Thứ hai 05/10/2026 05:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra

Tóm tắt: Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là vấn đề quan trọng cần xác định nhằm xử lý các vi phạm hành chính của đối tượng thanh tra. Trên cơ sở nghiên cứu quy định pháp luật thanh tra và pháp luật xử lý vi phạm hành chính, nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người tiến hành thanh tra. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trình tự, thủ tục thanh tra hiện hành làm cho việc thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra không khả thi. Đồng thời, hoạt động thanh tra chuyên ngành ở bộ, cơ quan ngang bộ (nơi không có Thanh tra Bộ) được chuyển giao cho Thanh tra Chính phủ (trừ một số trường hợp luật định), ở sở chuyển giao cho Thanh tra tỉnh nhưng quyết định thanh tra của Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính làm ảnh hưởng đến hiệu quả của việc xử lý kịp thời các hành vi vi phạm hành chính được phát hiện qua thanh tra. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra.

Từ khóa: thẩm quyền; thanh tra; vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; người tiến hành thanh tra.

Nhận bài: 09/6/2026 Hoàn thành biên tập: 15/6/2026 Duyệt đăng: 18/6/2026

Authority to impose administrative penalties in inspection activities

Abstract: The authority to impose administrative penalties is a crucial issue that needs to be determined in order to handle administrative violations committed by inspected entities. Based on research into inspection laws and laws on handling administrative violations, this study focuses on analyzing and evaluating the authority of inspectors to impose administrative penalties. The research results show that the current inspection procedures make it impractical for the Head of the Inspection Team and its members to exercise their authority to impose administrative penalties. Furthermore, specialized inspection activities at ministries and ministerial-level agencies (where there is no Ministry Inspectorate) are transferred to the Government Inspectorate (except in certain legally defined cases), and at the departmental level, they are transferred to the Provincial Inspectorate. However, the inspection decisions of the Government Inspectorate and the Provincial Inspectorate do not have the authority to impose administrative penalties, affecting the effectiveness of promptly handling administrative violations discovered through inspections. Based on this, the study proposes several recommendations to contribute to the improvement of the law on the authority to impose administrative penalties in inspection activities.

Keywords: Authority; inspection; administrative violations; authority to impose administrative penalties; inspectors.

Article received: 09/6/2026 Editing completed: 15/6/2026 Approved for publication: 18/6/2026

Đặt vấn đề

Thanh tra là một khâu cơ bản của quản lý nhà nước. Hoạt động thanh tra được tiến hành nhằm xem xét, đánh giá, kết luận, kiến nghị xử lý đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng quản lý của chủ thể quản lý nhà nước. Có thể là “việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nước”[1] hoặc “pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý theo ngành, lĩnh vực”[2].

Hành vi vi phạm hành chính của đối tượng thanh tra trong thanh tra theo ngành, lĩnh vực cần được phát hiện và xử lý kịp thời theo quy định pháp luật. Về mặt lý luận, thẩm quyền xử phạt của thanh tra được hình thành từ nguyên tắc “chỉ những chủ thể được luật trao quyền mới được phép áp dụng chế tài hành chính”[3]. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được xác lập phụ thuộc vào thẩm quyền quản lý của chủ thể quản lý nhà nước do pháp luật quy định[4]. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính xác định phạm vi quyền lực nhà nước được giao cho cá nhân, tổ chức để áp dụng các hình thức xử phạt hành chính[5]. Do đó, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đóng vai trò quan trọng trong xử lý vi phạm hành chính của đối tượng thanh tra. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra được Luật Thanh tra năm 2025 tiếp tục trao cho người tiến hành thanh tra. Theo đó, người tiến hành thanh tra khi phát hiện vi phạm hành chính của đối tượng thanh tra có quyền kiến nghị xử phạt hoặc xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nhằm bảo đảm một trong những mục đích cơ bản của hoạt động thanh tra là “phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật”[6]. Tuy nhiên, pháp luật thanh tra và pháp luật xử lý vi phạm hành chính chưa bảo đảm sự đồng bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý vi phạm hành chính của đối tượng thanh tra nói riêng, hoạt động thanh tra nói chung. Trên cơ sở phân tích các quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra, làm rõ những bất cập, hạn chế, từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm hiệu quả thực thi thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra.

1. Quy định pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra

Luật Thanh tra năm 2022 quy định cơ quan tiến hành thanh tra chuyên ngành gồm cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực (Thanh tra Bộ, Thanh tra Tổng cục, Cục, Thanh tra sở) và các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Điều 46 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) trước khi được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 88/2025/QH15 đã quy định chi tiết thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của thanh tra. Theo đó, những chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra gồm: (i) Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành[7] đang thi hành công vụ; (ii) Chánh thanh tra sở và Chánh thanh tra Cục thuộc Tổng cục và tương đương, Chi cục trưởng Chi cục được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt tương đương; (iii) Chánh Thanh tra cơ quan thuộc Chính phủ, Chánh Thanh tra tỉnh, Cục trưởng các Cục và các chức danh tương đương của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành được Chính phủ quy định. Đồng thời, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp bộ, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành do Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam thành lập có thẩm quyền xử phạt tương đương; (iv) Chánh Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, Tổng cục trưởng các Tổng cục và Cục trưởng các Cục được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành được Chính phủ quy định.

Luật Thanh tra năm 2025 quy định tổ chức bộ máy thanh tra theo hướng tinh, gọn, cơ quan thanh tra theo cấp hành chính gồm Thanh tra Chính phủ ở trung ương, Thanh tra tỉnh ở địa phương; các cơ quan thanh tra theo ngành lĩnh vực được tổ chức trong hệ thống Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thanh tra cơ yếu và 04 cơ quan thanh tra theo điều ước quốc tế (Thanh tra Ủy ban chứng khoán nhà nước, Thanh tra An toàn bức xạ và hạt nhân, Thanh tra hàng không Việt Nam và Thanh tra hàng hải Việt Nam); Thanh tra Bộ, Thanh tra Tổng cục, Cục và Thanh tra sở bị giải thể. Đồng thời, Luật không quy định về thiết chế các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Luật Thanh tra năm 2025 đã xác lập nguyên tắc “hoạt động thanh tra chỉ do cơ quan thanh tra tiến hành”. Tuy nhiên, Luật Thanh tra năm 2025 vẫn tiếp tục kế thừa quy định của Luật Thanh tra năm 2022 trao thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho người tiến hành thanh tra[8], gồm người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra và thành viên Đoàn thanh tra (khoản 2 Điều 2). Theo điểm q khoản 1 Điều 38, điểm k khoản 1 Điều 39 và điểm c khoản 1 Điều 40 Luật Thanh tra năm 2025, người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra có quyền “kiến nghị xử phạt hoặc xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính”.

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung các năm 2020, 2025 (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của thanh tra tại điểm d, điểm đ, điểm e khoản 1 Điều 37a. Đồng thời, Điều 7 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định số 189/2025/NĐ-CP) liệt kê chi tiết thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra viên, Trưởng đoàn thanh tra trong thời hạn thanh tra, Chánh thanh tra của các cơ quan thanh tra trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thanh tra cơ yếu và các cơ quan thanh tra theo điều ước quốc tế.

Nhìn chung, ở góc độ pháp luật, Luật Thanh tra năm 2025 chỉ quy định khái quát thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người tiến hành thanh tra, còn thẩm quyền xử phạt theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Do đó, thực tiễn thực thi thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người tiến hành thanh tra phụ thuộc vào pháp luật xử lý vi phạm hành chính.

2. Một số bất cập về thẩm quyền xử phạt vi phạm pháp luật hành chính trong hoạt động thanh tra

Năm 2023, lực lượng thanh tra chuyên ngành đã ban hành 126.158 quyết định xử phạt vi phạm hành chính[9]. Năm 2024, lực lượng thanh tra chuyên ngành đã ban hành 105.108 quyết định xử phạt vi phạm hành chính[10]. Năm 2025, lực lượng thanh tra đã xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân với số tiền 2.880 tỷ đồng; kiến nghị xem xét, xử lý hành chính 2.187 tập thể và 5.400 cá nhân (báo cáo không đề cập đến số liệu các quyết định xử phạt vi phạm hành chính)[11].

Những số liệu này cho thấy, việc phát hiện và xử lý vi phạm hành chính là hoạt động không thể thiếu trong hoạt động thanh tra của ngành Thanh tra. Trong bối cảnh sắp xếp, tinh, gọn hệ thống chính trị nói chung, ngành Thanh tra nói riêng, các cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực (bộ, cơ quan ngang bộ; sở và tương đương[12]) không thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành mà chuyển thành kiểm tra chuyên ngành theo Nghị định số 217/2025/NĐ-CP ngày 05/8/2025 của Chính phủ về hoạt động kiểm tra chuyên ngành (Nghị định số 217/2025/NĐ-CP). Hoạt động thanh tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực của các bộ, cơ quan ngang bộ ở trung ương chuyển giao về Thanh tra Chính phủ; hoạt động thanh tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh chuyển giao cho Thanh tra tỉnh. Tuy nhiên, quy định pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người tiến hành thanh tra còn tồn tại bất cập một số, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của ngành Thanh tra. Cụ thể:

Thứ nhất, về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên của Đoàn thanh tra trong thanh tra chuyên ngành của các cơ quan thanh tra trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Cơ yếu, cơ quan thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế.

Mặc dù cả Luật Thanh tra năm 2025 và Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đều quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên trong thời hạn thanh tra nhưng thiếu đồng bộ giữa pháp luật thanh tra và pháp luật xử lý vi phạm hành chính cũng như thực tiễn hoạt động thanh tra, nên việc thực thi thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của hai chủ thể này là rất hạn chế.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đoàn thanh tra trong thời hạn thanh tra, Thanh tra viên khó khả thi, bởi sự ràng buộc của trình tự, thủ tục thanh tra. Luật Thanh tra năm 2025 thiết kế quy trình thanh tra gắn với bản chất của cuộc thanh tra công vụ hơn là thanh tra việc chấp hành quy tắc quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Cụ thể, Điều 21 Luật Thanh tra năm 2025 quy định trình tự, thủ tục thanh tra gồm các giai đoạn: (i) chuẩn bị thanh tra (thu thập thông tin để chuẩn bị thanh tra; ban hành quyết định thanh tra; xây dựng và gửi đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo; thông báo về việc công bố quyết định thanh tra); (ii) tiến hành thanh tra trực tiếp (công bố quyết định thanh tra; thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra; kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu; kết thúc việc tiến hành thanh tra trực tiếp); (iii) kết thúc cuộc thanh tra (báo cáo kết quả thanh tra; xây dựng dự thảo kết luận thanh tra; thẩm định dự thảo kết luận thanh tra; ban hành kết luận thanh tra; công khai kết luận thanh tra). Quy trình này không tồn tại các hoạt động lập biên bản vi phạm pháp luật, ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền của Thanh tra viên, Trưởng đoàn thanh tra nếu phát hiện vi phạm hành chính của đối tượng thanh tra. Trước đây, Luật Thanh tra năm 2022 quy định về thẩm quyền này trong giai đoạn tiến hành thanh tra trực tiếp của hoạt động thanh tra chuyên ngành (điểm b khoản 1 Điều 50). Hành vi vi phạm hành chính của đối tượng thanh tra (nếu có) sẽ được xác định trong kết luận thanh tra. Trên cơ sở đó, người ra kết luận thanh tra (Thủ trưởng cơ quan thanh tra) xử phạt hoặc kiến nghị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Lập biên bản vi phạm là thủ tục bắt buộc trong trình tự, thủ tục xử lý vi phạm hành chính (04 bước của thủ tục xử phạt vi phạm hành chính gồm: (i) lập biên bản vi phạm hành chính; (ii) xác minh tình tiết vụ việc; (iii) giải trình (nếu có); (iv) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính)[13], trừ trường hợp không phải lập biên bản theo quy định tại Điều 57 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[14], kể cả đối với trường hợp phát hiện vi phạm hành chính bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, người có thẩm quyền sau khi xác định chủ thể vi phạm thì phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định (Điều 64 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) và không có quy định cho phép sử dụng văn bản khác để thay thế biên bản vi phạm để làm cơ sở ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Vì thế, thẩm quyền “kiến nghị xử phạt hoặc xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính” của Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên của Đoàn thanh tra tại điểm k khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 40 Luật Thanh tra năm 2025 đối với hành vi vi phạm hành chính của đối tượng thanh tra trong thời hạn thanh tra không bảo đảm tính khả thi, bởi họ không có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính. Điều này cho thấy sự khác biệt so với thẩm quyền của Trưởng đoàn, thành viên Đoàn kiểm tra chuyên ngành. Những chủ thể này có quyền “lập biên bản vi phạm hành chính, buộc chấm dứt hành vi vi phạm, xử phạt vi phạm hành chính và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (khoản 3 Điều 8 Nghị định số 217/2025/NĐ-CP) và được bảo đảm bởi thủ tục xử lý vi phạm và tổ chức thực hiện quyết định xử lý về kiểm tra chuyên ngành cụ thể trong trình tự, thủ tục kiểm tra chuyên ngành (Điều 15, Điều 16 Nghị định số 217/2025/NĐ-CP).

Thứ hai, về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người tiến hành thanh tra của Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh.

Người tiến hành thanh tra nói chung có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo Luật Thanh tra năm 2025. Tuy nhiên, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định số 189/2025/NĐ-CP không quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người tiến hành thanh tra thuộc Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh, mà chỉ quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người tiến hành thanh tra thuộc các cơ quan thanh tra trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thanh tra cơ yếu, các cơ quan thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế. Điều này cho thấy, nội dung thanh tra chủ yếu của Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh là việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân (thanh tra hành chính), còn việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực là nội dung hoạt động kiểm tra chuyên ngành do các bộ, cơ quan ngang bộ ở trung ương, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh thực hiện theo quy định của Nghị định số 217/2025/NĐ-CP.

(i) Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người tiến hành thanh tra của Thanh tra Chính phủ.

Trước đây, khi cơ quan thanh tra được tổ chức ở các bộ, cơ quan ngang bộ thì hoạt động thanh tra chuyên ngành do các cơ quan thanh tra thực hiện, Thanh tra Chính phủ tập trung thực hiện hoạt động thanh tra hành chính. Theo đó, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra chuyên ngành của người ra quyết định thanh tra trao cho Chánh thanh tra ở các bộ, cơ quan ngang bộ, không trao cho người tiến hành thanh tra của Thanh tra Chính phủ là hợp lý.

Tuy nhiên, khi sắp xếp lại hệ thống thanh tra, chức năng thanh tra theo ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước các bộ, cơ quan ngang bộ được chuyển giao cho Thanh tra Chính phủ. Cụ thể, tại điểm đ khoản 1 Điều 10 Luật Thanh tra năm 2025 quy định Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền “Thanh tra việc chấp hành pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ không có Thanh tra Bộ”. Trường hợp người tiến hành thanh tra của Thanh tra Chính phủ tiến hành thanh tra theo ngành, lĩnh vực phát hiện vi phạm hành chính của đối tượng thanh tra thì không có quyền lập biên bản vi phạm, cũng không có quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bởi vì không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và trình tự, thủ tục thanh tra không quy định thủ tục lập biên bản vi phạm hành chính trong quá trình thanh tra. Do đó, người tiến hành thanh tra trong trường hợp này là người ra quyết định thanh tra (Tổng thanh tra Chính phủ) ban hành kết luận thanh tra và chuyển hồ sơ kiến nghị người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Mặc dù Điều 4 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP quy định về xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa làm rõ người có thẩm quyền cao nhất ở bộ, ngành trung ương là chủ thể nào. Ngay cả trong trường hợp xác định cụ thể được thì cũng chưa hợp lý khi Tổng thanh tra Chính phủ chỉ ban hành kết luận thanh tra, sau đó phải “kiến nghị” Thủ trưởng của một cục thuộc bộ, cơ quan ngang bộ xử phạt vi phạm hành chính mà không phải là Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ đồng cấp.

(ii) Về thẩm quyết xử phạt vi phạm hành chính của người tiến hành thanh tra của Thanh tra tỉnh.

Chánh thanh tra tỉnh là Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Mặc dù, điểm c khoản 1 Điều 37a Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định “Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh” có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng Nghị định số 189/2025/NĐ-CP chỉ quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Giám đốc sở. Theo đó, Chánh thanh tra tỉnh không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Việc Nghị định số 189/2025/NĐ-CP giới hạn thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp này chưa phù hợp với nguyên tắc pháp quyền[15]. Đồng thời, Nghị định số 189/2025/NĐ-CP không liệt kê thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên của Đoàn thanh tra trong thời hạn thanh tra. Như vậy, người tiến hành thanh tra của Thanh tra tỉnh không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định số 189/2025/NĐ-CP.

Điểm c khoản 1 Điều 16 Luật Thanh tra năm 2025 quy định Thanh tra tỉnh có thẩm quyền “Thanh tra việc chấp hành pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh”.

Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính của đối tượng thanh tra, người tiến hành thanh tra của Thanh tra tỉnh không có quyền lập biên bản vi phạm hành chính, không có quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Căn cứ vào kết luận thanh tra, Chánh thanh tra tỉnh ban hành văn bản kiến nghị và chuyển hồ sơ thanh tra đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là Giám đốc sở hoặc Chủ tịch UBND tỉnh theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính.

Việc không quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người tiến hành thanh tra của Thanh tra tỉnh trong hoạt động thanh tra chuyên ngành là chưa hợp lý, vì không bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả trong xử lý các vi phạm hành chính, không bảo đảm được mục đích của hoạt động thanh tra là “phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật”.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra cần được hoàn thiện theo hướng sau:

Thứ nhất, về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên của Đoàn thanh tra trong thời hạn thanh tra chuyên ngành.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra viên, Trưởng đoàn thanh tra trong thời hạn thanh tra mặc dù được Luật Thanh tra năm 2025 và Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định nhưng khó bảo đảm tính khả thi. Do đó, cần bổ sung quy định Thanh tra viên, Trưởng đoàn thanh tra trong thời hạn thanh tra có thẩm quyền lập biên bản vi phạm và ra quyết định xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính của đối tượng thanh tra trong giai đoạn tiến hành thanh tra trực tiếp. Bởi “trong xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ chứng minh vi phạm thuộc về người có thẩm quyền xử phạt”[16], nếu không có biên bản vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền không có cơ sở để ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Nếu cho rằng, những vụ việc thanh tra theo ngành, lĩnh vực phải là những vụ việc có quy mô lớn, phức tạp, phần còn lại thuộc về hoạt động kiểm tra chuyên ngành do các chủ thể quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực đảm trách nhằm tránh trùng lắp, chồng chéo thẩm quyền giữa thanh tra và kiểm tra chuyên ngành thì không cần thiết tiếp tục giao thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho Thanh tra viên, Trưởng đoàn thanh tra trong thời hạn thanh tra. Việc xử phạt hoặc kiến nghị xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành sau khi có kết luận thanh tra. Nghiên cứu cho thấy, quy định về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính của Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên của Đoàn thanh tra trong thời hạn thanh tra nhằm tạo căn cứ để người có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là cần thiết. Tuy nhiên, không cần thiết trao quyền xử phạt vi phạm hành chính cho Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên của Đoàn thanh tra, bởi hoạt động thanh tra được thực hiện theo phương thức Đoàn thanh tra, kết luận thanh tra là văn bản chính thức xác định kết quả cuối cùng của cuộc thanh tra và các hoạt động xử lý sau thanh tra dựa trên cơ sở nội dung của kết luận thanh tra, trong đó có xử phạt hoặc kiến nghị của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và nghị định quy định chi tiết về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính không quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên của Đoàn thanh tra mà chỉ quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho Chánh thanh tra của cơ quan thanh tra của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Ngân hàng nhà nước, Thanh tra cơ yếu, các cơ quan thanh tra theo điều ước quốc tế.

Thứ hai, về thẩm quyền xử phạt hành chính của người tiến hành thanh tra của Thanh tra Chính phủ và Thanh tra tỉnh.

Quan điểm thống nhất không trao thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho người tiến hành thanh tra là Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên của Đoàn thanh tra trong thời hạn thanh tra của các cuộc thanh tra chuyên ngành. Tuy nhiên, Luật Thanh tra năm 2025 cần bổ sung thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong quá trình thanh tra để bảo đảm có cơ sở pháp lý ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Luật Thanh tra năm 2025 trao quyền kiến nghị xử phạt hoặc xử phạt vi phạm hành chính của người ra quyết định thanh tra, trong đó, gồm Tổng thanh tra Chính phủ và Chánh thanh tra tỉnh nhưng Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 loại trừ 02 chủ thể này là chưa hợp lý, tạo khoảng trống pháp lý, trong khi thẩm quyền thanh tra theo ngành, lĩnh vực được chuyển giao từ Thanh tra bộ về Thanh tra Chính phủ, từ Thanh tra sở về Thanh tra tỉnh. Do đó, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cần quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho Tổng thanh tra Chính phủ và Chánh thanh tra tỉnh để bảo đảm tính đồng bộ với Luật Thanh tra năm 2025, đồng thời, giải quyết khoảng trống pháp lý về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra. Kết luận Pháp luật quy định người tiến hành thanh tra có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhằm bảo đảm xử lý kịp thời vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra là cần thiết. Tuy nhiên, hiện còn tồn tại những bất cập về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người tiến hành thanh tra. Với hệ thống thanh tra và quy định về kiểm tra chuyên ngành hiện nay, việc xác định lại thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người tiến hành thanh tra là cần thiết nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra và xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam trong thời gian tới.

ThS. Nguyễn Văn Trí & ThS. Phạm Thị Phương Thảo

Khoa Luật Hành chính - Nhà nước, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Ảnh: Internet

[1]. Khoản 2 Điều 2 Luật Thanh tra năm 2022.

[2]. Khoản 3 Điều 2 Luật Thanh tra năm 2022.

[3]. Matthew Dyson, Benjamin Vogel (2021), The Limits of Criminal Law Anglo-German Concepts and Principles, Published online by Cambridge University Press, pp. 333 - 342, DOI: https://doi.org/10.1017/9781780687988.017.

[4]. Trần Thị Hiền (2003), Về nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Luật học, số Đặc san về xử lý vi phạm hành chính, tr.24.

[5]. Trần Thị Hiền (2011), Hoàn thiện về hình thức, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Luật học, Số 11, tr.20.

[6]. Điều 3 Luật Thanh tra năm 2025.

[7]. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành chính thức xóa bỏ theo Luật Thanh tra năm 2022.

[8]. Khoản 2 Điều 2 Luật Thanh tra năm 2025.

[9]. Báo cáo số 34/BC-TTCP ngày 09/01/2024 của Thanh tra Chính phủ về tổng kết năm 2023 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2024.

[10]. Báo cáo số 51/BC-TTCP ngày 10/01/2025 của Thanh tra Chính phủ về tổng kết năm 2024 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2025 của ngành Thanh tra.

[11]. Báo cáo số 142/BC-TTCP ngày 08/01/2026 của Thanh tra Chính phủ về tổng kết năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 của ngành Thanh tra.

[12]. “Sở và tương đương” được gọi là cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.

[13]. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2023), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam (tái bản lần 1, có sửa đổi bổ sung), Nxb. Hồng Đức, tr.524-528.

[14]. Những trường hợp xử phạt vi phạm hành chính mà không phải lập biên bản là xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính có mức phạt đến 500.000 đồng đối với cá nhân, 1.000.000 đồng đối với tổ chức hoặc hành vi vi phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến (Điều 56 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012).

[15]. Cao Vũ Minh (2020), Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1, tr.18.

[16]. Cao, V.M. (2022), Assessing the humanity in the legal provisions on sanctioning administrative violations in Vietnam, Journal of Legal, Ethical and Regulatory Issues, 25(5).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cao Vũ Minh (2020), Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1.

2. Cao, V.M. (2022), Assessing the humanity in the legal provisions on sanctioning administrative violations in Vietnam, Journal of Legal, Ethical and Regulatory Issues, 25(5).

3. Matthew Dyson, Benjamin Vogel (2021), The Limits of Criminal Law Anglo-German Concepts and Principles, Published online by Cambridge University Press., pp. 333 - 342, DOI: https://doi. org/10.1017/9781780687988.017.

4. Trần Thị Hiền (2003), Về nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Luật học, Số Đặc san về xử lý vi phạm hành chính.

5. Trần Thị Hiền (2011), Hoàn thiện về hình thức, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Luật học, số 11.

6. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2023), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam (tái bản lần 1, có sửa đổi bổ sung), Nxb. Hồng Đức.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác thi hành án dân sự

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác thi hành án dân sự

Qua hơn 03 năm triển khai Chương trình số 87-CTr/BCSĐ ngày 28/6/2023 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp về hành động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thi hành án dân sự giai đoạn 2023 - 2026, Cục Quản lý Thi hành án dân sự và các cơ quan trong Hệ thống đã triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, gắn phòng ngừa với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Những kết quả đạt được góp phần nâng cao hiệu lực quản lý, chất lượng thi hành án và tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong toàn Hệ thống.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tái cấu trúc quy trình thủ tục thi hành án dân sự: Cắt giảm 96,6% chi phí tuân thủ, nâng cao trải nghiệm trên môi trường số

Tái cấu trúc quy trình thủ tục thi hành án dân sự: Cắt giảm 96,6% chi phí tuân thủ, nâng cao trải nghiệm trên môi trường số

Ngày 18/9/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 2088/QĐ-BTP phê duyệt Phương án tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Đột phá này tập trung vào thủ tục "Yêu cầu thi hành án dân sự", loại bỏ gánh nặng hồ sơ giấy, tự động hóa kết nối dữ liệu và cắt giảm tới 96,6% tổng chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Phản ánh mức độ can thiệp của Nhà nước vào quan hệ hôn nhân và gia đình, ly thân pháp lý cấu thành cơ chế mà theo đó, các bên vợ chồng được phép sống riêng nhưng vẫn duy trì giá trị pháp lý của hôn nhân, gắn với các quyền và nghĩa vụ được xác định rõ ràng. Tại Việt Nam, dù trở thành hiện tượng xã hội phổ biến, song, ly thân hiện chưa được pháp luật điều chỉnh, làm cho các quyền và nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng trong thời gian ly thân thiếu căn cứ pháp lý để xác định. Khoảng trống pháp lý này tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, cũng như của chủ thể thứ ba do thiếu biện pháp pháp lý bảo đảm tương xứng. Nghiên cứu phân tích, làm rõ khoảng trống pháp lý thông qua các số liệu thực tế, kinh nghiệm quốc tế và nền tảng lý luận về quyền con người, từ đó, đề xuất xây dựng chế định ly thân trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ thi hành án dân sự thời kỳ chuyển đổi số

Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ thi hành án dân sự thời kỳ chuyển đổi số

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tiến trình chuyển đổi số quốc gia, công tác tổ chức cán bộ tại các cơ quan Thi hành án dân sự (THADS) đóng vai trò then chốt quyết định hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật. Sự ra đời của Luật Cán bộ, công chức năm 2025, Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức (Nghị định số 170/2025/NĐ-CP) và đặc biệt là Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) đã tạo một khung pháp lý mới với những thay đổi mang tính đột phá. Hệ thống THADS phải có những bước chuyển mình mạnh mẽ trong công tác tuyển dụng, sắp xếp bộ máy, đánh giá và quản trị nguồn nhân lực. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng công chức thông qua dữ liệu thực tiễn tại tỉnh Khánh Hòa tính đến tháng 5/2026, từ đó đề xuất các giải pháp trọng tâm nhằm xây dựng đội ngũ công chức THADS chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: