Từ khóa: bồi thường nhà nước; đơn giản hóa thủ tục; người bị thiệt hại; môi trường số; bảo đảm quyền.
SIMPLIFYING PROCEDURES FOR REQUESTING STATE COMPENSATION - FROM ADMINISTRATIVE REFORM REQUIREMENTS TO ENSURING THE RIGHTS OF THE INJURED PARTY
Abstract: In a rule of law state, individuals, organizations, and the State are equal before the law. Therefore, in the course of performing their duties, if authorized individuals or organizations commit illegal acts that cause harm to other individuals or organizations, the affected individuals or organizations have the right to claim compensation from the State. This study analyzes the simplification of procedures for claiming compensation from the State based on the constitutional rights of those who have suffered harm, the need for administrative reform, digital transformation, and the provisions of the draft Law amending and supplementing several articles of the Law on State Liability for Compensation (the draft Law). The focus is on regulations concerning documentation, forms of claims, receipt and processing of dossiers, acceptance and verification of damages, negotiation, compensation settlement decisions, the right to sue, and digital transformation in state management. Based on an assessment of Articles 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52, and 73, this study proposes clarifying the legal value of electronic records, confirmation of receipt, onetime request for additional documents, exploitation of available data, the effectiveness of compensation settlement decisions, and the protection of personal data of claimants.
Keywords: State compensation; procedural simplification; victims; digital environment; rights protection.
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là cơ chế pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra. Tuy nhiên, hiệu quả của cơ chế này không chỉ phụ thuộc vào việc xác định đúng phạm vi trách nhiệm bồi thường, mà còn phụ thuộc trực tiếp vào mức độ thuận lợi, minh bạch và khả thi của thủ tục yêu cầu bồi thường. Thủ tục phức tạp, kéo dài hoặc đòi hỏi quá nhiều giấy tờ có thể làm giảm khả năng tiếp cận quyền được bồi thường của người bị thiệt hại, nhất là trong các trường hợp họ đã chịu tổn thất về vật chất, tinh thần hoặc gặp khó khăn trong thu thập tài liệu chứng minh. Trong bối cảnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và yêu cầu nâng cao trách nhiệm công vụ, dự thảo Luật đặt ra vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện thủ tục yêu cầu bồi thường theo hướng đơn giản, rõ ràng và thuận tiện hơn cho người dân. Việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật đối với các quy định về hồ sơ, phương thức nộp yêu cầu, tiếp nhận, thụ lý và giải quyết yêu cầu bồi thường, qua đó, bảo đảm tốt hơn quyền của người bị thiệt hại trong thực tiễn.
1. Cơ sở của việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường không chỉ là yêu cầu kỹ thuật trong sửa đổi pháp luật, mà còn xuất phát từ cơ sở chính trị, hiến định, pháp lý, thực tiễn và yêu cầu cải cách quản trị công. Về bản chất, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là cơ chế bảo đảm để cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hoạt động công quyền trái pháp luật có thể phục hồi quyền, lợi ích hợp pháp; đồng thời, là phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước và nâng cao trách nhiệm của nền công vụ[2].
Một là, về cơ sở chính trị. Yêu cầu này phù hợp với chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nghị quyết số 27-NQ/TW[3] nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân, kiểm soát quyền lực nhà nước và nâng cao trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong thực thi công vụ. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 66-NQ/TW[4] đặt ra yêu cầu khắc phục điểm nghẽn thể chế, nâng cao chất lượng, tính khả thi và hiệu quả thi hành pháp luật. Nghị quyết số 57-NQ/TW[5] và Nghị quyết số 76/NQ-CP[6] hướng tới giảm giấy tờ, tăng kết nối dữ liệu, lấy người dân làm trung tâm phục vụ. Vì vậy, thủ tục bồi thường nhà nước cần được thiết kế theo hướng đơn giản, minh bạch, thuận tiện và dễ tiếp cận hơn.
Hai là, về cơ sở hiến định và khoa học pháp lý. Hiến pháp năm 2013[7] quy định người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự; đồng thời, người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật cũng có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự. Dưới góc độ khoa học pháp lý, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không đơn thuần là quan hệ bồi thường thiệt hại dân sự thông thường, mà gắn với trách nhiệm của nền hành chính, nền công vụ đối với thiệt hại phát sinh từ việc thực thi quyền lực công[8]. Vì vậy, nếu thủ tục yêu cầu bồi thường phức tạp, kéo dài hoặc đặt gánh nặng chứng minh quá lớn lên người bị thiệt hại thì quyền hiến định này khó được thực hiện một cách thực chất.
Ba là, về cơ sở pháp lý. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 xác lập nguyên tắc giải quyết yêu cầu bồi thường kịp thời, công khai, bình đẳng, thiện chí, trung thực, đúng pháp luật và trên cơ sở thương lượng. Tuy nhiên, để các nguyên tắc này đi vào thực tế, thủ tục phải giúp người bị thiệt hại dễ nộp yêu cầu, dễ theo dõi quá trình giải quyết và không phải cung cấp lại những thông tin, tài liệu mà cơ quan nhà nước đã có hoặc có thể tự xác minh. Cách tiếp cận này phù hợp với lý thuyết về “gánh nặng hành chính”, theo đó, chi phí thực hiện thủ tục, chi phí tuân thủ và chi phí tâm lý có thể làm giảm khả năng người dân tiếp cận các quyền, lợi ích hợp pháp của mình[9]. Do đó, đơn giản hóa thủ tục không phải là rút gọn hình thức mà là tổ chức lại quy trình từ tiếp nhận, thụ lý, xác minh, thương lượng, ban hành quyết định đến chi trả bồi thường theo hướng giảm gánh nặng cho người bị thiệt hại.
Bốn là, về cơ sở thực tiễn. Các quy định tại các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 50, 51 và 52 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 tạo khuôn khổ cho việc giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy, hiện thủ tục còn nặng về hồ sơ giấy, chưa khai thác hiệu quả dữ liệu sẵn có, chưa xử lý rõ một số tình huống như thương lượng thành từng phần, người yêu cầu không nhận quyết định giải quyết bồi thường hoặc thương lượng không thành nhưng người yêu cầu chưa khởi kiện ra Tòa án. Một số nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng chỉ ra, những hạn chế nội tại của thủ tục có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền yêu cầu bồi thường và hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại[10]. Vì vậy, việc sửa đổi Luật cần hướng tới bảo đảm tốt hơn quyền của người bị thiệt hại, khắc phục bất cập trong thực tiễn và phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy sau sắp xếp.
Năm là, về yêu cầu cải cách hành chính và chuyển đổi số. Thủ tục bồi thường cần được thiết kế theo hướng lấy người yêu cầu bồi thường làm trung tâm. Người bị thiệt hại không phải thực hiện các thủ tục phức tạp, không phải sao nộp chứng thực nhiều loại giấy tờ hoặc nộp lại thông tin mà cơ quan nhà nước đã có. Các nghiên cứu về Chính phủ điện tử và mô hình cung cấp dịch vụ công hiện đại cho thấy, việc tích hợp dữ liệu, giảm biểu mẫu và chuyển từ cơ chế “một cửa” sang phục vụ chủ động có thể làm giảm đáng kể chi phí tuân thủ của người dân[11]. Đồng thời, việc số hóa thủ tục đặt ra yêu cầu kiểm soát quyền lực hành chính trong môi trường dữ liệu, bởi công nghệ có thể làm thay đổi cách thức thực hiện thẩm quyền và trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền[12]. Vì vậy, việc cho phép gửi yêu cầu bồi thường qua VNeID hoặc Cổng dịch vụ công quốc gia là cần thiết nhưng phải gắn với giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, định danh điện tử, xác thực điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Trên cơ sở Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Nghị định số 69/2024/NĐ-CP[13], Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP[14], thủ tục yêu cầu bồi thường cần được sửa đổi theo hướng thực hiện bằng hồ sơ điện tử, giảm giấy tờ dựa trên dữ liệu đã có và bảo đảm an toàn dữ liệu của người bị thiệt hại.
2. Những điểm mới của dự thảo Luật về đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường
Từ định hướng đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường, dự thảo Luật có một số điểm mới quan trọng sau:
Một là, dự thảo Luật đặt thủ tục yêu cầu bồi thường trong định hướng cắt giảm và tái cấu trúc thủ tục hành chính. Theo Bản đánh giá thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp, lĩnh vực bồi thường nhà nước hiện có 07 thủ tục hành chính, gồm 03 thủ tục cấp trung ương, 03 thủ tục cấp tỉnh và 01 thủ tục cấp xã; dự thảo Luật dự kiến bãi bỏ 02 thủ tục và sửa đổi, bổ sung 05 thủ tục còn lại. Việc bãi bỏ thủ tục xác định cơ quan giải quyết bồi thường ở cấp trung ương và cấp tỉnh là hợp lý, bởi về bản chất, việc xác định cơ quan có trách nhiệm giải quyết thuộc hoạt động phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, không nên trở thành thủ tục trung gian mà người bị thiệt hại phải thực hiện hoặc chờ đợi. Tuy nhiên, để việc cắt giảm này thực sự tạo thuận lợi cho người yêu cầu bồi thường, cần xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đặc biệt, trong phối hợp, chuyển hồ sơ và thông báo kết quả xác định cơ quan có thẩm quyền, người bị thiệt hại, không phải tự xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Hai là, dự thảo Luật đơn giản hóa thành phần hồ sơ và đa dạng hóa hình thức thực hiện yêu cầu bồi thường. Theo Điều 41, hồ sơ yêu cầu bồi thường chỉ gồm văn bản yêu cầu bồi thường và văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường; trường hợp người bị thiệt hại không nhận được văn bản làm căn cứ thì không phải nộp tài liệu này. Yêu cầu bồi thường có thể được thực hiện qua môi trường số, trực tiếp tại cơ quan giải quyết bồi thường hoặc Bộ phận Một cửa hoặc gửi qua đường bưu chính. Quy định này góp phần giảm giấy tờ phải chuẩn bị và tạo thuận lợi cho người bị thiệt hại lựa chọn phương thức thực hiện phù hợp. Tuy nhiên, khái niệm “môi trường số” còn mang tính khái quát, chưa làm rõ kênh tiếp nhận, phương thức xác thực, thời điểm hồ sơ được coi là đã gửi và cơ chế cấp xác nhận điện tử. Dự thảo Luật chưa quy định trực tiếp nguyên tắc không yêu cầu người dân nộp lại thông tin, giấy tờ mà cơ quan nhà nước đã có hoặc có thể khai thác.
Ba là, dự thảo Luật xác định rõ thời hạn xử lý và thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường. Theo Điều 42, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan giải quyết bồi thường phải kiểm tra tính đầy đủ; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì yêu cầu bổ sung, còn nếu chưa có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc nội dung văn bản chưa rõ thì phải yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền cung cấp. Theo Điều 43, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, cơ quan phải thụ lý, ghi vào sổ thụ lý, cử người giải quyết và thực hiện thông báo theo quy định. Cơ chế này góp phần rút ngắn thời gian xử lý và chuyển một phần trách nhiệm thu thập tài liệu sang cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa quy định rõ việc cấp giấy xác nhận hoặc thông báo điện tử khi tiếp nhận hồ sơ, chưa giới hạn số lần yêu cầu bổ sung và mới dừng ở việc hướng dẫn người yêu cầu đến cơ quan có thẩm quyền khi hồ sơ được gửi không đúng nơi, thay vì thiết lập cơ chế chuyển hồ sơ.
Bốn là, dự thảo Luật phân hóa thời hạn xác minh thiệt hại theo tính chất của vụ việc. Điều 45 quy định thời hạn xác minh thông thường là 10 ngày làm việc; đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm, thời hạn là 20 ngày làm việc. Thời hạn này có thể được kéo dài theo thỏa thuận nhưng không quá 10 ngày làm việc. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc xác minh, cơ quan giải quyết phải ban hành báo cáo xác minh thiệt hại. Dự thảo Luật cho phép sử dụng kết quả giám định thiệt hại hợp pháp do người yêu cầu cung cấp. Việc phân hóa thời hạn giúp quy trình xác minh phù hợp hơn với từng loại vụ việc. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa quy định cụ thể tiêu chí xác định vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, hình thức của thỏa thuận kéo dài thời hạn và trách nhiệm thông báo cho người yêu cầu về lý do, cũng như thời điểm kết thúc xác minh.
Năm là, dự thảo Luật xác định rõ cách thức xử lý kết quả thương lượng và quyền khởi kiện của người yêu cầu bồi thường. Theo Điều 47, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường phải ban hành quyết định giải quyết bồi thường và gửi cho người yêu cầu. Quyết định có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày người yêu cầu nhận được, trừ trường hợp các bên thỏa thuận có hiệu lực sớm hơn. Tương ứng, khoản 2 Điều 52 cho phép người yêu cầu khởi kiện trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận quyết định hoặc kể từ khi hết thời hạn ban hành quyết định mà cơ quan có trách nhiệm không ban hành. Cơ chế này thể hiện rõ trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường và tạo căn cứ để người yêu cầu lựa chọn chấp nhận quyết định hoặc khởi kiện. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa làm rõ hậu quả pháp lý của việc khởi kiện đối với hiệu lực của quyết định, phạm vi Tòa án xem xét và cách xử lý trường hợp người yêu cầu chỉ tranh chấp một phần nội dung bồi thường.
Sáu là, dự thảo Luật gắn đơn giản hóa thủ tục với chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về công tác bồi thường. Điều 73 xác định Chính phủ chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số; Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo cập nhật, vận hành, kết nối, chia sẻ hệ thống thông tin về bồi thường nhà nước và hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục. Những quy định này tạo cơ sở cho việc hình thành hệ thống thông tin thống nhất và tăng cường kết nối dữ liệu giữa các cơ quan. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa quy định rõ nguyên tắc khai thác dữ liệu để thay thế giấy tờ, cơ chế phân quyền và lưu vết truy cập, cũng như yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nếu quy trình điện tử vẫn yêu cầu người dân cung cấp nhiều bản chụp, thông tin trùng lặp hoặc tự xác định chính xác cơ quan có thẩm quyền thì gánh nặng thủ tục chỉ chuyển từ hồ sơ giấy sang môi trường số.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường nhằm bảo đảm quyền của người bị thiệt hại
Trên cơ sở nhận diện các điểm mới và những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện của dự thảo Luật, việc sửa đổi quy định về thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường cần được thực hiện theo hướng vừa đơn giản hóa hồ sơ, trình tự, phương thức tiếp nhận, vừa bảo đảm người bị thiệt hại có thể thực hiện quyền yêu cầu bồi thường một cách thuận lợi, minh bạch và có khả năng kiểm soát được quá trình giải quyết. Từ yêu cầu đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện sau:
Một là, Điều 41 dự thảo Luật hoặc văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật (sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua) (văn bản hướng dẫn thi hành) cần quy định theo hướng tiếp tục duy trì thành phần hồ sơ đơn giản, chỉ gồm văn bản yêu cầu bồi thường và văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Trường hợp người bị thiệt hại không nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, thì chỉ cần cung cấp những thông tin cần thiết để cơ quan giải quyết bồi thường tra cứu hoặc yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền cung cấp. Đối với yêu cầu được thực hiện trên môi trường số, cần xác định rõ các hệ thống điện tử được sử dụng để nộp hồ sơ, phương thức định danh, xác thực và giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử theo pháp luật về giao dịch điện tử. Trường hợp người yêu cầu thực hiện thủ tục trực tiếp tại cơ quan giải quyết bồi thường hoặc Bộ phận Một cửa, cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm hướng dẫn họ lập văn bản yêu cầu theo mẫu. Các tài liệu chứng minh tư cách đại diện, thừa kế, kế thừa quyền, nghĩa vụ hoặc chứng minh thiệt hại chỉ được yêu cầu khi cần thiết để xác định chủ thể có quyền yêu cầu hoặc nội dung thiệt hại; việc thu thập những tài liệu này có thể được thực hiện trong quá trình xác minh theo Điều 45 hoặc thông qua việc khai thác dữ liệu do cơ quan nhà nước quản lý.
Hai là, Điều 41 hoặc văn bản hướng dẫn thi hành cần ghi nhận nguyên tắc không yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin, giấy tờ mà cơ quan nhà nước đã có hoặc có khả năng khai thác. Theo đó, có thể bổ sung quy định: “Cơ quan giải quyết bồi thường, cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu người yêu cầu bồi thường nộp, xuất trình hoặc chứng thực lại thông tin, giấy tờ đã được xác thực trên môi trường số hoặc có thể khai thác từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước, trừ trường hợp dữ liệu chưa đầy đủ, không chính xác hoặc không thể khai thác theo quy định của pháp luật”. Quy định này tạo cơ sở để việc ứng dụng định danh điện tử, xác thực điện tử và thông điệp dữ liệu thực sự giảm giấy tờ và chi phí tuân thủ cho người yêu cầu bồi thường.
Ba là, Điều 42 hoặc văn bản hướng dẫn thi hành cần bảo đảm mọi hồ sơ yêu cầu bồi thường đều được xác nhận tiếp nhận, không phụ thuộc vào phương thức nộp. Ngay sau khi nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận phải ghi nhận trên sổ tiếp nhận hoặc hệ thống điện tử và cấp giấy xác nhận hoặc thông báo điện tử cho người yêu cầu. Nội dung xác nhận cần thể hiện thời điểm tiếp nhận, mã hồ sơ, danh mục tài liệu đã nhận, cơ quan có trách nhiệm xử lý và phương thức tra cứu tình trạng giải quyết. Đối với hồ sơ không thuộc thẩm quyền, cơ quan tiếp nhận nên chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền nếu có thể xác định được; trường hợp chưa xác định được thì chuyển đến cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước để hỗ trợ, hướng dẫn, đồng thời, thông báo cho người yêu cầu. Cơ chế này phù hợp với trách nhiệm hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường quy định tại điểm i khoản 3 Điều 73.
Bốn là, Điều 42 và Điều 43 hoặc văn bản hướng dẫn thi hành cần được quy định thống nhất để bảo đảm thời hạn xử lý, thụ lý hồ sơ không bị kéo dài do việc yêu cầu bổ sung nhiều lần. Cơ quan giải quyết bồi thường chỉ được ghi yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần và phải đầy đủ nội dung còn thiếu, căn cứ pháp lý cũng như thời hạn bổ sung. Cơ quan giải quyết không được yêu cầu người yêu cầu bồi thường cung cấp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong trường hợp văn bản đó có thể được thu thập từ cơ quan, người có thẩm quyền. Khái niệm “hồ sơ đầy đủ” tại Điều 43 cần được hiểu là hồ sơ có đủ hai thành phần theo khoản 1 Điều 41 hoặc có văn bản yêu cầu bồi thường cùng những thông tin cần thiết để cơ quan nhà nước thu thập văn bản làm căn cứ. Việc không thụ lý theo khoản 3 Điều 43 chỉ nên được áp dụng khi người yêu cầu không bổ sung những thông tin, tài liệu thuộc trách nhiệm cung cấp của mình trong thời hạn đã được thông báo.
Năm là, khoản 2 Điều 45 hoặc văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định rõ căn cứ áp dụng từng thời hạn xác minh thiệt hại. Các trường hợp được xác định có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm cần có tiêu chí cụ thể nhằm bảo đảm việc áp dụng thời hạn 20 ngày làm việc được thống nhất. Việc kéo dài thời hạn theo thỏa thuận phải được lập thành văn bản hoặc xác nhận bằng phương thức điện tử, trong đó, ghi rõ lý do, thời gian kéo dài và thời điểm kết thúc; sự im lặng của người yêu cầu không được coi là đồng ý. Khi áp dụng thời hạn 20 ngày hoặc kéo dài thêm thời gian xác minh, cơ quan giải quyết bồi thường phải thông báo cho người yêu cầu biết. Đồng thời, cần ưu tiên sử dụng kết quả định giá, giám định hợp pháp đã có và dữ liệu do cơ quan nhà nước quản lý để hạn chế việc thực hiện lặp lại các hoạt động xác minh không cần thiết.
Sáu là, cần làm rõ mối liên hệ giữa Điều 46, Điều 47 và Điều 52 trong quá trình thương lượng, ban hành quyết định và thực hiện quyền khởi kiện. Biên bản thương lượng phải thể hiện cụ thể từng nội dung đã thống nhất, nội dung chưa thống nhất, mức bồi thường do cơ quan giải quyết đề xuất và ý kiến của người yêu cầu bồi thường. Quyết định giải quyết bồi thường phải phản ánh đầy đủ kết quả thương lượng, nêu rõ căn cứ xác định từng khoản thiệt hại, mức bồi thường, thời điểm có hiệu lực và quyền khởi kiện của người yêu cầu trong thời hạn 60 ngày. Điều 52 hoặc văn bản hướng dẫn thi hành cần xác định rõ hậu quả pháp lý của việc Tòa án thụ lý vụ án đối với quyết định giải quyết bồi thường, gồm trường hợp quyết định chưa phát sinh hiệu lực hoặc người yêu cầu chỉ khởi kiện đối với một phần nội dung của quyết định. Qua đó, phạm vi giải quyết của Tòa án và hiệu lực của phần quyết định không bị tranh chấp sẽ được xác định minh bạch hơn.
Bảy là, văn bản hướng dẫn thi hành cần bổ sung các quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân trong quá trình tiếp nhận và giải quyết yêu cầu bồi thường. Hồ sơ bồi thường nhà nước có thể chứa nhiều dữ liệu nhạy cảm về nhân thân, sức khỏe, danh dự, tình trạng tố tụng, tài sản, quan hệ gia đình và thông tin liên quan đến người thi hành công vụ. Vì vậy, Điều 73 hoặc văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định giao cơ quan có thẩm quyền xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế quản lý, khai thác, kết nối, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu trong Hệ thống thông tin về bồi thường nhà nước; đồng thời, bảo đảm việc phân quyền truy cập, lưu vết truy cập, bảo mật hồ sơ và giới hạn mục đích sử dụng dữ liệu. Điều 41 hoặc Điều 42 hoặc văn bản hướng dẫn thi hành cần ghi nhận nguyên tắc: “Việc thu thập, cập nhật, lưu trữ, khai thác, kết nối và chia sẻ dữ liệu cá nhân trong hồ sơ bồi thường nhà nước phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân”. Nội dung này phù hợp với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP.
Tám là, các quy định giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết Điều 41 và Điều 42 cần xác định rõ phạm vi quy định chi tiết, tránh làm phát sinh thêm thành phần hồ sơ hoặc điều kiện thực hiện quyền yêu cầu bồi thường. Chính phủ có thể quy định về biểu mẫu, phương thức nộp, tiếp nhận, chuyển hồ sơ, khai thác dữ liệu và xác thực hồ sơ điện tử nhưng không bổ sung giấy tờ hoặc thủ tục ngoài những nội dung đã được Luật quy định. Có thể bổ sung quy định theo hướng: “Chính phủ quy định chi tiết biểu mẫu, phương thức nộp, tiếp nhận, chuyển hồ sơ, khai thác dữ liệu và xác thực hồ sơ điện tử; không quy định thêm thành phần hồ sơ hoặc điều kiện thực hiện quyền yêu cầu bồi thường trái với nguyên tắc của Luật này”. Cách tiếp cận này bảo đảm văn bản hướng dẫn tập trung chuẩn hóa quy trình và yêu cầu kỹ thuật, không làm gia tăng gánh nặng thủ tục cho người bị thiệt hại.
Chín là, đối với yêu cầu bồi thường của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân bị thiệt hại do cơ quan có thẩm quyền không áp dụng, áp dụng không kịp thời hoặc không đúng biện pháp bảo vệ, cần thiết lập cơ chế bảo mật phù hợp với tính chất đặc thù của vụ việc. Trong quá trình tiếp nhận, chuyển giao, xác minh và giải quyết hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải bảo đảm không làm lộ danh tính của người yêu cầu, người được bảo vệ, nội dung phản ánh, tố cáo hoặc các biện pháp bảo vệ đang được áp dụng. Điều 42 hoặc Điều 73 hoặc văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định: “Đối với hồ sơ yêu cầu bồi thường liên quan đến người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc người thân, cơ quan tiếp nhận và giải quyết bồi thường phải áp dụng chế độ bảo mật thông tin người yêu cầu bồi thường, người được bảo vệ và biện pháp bảo vệ theo quy định của pháp luật”. Quy định này góp phần bảo đảm quyền yêu cầu bồi thường mà không làm phát sinh thêm nguy cơ đối với người được bảo vệ.
Từ các nội dung trên cho thấy, đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường không chỉ được thực hiện thông qua việc giảm thành phần hồ sơ và rút ngắn thời hạn giải quyết, mà còn đòi hỏi xác định rõ trách nhiệm tiếp nhận, hướng dẫn, thu thập thông tin và khai thác dữ liệu của cơ quan nhà nước. Việc hoàn thiện các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52, 73 và văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định theo hướng này sẽ góp phần bảo đảm thủ tục bồi thường được thực hiện nhanh chóng, minh bạch, thuận tiện, đồng thời, duy trì tính chặt chẽ và an toàn pháp lý của cơ chế trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Kết luận
Dự thảo Luật đã thể hiện rõ định hướng đơn giản hóa thủ tục yêu cầu bồi thường thông qua việc tinh giản hồ sơ, đa dạng hóa phương thức thực hiện yêu cầu, rút ngắn thời hạn xử lý và tăng cường ứng dụng công nghệ số. Những sửa đổi này góp phần giảm gánh nặng thủ tục, nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước và tạo thuận lợi hơn cho người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi và thống nhất khi áp dụng, dự thảo Luật và văn bản hướng dẫn thi hành Luật cần tiếp tục làm rõ cơ chế tiếp nhận hồ sơ điện tử, khai thác dữ liệu, bổ sung hồ sơ, bảo vệ dữ liệu cá nhân và hậu quả pháp lý của quyết định giải quyết bồi thường. Việc hoàn thiện các nội dung này sẽ góp phần xây dựng thủ tục bồi thường nhà nước minh bạch, thuận tiện và bảo vệ hiệu quả hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại./.
ThS. Trần Linh Huân
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Ảnh: internet
[1]. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày 07/7/2026.
[2]. Lê Thái Phương, Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2019, tr.31-37, 41-42.
[3]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[4]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[5]. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[6]. Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030.
[7]. Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025.
[8]. Phạm Hồng Thái, Trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, Tập 30, Số 3, 2014, tr. 24-32.
[9]. Donald Moynihan, Pamela Herd, Hope Harvey, Administrative Burden: Learning, Psychological, and Compliance Costs in Citizen-State Interactions, Journal of Public Administration Research and Theory, Vol. 25, No. 1, 2015, pp.43-69, DOI: 10.1093/jopart/muu009.
[10]. Lê Thái Phương tlđd, tr.107-112, 140-142.
[11]. Hendrik Scholta, Willem Mertens, Marek Kowalkiewicz, Jörg Becker, From One-Stop Shop to No-Stop Shop: An E-Government Stage Model, Government Information Quarterly, Vol. 36, No. 1, 2019, pp.11-26, DOI: 10.1016/j.giq.2018.11.010.
[12]. Mark Bovens, Stavros Zouridis, From Street-Level to System-Level Bureaucracies: How Information and Communication Technology Is Transforming Administrative Discretion and Constitutional Control, Public Administration Review, Vol. 62, No. 2, 2002, pp.174-184, DOI: 10.1111/00333352.00168.
[13]. Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử.
[14]. Nghị định số 356/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Tư pháp (2026), Bản đánh giá thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bảo đảm bình đẳng giới, việc thực hiện chính sách dân tộc trong Dự án, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Dự thảo ngày 23/4/2026.
2. Bộ Tư pháp (2026), Tờ trình Chính phủ Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Dự thảo ngày 20/4/2026.
3. Donald Moynihan, Pamela Herd, Hope Harvey (2015), Administrative Burden: Learning, Psychological, and Compliance Costs in Citizen-State Interactions, Journal of Public Administration Research and Theory, Vol. 25, No. 1, DOI: 10.1093/jopart/muu009.
4. Hendrik Scholta, Willem Mertens, Marek Kowalkiewicz, Jörg Becker (2019), From One-Stop Shop to No-Stop Shop: An E-Government Stage Model, Government Information Quarterly, Vol. 36, No. 1, DOI: 10.1016/j.giq.2018.11.010.
5. Lê Thái Phương (2019), Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
6. Mark Bovens, Stavros Zouridis (2002), From Street-Level to SystemLevel Bureaucracies: How Information and Communication Technology Is Transforming Administrative Discretion and Constitutional Control, Public Administration Review, Vol. 62, No. 2, DOI: 10.1111/0033-3352.00168.
7. OECD (2020), One-Stop Shops for Citizens and Business, OECD Best Practice Principles for Regulatory Policy, OECD Publishing, Paris, DOI: https://doi.org/10.1787/b0b0924e-en.
8. Phạm Hồng Thái (2014), Trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, Tập 30, Số 3.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (458) tháng 8/2026))