tập hợp các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ và các năng lực cần thiết để thực hiện công việc của vị trí việc làm theo từng bậc nghề nghiệp[5]

Việc xác định vị trí việc làm bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch và gắn với sản phẩm đầu ra[6]. Cơ chế này nhằm cụ thể hóa chính sách của Nhà nước tại khoản 4 Điều 6 Luật Viên chức 2025 về việc tiền lương và thu nhập phải gắn với vị trí việc làm và hiệu quả công việc. Điều này giúp các đơn vị chuyển đổi triệt để mô hình quản lý theo thâm niên sang quản lý dựa trên năng lực và kết quả thực tế.

2. Phân loại vị trí việc làm viên chức

Để bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ trong quản lý, sử dụng viên chức trên phạm vi cả nước, hệ thống vị trí việc làm được phân loại dựa trên tính chất, nội dung hoạt động nghề nghiệp. Theo khoản 3 Điều 23 Luật Viên chức năm 2025 và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 6 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP, vị trí việc làm được chia thành 03 nhóm:

Vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý gắn với chức vụ quản lý trong ĐVSNCL, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện, điều hành, phân công, kiểm soát và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của đơn vị hoặc một bộ phận được giao[7]. Danh mục các vị trí được quy định tại Phụ lục I kèm theo Nghị định, bao gồm các chức danh từ người đứng đầu đơn vị đến cấp tổ trưởng, tổ phó chuyên môn.

Vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ trực tiếp thực hiện hoạt động chuyên môn cốt lõi của đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ chính. Các vị trí này đòi hỏi áp dụng kiến thức, kỹ năng chuyên sâu của ngành, lĩnh vực và có vai trò quyết định đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ của ĐVSNCL[8]. Danh mục chi tiết các vị trí chuyên môn, nghiệp vụ theo từng ngành, lĩnh vực (như y tế, giáo dục, tư pháp, nông nghiệp...) được quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định.

Vị trí việc làm hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ phục vụ, bảo đảm điều kiện hoạt động của đơn vị nhưng không trực tiếp tạo ra sản phẩm chuyên môn cốt lõi[9]. Nhóm này bao gồm các vị trí như quản lý bến xe, hỗ trợ giáo dục, thư ký y khoa, hành chính, thủ quỹ... được liệt kê cụ thể tại Phụ lục III kèm theo Nghị định.

Việc phân loại là căn cứ pháp lý để ĐVSNCL xây dựng Đề án vị trí việc làm và thực hiện các nghiệp vụ quản lý viên chức sau này. Đặc biệt, khoản 3 Điều 6 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP nghiêm cấm việc làm phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục khung do Chính phủ ban hành hoặc tự ý thay đổi tên gọi vị trí việc làm đã được xác định. Điều này đảm bảo tính kỷ cương trong việc sử dụng biên chế và quản lý đội ngũ viên chức của Nhà nước.

3. Bậc nghề nghiệp và tỷ lệ cơ cấu viên chức

Một trong những điểm mới đột phá tại Nghị định số 232/2026/NĐ-CP là thiết lập hệ thống bậc nghề nghiệp để quản lý viên chức. Theo khoản 1 Điều 7, bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm được quy định thống nhất trong phạm vi cả nước, gồm 05 bậc, từ bậc 1 đến bậc 5.

Việc bố trí viên chức vào các bậc phải căn cứ vào năng lực và yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời, việc thay đổi bậc nghề nghiệp chỉ được thực hiện thông qua các quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức (khoản 2 Điều 7). Đặc biệt, quyền lợi về tiền lương của viên chức được gắn chặt với bậc nghề nghiệp này. Theo khoản 3 Điều 7, trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới, viên chức được tuyển dụng, tiếp nhận theo quy định của Luật Viên chức sẽ áp dụng bảng lương tương ứng với từng bậc.

Song song với việc xác định bậc, Nhà nước thực hiện quản lý chặt chẽ thông qua việc quy định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp tại Điều 10 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP. Mục đích đảm bảo cơ cấu đội ngũ hợp lý, tránh tình trạng mất cân đối trong ĐVSNCL. Cụ thể:

- Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 5: Tỷ lệ ở bậc 5 không vượt quá 30%; tỷ lệ ở bậc thấp hơn gần nhất (bậc 4) không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được giao cho vị trí đó.

- Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 4: Tỷ lệ ở bậc 4 không vượt quá 40% tổng số biên chế được giao.

- Trường hợp vị trí việc làm chỉ xác định sử dụng 02 bậc nghề nghiệp: Tỷ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50% tổng số biên chế được giao.

Cần lưu ý, theo khoản 4 Điều 10, tỷ lệ này không áp dụng đối với những vị trí việc làm không xác định bậc hoặc chỉ có duy nhất một bậc. Đối với các ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị có quyền tự quyết định tỷ lệ này phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính, thay vì áp dụng cứng nhắc các tỷ lệ nêu trên (khoản 3 Điều 10).

Quy định này cụ thể hóa chính sách của Nhà nước tại khoản 4 Điều 6 Luật Viên chức năm 2025 về việc tiền lương và thu nhập phải bảo đảm công bằng, gắn với vị trí việc làm và hiệu quả công việc.

4. Thẩm quyền và trình tự phê duyệt vị trí việc làm

Điều 11 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP quy định thẩm quyền phê duyệt nhằm phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước và tính tự chủ của ĐVSNCL.

Về thẩm quyền phê duyệt được xác định như sau: ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư có thẩm quyền tự quyết định phê duyệt vị trí việc làm đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý (điểm a khoản 1). Đối với các ĐVSNCL không thuộc trường hợp nêu trên, thẩm quyền phê duyệt thuộc về Bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Các cơ quan này có thể thực hiện phê duyệt trực tiếp hoặc phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý ĐVSNCL cấp dưới thực hiện (điểm b khoản 1).

Về hồ sơ đề nghị phê duyệt bao gồm 05 nội dung bắt buộc: (1) Văn bản đề nghị; (2) Danh mục vị trí việc làm; (3) Bản mô tả công việc và khung năng lực; (4) Các bậc nghề nghiệp được sử dụng; (5) Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp (khoản 2).

Về trình tự thực hiện: Đối với đơn vị do cấp trên phê duyệt (hoặc phân cấp, ủy quyền): ĐVSNCL lập hồ sơ gửi cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ. Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan tham mưu phải hoàn thành việc rà soát, thẩm định và trình cấp có thẩm quyền xem xét (điểm c khoản 3). Cấp có thẩm quyền ban hành quyết định phê duyệt trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản báo cáo (điểm d khoản 3). Đối với đơn vị tự chủ (tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư): Đơn vị lập hồ sơ theo quy định, tổ chức thẩm định nội bộ và người đứng đầu đơn vị ban hành quyết định phê duyệt (khoản 4).

Theo quy định tại khoản 6 Điều 11, quyết định phê duyệt vị trí việc làm là căn cứ pháp lý bắt buộc để ĐVSNCL thực hiện tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý viên chức. Việc thực hiện đúng trình tự, thẩm quyền không chỉ đảm bảo tính hợp pháp mà còn là cơ sở để bảo vệ quyền lợi về vị trí và bậc nghề nghiệp của viên chức tại đơn vị.

5. Phân cấp, phân quyền và trách nhiệm trong quản lý vị trí việc làm

Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước đối với đội ngũ viên chức[10], đồng thời đẩy mạnh cơ chế phân cấp, phân quyền trong quản lý. Theo đó Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về viên chức[11], Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý, chủ trì xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn về vị trí việc làm và bậc nghề nghiệp trên phạm vi cả nước[12].

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo việc xác định vị trí việc làm, bậc nghề nghiệp và xây dựng bản mô tả công việc, khung năng lực tại các đơn vị thuộc phạm vi quản lý. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp phê duyệt hoặc phân cấp, ủy quyền phê duyệt vị trí việc làm cho các ĐVSNCL thuộc thẩm quyền[13]

Người đứng đầu ĐVSNCL có nghĩa vụ lãnh đạo, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của đơn vị[14]. Theo Điều 15 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP, người đứng đầu có trách nhiệm xác định vị trí việc làm, xây dựng hồ sơ đề nghị phê duyệt và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, thực tế của danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực tại đơn vị.

Việc ban hành Nghị định số 232/2026/NĐ-CP là bước đi cụ thể hóa Luật Viên chức năm 2025. Với tinh thần lấy vị trí việc làm làm trung tâm, quy định mới không chỉ giúp Nhà nước quản lý chặt chẽ biên chế mà còn mở ra cơ hội phát triển công bằng cho mọi viên chức dựa trên thực lực. Các cơ quan, ĐVSNCL và mỗi viên chức cần chủ động nghiên cứu, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực thi hiệu quả các quy định mới từ ngày 01/7/2026, góp phần xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, tinh gọn và hiệu quả.


[1] Luật số 129/2025/QH15 được thông qua ngày 10/12/2025 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV

[2] Điều 15 Luật Viên chức 2025.

[3] Khoản 2 Điều 3 Luật Viên chức 2025.

[4] Khoản 3 Điều 3 và Điều 8 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[5] Khoản 4 Điều 3 và Điều 8 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[6] Điều 5 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[7] Khoản 6 Điều 3 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[8] Khoản 7 Điều 3 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[9] Khoản 8 Điều 3 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[10] Điều 3 Luật Viên chức năm 2025.

[11] Điều 39 Luật Viên chức năm 2025.

[12] Điều 13 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[13] Điều 14 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[14] Điều 9 Luật Viên chức năm 2025.

(Ảnh: Internet)

Hoàng Lan

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Theo dõi chúng tôi trên: