Giảm trực tiếp 06 loại giao dịch phải công chứng
Điểm mới đáng chú ý đầu tiên chính là Luật năm 2026 đã sửa đổi quy định về giao dịch phải công chứng nhằm thu hẹp phạm vi các giao dịch này. Theo đó, Luật đã sửa đổi khoản 1 Điều 3 Luật Công chứng năm 2024[1] theo hướng không liệt kê giao dịch phải công chứng trong Luật Công chứng mà chỉ quy định rõ hơn tiêu chí xác định giao dịch phải công chứng (bổ sung tiêu chí “đòi hỏi điều kiện tham gia giao dịch chặt chẽ”, bỏ cụm từ “hoặc luật giao Chính phủ quy định”). Việc sửa đổi này vừa giúp thu hẹp phạm vi các giao dịch phải công chứng, vừa làm rõ hơn các tiêu chí bắt buộc đối với giao dịch phải công chứng mà không bị trùng lặp, xung đột với các luật có liên quan.
Quy định sửa đổi giúp giảm trực tiếp 06 loại giao dịch phải công chứng đang được quy định trong các nghị định của Chính phủ[2], tăng số lượng giao dịch được công chứng tự nguyện theo yêu cầu. Điều này sẽ tạo thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho người dân, doanh nghiệp.
Đồng thời, các luật khác khi quy định về giao dịch phải công chứng đều phải đánh giá đầy đủ, bảo đảm giao dịch phải công chứng đáp ứng đủ các tiêu chí được Luật Công chứng quy định.
Bên cạnh đó, Luật năm 2026 còn quy định rõ Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan rà soát, cập nhật, đăng tải danh mục các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp (khoản 2 Điều 1 Luật năm 2026). Điều này giúp người dân, doanh nghiệp nắm bắt được cụ thể, rõ ràng thông tin về giao dịch phải công chứng.
Đơn giản hóa thủ tục, quán triệt nguyên tắc khai thác, sử dụng dữ liệu
Luật năm 2026 có điểm mới rất quan trọng là sửa đổi một số quy định về thủ tục công chứng và hồ sơ công chứng theo hướng đơn giản hóa, quán triệt nguyên tắc khai thác, sử dụng dữ liệu trong quá trình nộp hồ sơ và giải quyết yêu cầu công chứng, nhưng vẫn bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của mô hình công chứng nội dung (từ khoản 11 đến 15 và khoản 17 Điều 1 của Luật năm 2026).
Việc thực hiện cơ sở dữ liệu là xu hướng tất yếu của thời đại công nghệ số, đã được sử dụng ở nhiều ngành và công chứng không là ngoại lệ. Với việc khai thác, sử dụng dữ liệu có thể giảm tải nhiều loại giấy tờ cho cá nhân, tổ chức. Cơ sở dữ liệu sạch về công chứng sẽ bảo đảm tính chính xác thông tin, ngăn chặn đáng kể nguy cơ làm giả giấy tờ có thể phát sinh khi thực hiện nộp bản giấy, đồng thời giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Tuy vậy, sự thay đổi này không làm giảm tính an toàn pháp lý mà vẫn giữ được các yếu tố cơ bản của công chứng nội dung, nhất là về các quy trình để bảo đảm an toàn cho giao dịch. Luật năm 2026 cũng sửa đổi các quy định theo hướng giảm tải các thủ tục không cần thiết tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu công chứng.
Cụ thể, Luật năm 2026 bổ sung quy định về sử dụng dữ liệu thay thế khi giải quyết hồ sơ yêu cầu công chứng tại điểm b khoản 11 Điều 1 Luật năm 2026. Theo đó, trường hợp đã có dữ liệu về các thông tin trong thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng trong các cơ sở dữ liệu được cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu công bố thì người yêu cầu công chứng không phải cung cấp các giấy tờ có chứa các thông tin đó mà có thể tự khai thác dữ liệu để cung cấp cho công chứng viên; trường hợp người yêu cầu công chứng đề nghị công chứng viên khai thác dữ liệu thì phải nộp phí khai thác và sử dụng thông tin trong cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật; công chứng viên tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng khai thác, sử dụng thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia và các cơ sở dữ liệu đã được công bố để xem xét, giải quyết hồ sơ yêu cầu công chứng; không yêu cầu xuất trình bản chính các giấy tờ để đối chiếu theo quy định tại khoản 7 Điều 42 Luật Công chứng năm 2024. Công chứng viên chỉ được yêu cầu người yêu cầu công chứng bổ sung giấy tờ trong thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng trong trường hợp không khai thác được thông tin trong thời hạn giải quyết yêu cầu công chứng hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác.
Bên cạnh đó, Luật năm 2026 sửa đổi quy định về thẩm quyền công chứng giao dịch về bất động sản tại Điều 44 Luật Công chứng năm 2024 với việc thay cụm từ “giao dịch về bất động sản” bằng cụm từ “giao dịch có đối tượng là bất động sản” để làm rõ loại giao dịch cần thực hiện công chứng theo thẩm quyền địa hạt, thu hẹp phạm vi các giao dịch cần thực hiện theo địa hạt, đồng thời giao Chính phủ quy định lộ trình thực hiện thẩm quyền công chứng giao dịch theo quy định của Điều này trong phạm vi toàn quốc sau khi Cơ sở dữ liệu công chứng (quy định tại Điều 66 Luật Công chứng năm 2024) được xây dựng và vận hành. Như vậy, việc công chứng giao dịch về bất động sản không phụ thuộc vào địa giới hành chính sẽ được thực hiện theo lộ trình phù hợp, khi Cơ sở dữ liệu công chứng và cơ sở dữ liệu có liên quan được vận hành đầy đủ, bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch, bảo đảm chặt chẽ, khả thi của trình tự, thủ tục công chứng.
Luật năm 2026 sửa đổi khoản 4 Điều 50 Luật Công chứng năm 2024 theo hướng việc điểm chỉ được thực hiện đồng thời với việc ký khi người yêu cầu công chứng đề nghị. Việc sửa đổi này là phù hợp với bối cảnh, điều kiện mới hiện nay khi việc định danh điện tử và công nghệ sinh trắc học đã và đang được triển khai rộng rãi, đồng thời góp phần đơn giản hóa thủ tục công chứng, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người yêu cầu công chứng. Cụ thể, các cơ sở dữ liệu dân cư, hộ tịch... đã được cơ quan chủ quản dữ liệu công bố theo yêu cầu của Nghị quyết 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu; khi giải quyết các yêu cầu công chứng, công chứng viên được trang bị thiết bị xác thực cá nhân bằng công nghệ sinh trắc học, máy quét chuyên dụng hoặc sử dụng ứng dụng VNeID để xác thực người yêu cầu công chứng, ngăn chặn giả mạo (khoản 14 Điều 1 Luật năm 2026).
Đồng thời, Luật năm 2026 sửa đổi Điều 57 Luật Công chứng năm 2024 theo hướng quy định đơn giản, dễ hiểu hơn về quy trình công chứng hợp đồng ủy quyền tại 02 tổ chức hành nghề công chứng, giảm bớt 01 khâu không cần thiết trong thủ tục công chứng (thủ tục thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng nơi đã công chứng hợp đồng ban đầu) để tiết kiệm thời gian, chi phí cho các bên mà vẫn không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng ủy quyền; quy định rõ hơn về cách thức thông báo về việc sửa lỗi kỹ thuật cho tổ chức hành nghề công chứng còn lại, bổ sung quy định về thời hạn gửi thông báo, gửi bản sao văn bản là trong 05 ngày làm việc để vừa bảo đảm tính chặt chẽ, hợp lý của thủ tục, vừa không tạo thêm thủ tục rườm rà (khoản 15 Điều 1 Luật năm 2026).
Ngoài ra, Luật năm 2026 sửa đổi một số khoản của Điều 42 Luật Công chứng năm 2024 theo hướng đa dạng hóa hình thức của giấy tờ cần nộp trong thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng và cách thức công chứng viên kiểm tra, khai thác thông tin khi giải quyết yêu cầu công chứng.
Đẩy mạnh phân quyền, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp
Luật năm 2026 sửa đổi các quy định để đẩy mạnh thực hiện nguyên tắc phân quyền trong quản lý nhà nước về công chứng, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp trong việc thành lập và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng (từ khoản 3 đến khoản 10 Điều 1 Luật năm 2026). Theo đó:
- Luật năm 2026 sửa đổi quy định về thẩm quyền công nhận tương đương đối với người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên tại các điều 11, 13, 16 và 17 của Luật Công chứng năm 2024 theo hướng phân quyền triệt để cho địa phương.
Cụ thể, quy định rõ về thẩm quyền công nhận tương đương đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc chuyển từ thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên).
- Luật năm 2026 sửa đổi một số quy định về tổ chức hành nghề công chứng tại các điều từ Điều 19 đến Điều 24 và Điều 26 của Luật Công chứng năm 2024 để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động của các Văn phòng công chứng trong bối cảnh đẩy mạnh các dịch vụ công trực tuyến toàn trình.
Cụ thể, quy định về đơn vị hành chính cấp huyện/địa bàn cấp huyện được thay bằng đơn vị hành chính cấp xã/địa bàn cấp xã. Đối với việc thay đổi trụ sở của Văn phòng công chứng thì giao địa phương quyết định, bảo đảm việc thay đổi phù hợp với đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng của địa phương.
- Luật năm 2026 bãi bỏ khoản 2 Điều 19 Luật Công chứng năm 2024, theo đó, không giao Bộ Tư pháp xây dựng, trình Chính phủ ban hành chiến lược phát triển về lĩnh vực công chứng. Nội dung này thuộc thẩm quyền và trách nhiệm quản lý nhà nước về công chứng của Chính phủ, trường hợp Chính phủ xác định cần ban hành chiến lược phát triển về lĩnh vực công chứng thì có thể quy định trong nghị định hoặc quyết định bằng văn bản hành chính về việc giao cơ quan có thẩm quyền xây dựng chiến lược, trình Chính phủ ban hành.
Bộ Tư pháp xây dựng Cơ sở dữ liệu công chứng thống nhất từ trung ương đến địa phương
Luật năm 2026 sửa đổi quy định về Cơ sở dữ liệu công chứng tại Điều 66 Luật Công chứng năm 2024 theo hướng thay 02 Cơ sở dữ liệu công chứng (Cơ sở dữ liệu công chứng của Bộ Tư pháp và Cơ sở dữ liệu công chứng của địa phương) bằng 01 Cơ sở dữ liệu công chứng do Bộ Tư pháp xây dựng và quản lý tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương; giảm bớt một số trường thông tin không cần thiết trong Cơ sở dữ liệu công chứng; làm rõ trách nhiệm của Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng, vận hành, quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng theo nguyên tắc phân cấp quản lý, bảo đảm các dữ liệu đã có trong các Cơ sở dữ liệu công chứng của địa phương được tích hợp, đồng bộ vào Cơ sở dữ liệu công chứng mới và việc cung cấp dữ liệu công chứng phát sinh tại địa phương cho Cơ sở dữ liệu công chứng mới.
Đồng thời, Luật năm 2026 quy định rõ các nguyên tắc của việc thu thập, cung cấp thông tin để đưa vào Cơ sở dữ liệu công chứng và khai thác, sử dụng, chia sẻ Cơ sở dữ liệu công chứng. Đây là những quy định bổ sung cần thiết để vừa phù hợp với nguyên tắc chung của pháp luật về giao dịch điện tử, vừa thể hiện tính đặc thù của hoạt động công chứng.
Ngoài ra, Luật năm 2026 sửa đổi khoản 3 Điều 68 Luật Công chứng năm 2024 theo hướng cho phép cung cấp bản gốc văn bản công chứng cho cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện xác minh, giám định tài liệu phục vụ việc tiến hành tố tụng, đồng thời có quy định nhằm bảo đảm bản gốc văn bản công chứng được bảo quản chặt chẽ, bàn giao lại đầy đủ và không ảnh hưởng quá lớn đến quyền lợi hợp pháp của người yêu cầu công chứng trong việc yêu cầu cấp bản sao hoặc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ văn bản công chứng.
Như vậy, với những điểm mới, sửa đổi, bổ sung của Luật năm 2026 có hiệu lực từ ngày 01/01/2027 kỳ vọng sẽ giúp hoạt động công chứng ngày càng thuận tiện, minh bạch và an toàn hơn, để mỗi giao dịch được xác lập đều trở thành sự bảo đảm pháp lý vững chắc trong tương lai.
[1] Khoản 1 Điều 3 Luật Công chứng năm 2024 quy định: “1. Giao dịch phải công chứng là giao dịch quan trọng, đòi hỏi mức độ an toàn pháp lý cao và được luật quy định hoặc luật giao Chính phủ quy định phải công chứng”.
[2] Gồm: Văn bản ủy quyền của người có tên trong hợp đồng thuê nhà ở đã xuất cảnh ra nước ngoài cho các thành viên khác đứng tên mua nhà ở trong Hồ sơ đề nghị bán nhà ở cũ thuộc tài sản công; Hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh bất động sản; Văn bản thỏa thuận của các thành viên có chung quyền sử dụng đất đồng ý đưa quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp; Văn bản ủy quyền giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản khi người phải thi hành án xuất cảnh; Văn bản ủy quyền thực hiện quyền khiếu nại; Hợp đồng chuyển nhượng Văn phòng Thừa phát lại.
(Ảnh: Internet)