Thứ tư 12/08/2026 08:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng (Luật năm 2026). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Luật năm 2026 có nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.

Giảm trực tiếp 06 loại giao dịch phải công chứng

Điểm mới đáng chú ý đầu tiên chính là Luật năm 2026 đã sửa đổi quy định về giao dịch phải công chứng nhằm thu hẹp phạm vi các giao dịch này. Theo đó, Luật đã sửa đổi khoản 1 Điều 3 Luật Công chứng năm 2024[1] theo hướng không liệt kê giao dịch phải công chứng trong Luật Công chứng mà chỉ quy định rõ hơn tiêu chí xác định giao dịch phải công chứng (bổ sung tiêu chí “đòi hỏi điều kiện tham gia giao dịch chặt chẽ”, bỏ cụm từ “hoặc luật giao Chính phủ quy định”). Việc sửa đổi này vừa giúp thu hẹp phạm vi các giao dịch phải công chứng, vừa làm rõ hơn các tiêu chí bắt buộc đối với giao dịch phải công chứng mà không bị trùng lặp, xung đột với các luật có liên quan.

Quy định sửa đổi giúp giảm trực tiếp 06 loại giao dịch phải công chứng đang được quy định trong các nghị định của Chính phủ[2], tăng số lượng giao dịch được công chứng tự nguyện theo yêu cầu. Điều này sẽ tạo thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho người dân, doanh nghiệp.

Đồng thời, các luật khác khi quy định về giao dịch phải công chứng đều phải đánh giá đầy đủ, bảo đảm giao dịch phải công chứng đáp ứng đủ các tiêu chí được Luật Công chứng quy định.

Bên cạnh đó, Luật năm 2026 còn quy định rõ Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan rà soát, cập nhật, đăng tải danh mục các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp (khoản 2 Điều 1 Luật năm 2026). Điều này giúp người dân, doanh nghiệp nắm bắt được cụ thể, rõ ràng thông tin về giao dịch phải công chứng.

Đơn giản hóa thủ tục, quán triệt nguyên tắc khai thác, sử dụng dữ liệu

Luật năm 2026 có điểm mới rất quan trọng là sửa đổi một số quy định về thủ tục công chứng và hồ sơ công chứng theo hướng đơn giản hóa, quán triệt nguyên tắc khai thác, sử dụng dữ liệu trong quá trình nộp hồ sơ và giải quyết yêu cầu công chứng, nhưng vẫn bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của mô hình công chứng nội dung (từ khoản 11 đến 15 và khoản 17 Điều 1 của Luật năm 2026).

Việc thực hiện cơ sở dữ liệu là xu hướng tất yếu của thời đại công nghệ số, đã được sử dụng ở nhiều ngành và công chứng không là ngoại lệ. Với việc khai thác, sử dụng dữ liệu có thể giảm tải nhiều loại giấy tờ cho cá nhân, tổ chức. Cơ sở dữ liệu sạch về công chứng sẽ bảo đảm tính chính xác thông tin, ngăn chặn đáng kể nguy cơ làm giả giấy tờ có thể phát sinh khi thực hiện nộp bản giấy, đồng thời giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Tuy vậy, sự thay đổi này không làm giảm tính an toàn pháp lý mà vẫn giữ được các yếu tố cơ bản của công chứng nội dung, nhất là về các quy trình để bảo đảm an toàn cho giao dịch. Luật năm 2026 cũng sửa đổi các quy định theo hướng giảm tải các thủ tục không cần thiết tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu công chứng.

Cụ thể, Luật năm 2026 bổ sung quy định về sử dụng dữ liệu thay thế khi giải quyết hồ sơ yêu cầu công chứng tại điểm b khoản 11 Điều 1 Luật năm 2026. Theo đó, trường hợp đã có dữ liệu về các thông tin trong thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng trong các cơ sở dữ liệu được cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu công bố thì người yêu cầu công chứng không phải cung cấp các giấy tờ có chứa các thông tin đó mà có thể tự khai thác dữ liệu để cung cấp cho công chứng viên; trường hợp người yêu cầu công chứng đề nghị công chứng viên khai thác dữ liệu thì phải nộp phí khai thác và sử dụng thông tin trong cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật; công chứng viên tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng khai thác, sử dụng thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia và các cơ sở dữ liệu đã được công bố để xem xét, giải quyết hồ sơ yêu cầu công chứng; không yêu cầu xuất trình bản chính các giấy tờ để đối chiếu theo quy định tại khoản 7 Điều 42 Luật Công chứng năm 2024. Công chứng viên chỉ được yêu cầu người yêu cầu công chứng bổ sung giấy tờ trong thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng trong trường hợp không khai thác được thông tin trong thời hạn giải quyết yêu cầu công chứng hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác.

Bên cạnh đó, Luật năm 2026 sửa đổi quy định về thẩm quyền công chứng giao dịch về bất động sản tại Điều 44 Luật Công chứng năm 2024 với việc thay cụm từ “giao dịch về bất động sản” bằng cụm từ “giao dịch có đối tượng là bất động sản” để làm rõ loại giao dịch cần thực hiện công chứng theo thẩm quyền địa hạt, thu hẹp phạm vi các giao dịch cần thực hiện theo địa hạt, đồng thời giao Chính phủ quy định lộ trình thực hiện thẩm quyền công chứng giao dịch theo quy định của Điều này trong phạm vi toàn quốc sau khi Cơ sở dữ liệu công chứng (quy định tại Điều 66 Luật Công chứng năm 2024) được xây dựng và vận hành. Như vậy, việc công chứng giao dịch về bất động sản không phụ thuộc vào địa giới hành chính sẽ được thực hiện theo lộ trình phù hợp, khi Cơ sở dữ liệu công chứng và cơ sở dữ liệu có liên quan được vận hành đầy đủ, bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch, bảo đảm chặt chẽ, khả thi của trình tự, thủ tục công chứng.

Luật năm 2026 sửa đổi khoản 4 Điều 50 Luật Công chứng năm 2024 theo hướng việc điểm chỉ được thực hiện đồng thời với việc ký khi người yêu cầu công chứng đề nghị. Việc sửa đổi này là phù hợp với bối cảnh, điều kiện mới hiện nay khi việc định danh điện tử và công nghệ sinh trắc học đã và đang được triển khai rộng rãi, đồng thời góp phần đơn giản hóa thủ tục công chứng, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người yêu cầu công chứng. Cụ thể, các cơ sở dữ liệu dân cư, hộ tịch... đã được cơ quan chủ quản dữ liệu công bố theo yêu cầu của Nghị quyết 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu; khi giải quyết các yêu cầu công chứng, công chứng viên được trang bị thiết bị xác thực cá nhân bằng công nghệ sinh trắc học, máy quét chuyên dụng hoặc sử dụng ứng dụng VNeID để xác thực người yêu cầu công chứng, ngăn chặn giả mạo (khoản 14 Điều 1 Luật năm 2026).

Đồng thời, Luật năm 2026 sửa đổi Điều 57 Luật Công chứng năm 2024 theo hướng quy định đơn giản, dễ hiểu hơn về quy trình công chứng hợp đồng ủy quyền tại 02 tổ chức hành nghề công chứng, giảm bớt 01 khâu không cần thiết trong thủ tục công chứng (thủ tục thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng nơi đã công chứng hợp đồng ban đầu) để tiết kiệm thời gian, chi phí cho các bên mà vẫn không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng ủy quyền; quy định rõ hơn về cách thức thông báo về việc sửa lỗi kỹ thuật cho tổ chức hành nghề công chứng còn lại, bổ sung quy định về thời hạn gửi thông báo, gửi bản sao văn bản là trong 05 ngày làm việc để vừa bảo đảm tính chặt chẽ, hợp lý của thủ tục, vừa không tạo thêm thủ tục rườm rà (khoản 15 Điều 1 Luật năm 2026).

Ngoài ra, Luật năm 2026 sửa đổi một số khoản của Điều 42 Luật Công chứng năm 2024 theo hướng đa dạng hóa hình thức của giấy tờ cần nộp trong thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng và cách thức công chứng viên kiểm tra, khai thác thông tin khi giải quyết yêu cầu công chứng.

Đẩy mạnh phân quyền, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp

Luật năm 2026 sửa đổi các quy định để đẩy mạnh thực hiện nguyên tắc phân quyền trong quản lý nhà nước về công chứng, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp trong việc thành lập và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng (từ khoản 3 đến khoản 10 Điều 1 Luật năm 2026). Theo đó:

- Luật năm 2026 sửa đổi quy định về thẩm quyền công nhận tương đương đối với người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên tại các điều 11, 13, 16 và 17 của Luật Công chứng năm 2024 theo hướng phân quyền triệt để cho địa phương.

Cụ thể, quy định rõ về thẩm quyền công nhận tương đương đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc chuyển từ thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên).

- Luật năm 2026 sửa đổi một số quy định về tổ chức hành nghề công chứng tại các điều từ Điều 19 đến Điều 24 và Điều 26 của Luật Công chứng năm 2024 để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động của các Văn phòng công chứng trong bối cảnh đẩy mạnh các dịch vụ công trực tuyến toàn trình.

Cụ thể, quy định về đơn vị hành chính cấp huyện/địa bàn cấp huyện được thay bằng đơn vị hành chính cấp xã/địa bàn cấp xã. Đối với việc thay đổi trụ sở của Văn phòng công chứng thì giao địa phương quyết định, bảo đảm việc thay đổi phù hợp với đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng của địa phương.

- Luật năm 2026 bãi bỏ khoản 2 Điều 19 Luật Công chứng năm 2024, theo đó, không giao Bộ Tư pháp xây dựng, trình Chính phủ ban hành chiến lược phát triển về lĩnh vực công chứng. Nội dung này thuộc thẩm quyền và trách nhiệm quản lý nhà nước về công chứng của Chính phủ, trường hợp Chính phủ xác định cần ban hành chiến lược phát triển về lĩnh vực công chứng thì có thể quy định trong nghị định hoặc quyết định bằng văn bản hành chính về việc giao cơ quan có thẩm quyền xây dựng chiến lược, trình Chính phủ ban hành.

Bộ Tư pháp xây dựng Cơ sở dữ liệu công chứng thống nhất từ trung ương đến địa phương

Luật năm 2026 sửa đổi quy định về Cơ sở dữ liệu công chứng tại Điều 66 Luật Công chứng năm 2024 theo hướng thay 02 Cơ sở dữ liệu công chứng (Cơ sở dữ liệu công chứng của Bộ Tư pháp và Cơ sở dữ liệu công chứng của địa phương) bằng 01 Cơ sở dữ liệu công chứng do Bộ Tư pháp xây dựng và quản lý tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương; giảm bớt một số trường thông tin không cần thiết trong Cơ sở dữ liệu công chứng; làm rõ trách nhiệm của Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng, vận hành, quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng theo nguyên tắc phân cấp quản lý, bảo đảm các dữ liệu đã có trong các Cơ sở dữ liệu công chứng của địa phương được tích hợp, đồng bộ vào Cơ sở dữ liệu công chứng mới và việc cung cấp dữ liệu công chứng phát sinh tại địa phương cho Cơ sở dữ liệu công chứng mới.

Đồng thời, Luật năm 2026 quy định rõ các nguyên tắc của việc thu thập, cung cấp thông tin để đưa vào Cơ sở dữ liệu công chứng và khai thác, sử dụng, chia sẻ Cơ sở dữ liệu công chứng. Đây là những quy định bổ sung cần thiết để vừa phù hợp với nguyên tắc chung của pháp luật về giao dịch điện tử, vừa thể hiện tính đặc thù của hoạt động công chứng.

Ngoài ra, Luật năm 2026 sửa đổi khoản 3 Điều 68 Luật Công chứng năm 2024 theo hướng cho phép cung cấp bản gốc văn bản công chứng cho cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện xác minh, giám định tài liệu phục vụ việc tiến hành tố tụng, đồng thời có quy định nhằm bảo đảm bản gốc văn bản công chứng được bảo quản chặt chẽ, bàn giao lại đầy đủ và không ảnh hưởng quá lớn đến quyền lợi hợp pháp của người yêu cầu công chứng trong việc yêu cầu cấp bản sao hoặc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ văn bản công chứng.

Như vậy, với những điểm mới, sửa đổi, bổ sung của Luật năm 2026 có hiệu lực từ ngày 01/01/2027 kỳ vọng sẽ giúp hoạt động công chứng ngày càng thuận tiện, minh bạch và an toàn hơn, để mỗi giao dịch được xác lập đều trở thành sự bảo đảm pháp lý vững chắc trong tương lai.


[1] Khoản 1 Điều 3 Luật Công chứng năm 2024 quy định: “1. Giao dịch phải công chứng là giao dịch quan trọng, đòi hỏi mức độ an toàn pháp lý cao và được luật quy định hoặc luật giao Chính phủ quy định phải công chứng”.

[2] Gồm: Văn bản ủy quyền của người có tên trong hợp đồng thuê nhà ở đã xuất cảnh ra nước ngoài cho các thành viên khác đứng tên mua nhà ở trong Hồ sơ đề nghị bán nhà ở cũ thuộc tài sản công; Hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh bất động sản; Văn bản thỏa thuận của các thành viên có chung quyền sử dụng đất đồng ý đưa quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp; Văn bản ủy quyền giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản khi người phải thi hành án xuất cảnh; Văn bản ủy quyền thực hiện quyền khiếu nại; Hợp đồng chuyển nhượng Văn phòng Thừa phát lại.

(Ảnh: Internet)

Uyên Nhi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã tổng hợp dữ liệu từ các bộ, ngành, địa phương và Cổng Dịch vụ công quốc gia để đánh giá toàn diện công tác cải cách thủ tục hành chính trong sáu tháng đầu năm 2026. Báo cáo số 483/BC-BTP ngày 29/6/2026 của Bộ Tư pháp cho thấy, công tác cải cách quy định thủ tục hành chính đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên phương diện hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi.
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với nhiều điểm mới quan trọng nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Theo dõi chúng tôi trên: