Thứ sáu 24/04/2026 01:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được xây dựng nhằm giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc do quy định của Luật năm 2012; đồng thời đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đa dạng phương thức, truyền thông chính sách ngay từ khi soạn thảo.
Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc ghi nhận và đánh giá cao tinh thần làm việc trách nhiệm, khẩn trương của các thành viên Tổ soạn thảo

Ngày 23/4, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ Soạn thảo chủ trì cuộc họp Tổ Soạn thảo dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi). Đồng chí Cù Thu Anh, Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Phó Tổ trưởng Tổ soạn thảo đồng chủ trì cuộc họp.

Trao đổi tại cuộc họp, Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Phan Hồng Nguyên nhấn mạnh, các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được xây dựng nhằm giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc do quy định của Luật năm 2012; đồng thời đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đa dạng phương thức, truyền thông chính sách ngay từ khi soạn thảo; thiết lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận pháp luật, cơ chế thực hiện trách nhiệm, bảo đảm nguồn lực tương xứng và có chính sách ưu tiên cho các nhóm đặc thù.

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Phan Hồng Nguyên nhấn mạnh, các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được xây dựng nhằm giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc do quy định của Luật năm 2012

Trên cơ sở đó, 05 chính sách được đề xuất gồm:

Chính sách 1: Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nhà nước, thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật.

Chính sách 2: Điều chỉnh cơ chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp; phân quyền thành lập Hội đồng bộ, ngành theo hướng linh hoạt.

Chính sách 3: Mở rộng đối tượng đặc thù và quy định rõ trách nhiệm, chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù.

Chính sách 4: Quy định rõ nội dung, trách nhiệm giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

Chính sách 5: Bổ sung quy định về truyền thông chính sách và các phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng hiện đại, chuyển đổi số.

Chính sách 6: Bổ sung cơ chế, chính sách và nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Cù Thu Anh nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng cập nhật, đồng bộ với các chủ trương, đường lối mới của Đảng

Tại cuộc họp, Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Cù Thu Anh nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng cập nhật, đồng bộ với các chủ trương, đường lối mới của Đảng, đặc biệt là các nội dung đã được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng.

Theo đó, Cục trưởng cho biết, dự án Luật đề xuất điều chỉnh mô hình tổ chức Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng tinh gọn, phù hợp với thực tiễn tổ chức chính quyền địa phương hai cấp là cấp tỉnh và cấp xã. Đồng thời, mở ra cơ chế linh hoạt để các bộ, ngành chủ động thành lập Hội đồng khi cần thiết.

Một nội dung khác được nhấn mạnh là việc phát triển các thiết chế hỗ trợ tiếp cận pháp luật, đặc biệt, Cổng Pháp luật quốc gia được xác định là công cụ quan trọng, cần được phát huy hiệu quả nhằm phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Góp ý cụ thể đối với các nội dung, một số đại biểu cho biết, Điều 1 dự thảo Luật nêu rõ quy định về quyền được phổ biến, giáo dục pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân, tuy nhiên, dự thảo Luật chưa có điều khoản nào đề cập đến quyền này. Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tham khảo các quy định của Luật Tiếp cận thông tin, đặc biệt là các chính sách và nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân để quy định phù hợp trong dự thảo Luật, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

Liên quan đến Điều 3 dự thảo Luật về mục tiêu phổ biến, giáo dục pháp luật, đại biểu cho rằng, nội dung này chưa phù hợp để quy định trong Luật. Theo đó, các mục tiêu nên được thể hiện trong tờ trình hoặc các văn bản định hướng và Luật chỉ cần tập trung vào các quy phạm mang tính nguyên tắc. Vì vậy, đại biểu đề xuất thay việc quy định mục tiêu bằng việc xây dựng các nguyên tắc cơ bản của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật để bảo đảm tính chuẩn mực và khả thi khi áp dụng.

Các đại biểu trao đổi tại cuộc họp

Đối với Điều 6 dự thảo Luật quy định chính sách xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đại biểu cho rằng, nội dung này chưa có nhiều điểm mới so với quy định hiện hành. Theo đại biểu, dự thảo Luật chủ yếu dừng lại ở việc giao thẩm quyền cho Chính phủ căn cứ tình hình kinh tế - xã hội của từng thời kỳ và Hội đồng nhân dân căn cứ căn cứ tình hình kinh tế - xã hội của từng thời kỳ, điều kiện thực tiễn của địa phương để quy định chính sách hỗ trợ đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa thể hiện rõ các chính sách cụ thể nhằm khuyến khích và thúc đẩy xã hội hóa. Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ hơn các cơ chế, chính sách mới, đặc biệt là có sự tham gia của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Phát biểu kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc ghi nhận và đánh giá cao tinh thần làm việc trách nhiệm, khẩn trương của các thành viên Tổ soạn thảo; đồng thời khẳng định, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp thu đầy đủ các ý kiến góp ý, tổ chức rà soát kỹ lưỡng để hoàn thiện dự thảo Luật.

Về định hướng hoàn thiện, Thứ trưởng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu làm rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, bảo đảm bao quát đầy đủ, trong đó phải gắn quyền với nghĩa vụ và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của người dân; cần xác định rõ tiêu chí đối với các nhóm đối tượng đặc thù, tránh dàn trải và bảo đảm tính khả thi.

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Toàn cảnh cuộc họp

Liên quan đến việc tổ chức thực hiện, Thứ trưởng đề nghị nghiên cứu linh hoạt mô hình Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, xác định rõ nội dung mang tính bắt buộc và nội dung có thể vận dụng phù hợp với thực tiễn từng cấp, từng ngành.

Về đội ngũ thực hiện, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện quy định đối với báo cáo viên, tuyên truyền viên; nghiên cứu bổ sung lực lượng cộng tác viên để tăng tính linh hoạt, huy động chuyên gia trong các lĩnh vực cụ thể.

Đối với chính sách xã hội hóa, Thứ trưởng nhấn mạnh cần quy định cụ thể, rõ ràng hơn về cơ chế huy động nguồn lực xã hội, các chính sách ưu đãi phù hợp nhằm khuyến khích sự tham gia thực chất từ các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước.

Thùy Dung

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).
Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, chiều ngày 22/4/2026, Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định đối với dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về vị trí việc làm (dự thảo Nghị định). Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có đồng chí Trương Hải Long, Thứ trưởng Bộ Nội vụ và các thành viên Hội đồng thẩm định gồm đại diện các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, Ngoại giao, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, Giáo dục và Đào tạo; Sở Nội vụ thành phố Hà Nội và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.
Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 21/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường, về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026. Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành Phiên họp.
Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Việc thực hiện thí điểm tại 8 bộ và 10 địa phương. Thời gian thí điểm là từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028, có cơ chế xử lý chuyển tiếp đối với các vụ, việc đang thực hiện.
Quốc hội tiếp tục xem xét Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam

Quốc hội tiếp tục xem xét Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam

Tiếp tục Chương trình làm việc tại Phiên họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 20/4, Quốc hội đã nghe Tờ trình và Báo cáo Thẩm tra dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, nhằm thể chế hóa những định hướng của Đảng trong Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa của đất nước. Phiên họp diễn ra dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Chiều ngày 20/4/2026, đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định hồ sơ dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định khung tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng đối với đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức (dự thảo Nghị định). Tham dự cuộc họp có sự tham gia của đại diện Bộ Nội vụ; Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Tài chính; Bộ Ngoại giao; Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nôi;… và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Thực hiện Quyết định số 304/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức, Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức (dự thảo Nghị định) theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 để thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.
Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Một số kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Một số kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 được ban hành nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm triển khai thi hành, Luật đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện ở việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, mở rộng phạm vi và phương thức tiếp cận thông tin, cũng như nâng cao hiệu quả công khai và cung cấp thông tin trên thực tiễn. Tuy nhiên, trước bối cảnh phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, việc thực thi Luật bộc lộ một số hạn chế, bất cập cả về quy định pháp luật và tổ chức thực hiện. Trên cơ sở phân tích các kết quả đạt được, bối cảnh và những vấn đề đặt ra, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiếp cận thông tin, qua đó bảo đảm thực hiện thực chất, hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới.

Theo dõi chúng tôi trên: