Chủ nhật 14/06/2026 01:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.

Yêu cầu cấp thiết trong việc nâng cao vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

Sau 12 năm triển khai thực hiện, Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc cần được giải quyết để nâng cao hơn nữa vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, bảo đảm chính sách bảo hiểm tiền gửi thực sự đem lại hiệu quả, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, sự phát triển an toàn và lành mạnh của hoạt động ngân hàng, cụ thể:

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và thực tiễn triển khai.

Vấn đề về phí bảo hiểm tiền gửi cần được sửa đổi, bổ sung để khắc phục những bất cập trong thực tiễn triển khai.

Hạn mức trả tiền bảo hiểm, thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cần được quy định phù hợp và đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật khác, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.

Hiện nay, số tiền bảo hiểm tối đa tổ chức Bảo hiểm tiền gửi chi trả cho 01 khách hàng tại 01 một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản là 125 triệu đồng. Với hạn mức này, tỷ lệ số dư tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ trên tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm ở Việt Nam mới chỉ đạt 8,38%, thấp hơn nhiều so với trung bình trên toàn cầu là 47%; tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ trên tổng số người gửi tiền được bảo hiểm của toàn hệ thống là 92,43%. Tuy nhiên, nếu loại trừ lượng người gửi tiền có số dư từ 1 - 50.000 đồng, tỷ lệ này chỉ ở mức 87,89%, thấp hơn so với mức được IADI khuyến nghị là 90 - 95%.

Quy định về thời điểm chi trả tiền gửi được bảo hiểm hiện nay chưa bảo đảm tính kịp thời, chưa có cơ sở để Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thực hiện chi trả tiền gửi sớm hơn. Ngay khi tổ chức tín dụng xảy ra sự kiện có nguy cơ gây mất an toàn hệ thống, việc tổ chức Bảo hiểm tiền gửi chỉ có thể thực hiện chi trả tiền gửi sau khi tổ chức tín dụng đã có quyết định phá sản sẽ không bảo đảm được vai trò của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong việc ổn định tâm lý người gửi tiền, ngăn chặn nguy cơ đổ vỡ, bảo vệ tốt nhất quyền lợi người gửi tiền.

Ngoài ra, ngày 18/01/2024, Quốc hội đã thông qua Luật Các tổ chức tín dụng, trong đó sửa đổi, bổ sung một số quy định về quyền, nghĩa vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tham gia vào quá trình can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt tổ chức tín dụng nhưng không quy định chi tiết mà dẫn chiếu thực hiện theo pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.

Trong bối cảnh này, việc ban hành Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 là yêu cầu cấp thiết, nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bảo hiểm tiền gửi, nâng cao năng lực và vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi; đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền và góp phần bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng.

Đánh dấu chặng đường phát triển mới

Theo đó, Luật có bố cục gồm 08 chương, 41 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026, với một số điểm nổi bật như:

Thứ nhất, về quyền, nghĩa vụ của người được bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi.

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 quy định quyền, nghĩa vụ của người được bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở kế thừa Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012, đồng thời bổ sung trách nhiệm của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trong việc tính phí, phối hợp với tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tuyên truyền chính sách, pháp luật nhằm làm rõ hơn vai trò, trách nhiệm của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi.

Bên cạnh đó, Luật còn bổ sung quyền, nghĩa vụ của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi trong việc thực hiện kiểm tra, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo kế hoạch, nội dung do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giao; vay đặc biệt từ Ngân hàng Nhà nước; tham gia vào quá trình xử lý tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi như: Cử người đủ tiêu chuẩn, điều kiện để giữ chức danh quản lý, điều hành, thành viên Ban Kiểm soát tại quỹ tín dụng nhân dân được kiểm soát đặc biệt theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước; tham gia đánh giá tính khả thi của phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt theo pháp luật về tổ chức tín dụng; mua trái phiếu dài hạn của tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc, cho vay đặc biệt đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi... Việc sửa đổi, bổ sung này bảo đảm tính thống nhất giữa quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi với Luật Các tổ chức tín dụng, phù hợp với chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền nhằm tăng cường vai trò và giao nhiệm vụ cho tổ chức Bảo hiểm tiền gửi trong việc phối hợp tham gia, hỗ trợ chức năng kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tham gia tái cơ cấu hiệu quả đối với các tổ chức tín dụng yếu kém.

Thứ hai, về hoạt động bảo hiểm tiền gửi.

Thủ tục cấp, thu hồi chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi được tổ chức Bảo hiểm tiền gửi thực hiện ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước cấp, thu hồi Giấy phép thành lập, hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm hoặc có văn bản tạm đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi.

Cùng với đó, Luật quy định rõ trách nhiệm công khai việc tham gia bảo hiểm tiền gửi tại tất cả các điểm giao dịch có nhận tiền gửi, trên trang thông tin điện tử của tổ chức tham gia tham gia bảo hiểm (nếu có), các hình thức khác và giao tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi hướng dẫn hình thức công khai bảo đảm phù hợp với xu hướng ứng dụng công nghệ.

Ngoài ra, để có cơ sở áp dụng cơ chế phí linh hoạt, phù hợp với thực tiễn và vẫn bảo đảm nguồn thu phí bảo hiểm tiền gửi ổn định, Luật đã sửa đổi, bổ sung quy định về phí bảo hiểm tiền gửi, đồng thời giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định mức phí, việc áp dụng phí bảo hiểm tiền gửi đồng hạng hoặc phân biệt phù hợp với đặc thù hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam trong từng thời kỳ. Luật cũng bổ sung quy định về tạm hoãn nộp tiền nợ phí bảo hiểm tiền gửi phát sinh trước thời điểm tổ chức tín dụng được đặt vào sự kiểm soát đặc biệt.

Về thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền, Luật quy định phát sinh kể từ một trong 03 thời điểm:

(i) Phương án phá sản tổ chức tín dụng được phê duyệt hoặc Ngân hàng Nhà nước có văn bản xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền;

(ii) Ngân hàng Nhà nước có văn bản đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt và tổ chức tín dụng đó có lỗ lũy kế lớn hơn 100% giá trị của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất;

(iii) Ngân hàng Nhà nước có văn bản thông báo về việc trả tiền bảo hiểm trong trường hợp để bảo đảm an toàn hệ thống, trật tự, an toàn xã hội.

Đối với hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi, Luật bổ sung quy định theo hướng, khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 21 Luật này, trong trường hợp đặc biệt, để đảm bảo quyền lợi người gửi tiền, an toàn hệ thống tổ chức tín dụng, trật tự an toàn xã hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định hạn mức chi trả tối đa bằng toàn bộ các khoản tiền gửi được bảo hiểm của người gửi tiền tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm.

Thứ ba, về tổ chức bảo hiểm tiền gửi.

Thực hiện mục tiêu, yêu cầu tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi về nâng cao năng lực tài chính của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi, Luật đã điều chỉnh các quy định về mô hình tổ chức, hoạt động, nguồn vốn hoạt động, chế độ tài chính, hạch toán, kế toán của tổ chức bảo hiểm tiền gửi.

Về hoạt động đầu tư của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi, Luật bổ sung các hình thức đầu tư gồm: Mua, bán trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi được phát hành bởi ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, ngân hàng thương mại cổ phần do doanh nghiệp nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; gửi tiền tại các ngân hàng thương mại nêu trên; hoạt động đầu tư khác theo quy định của Chính phủ; đồng thời, Luật cũng bổ sung các quy định để hạn chế rủi ro trong hoạt động đầu tư của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi như: Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi phải kiểm soát, quản lý rủi ro; giao Thống đốc Ngân hàng quy định phương thức đầu tư và quy trình kiểm soát, quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi.

Thứ tư, về việc tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tham gia xử lý tổ chức tín dụng được can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt; tham gia xử lý sự cố, khủng hoảng trong hoạt động của tổ chức tín dụng

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 đã bổ sung một chương riêng quy định việc tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tham gia xử lý tổ chức tín dụng được can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt; tham gia xử lý sự cố, khủng hoảng trong hoạt động của tổ chức tín dụng.

Theo đó, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi thực hiện cho vay đặc biệt tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi trong 02 trường hợp: (i) Được can thiệp sớm và bị rút tiền hàng loạt, được kiểm soát đặc biệt và bị rút tiền hàng loạt; (ii) Để thực hiện phương án phục hồi, phương án chuyển giao bắt buộc. Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tự quyết định việc cho vay đặc biệt, bao gồm cả việc cho vay có/không có tài sản bảo đảm, có/không có lãi.

Luật cũng bổ sung quy định để bảo đảm an toàn hệ thống, trật tự an toàn xã hội theo quy định tại khoản 4 Điều 162 Luật Các tổ chức tín dụng, cụ thể: Ngân hàng Nhà nước báo cáo Chính phủ quyết định việc yêu cầu tổ chức Bảo hiểm tiền gửi chi trả trong trường hợp tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt bị mất hoặc có nguy cơ mất khả năng chi trả. Quy định này tạo cơ sở để tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có thể chi trả sớm hơn cho người gửi tiền, thực hiện tốt hơn chức năng bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

Ngoài ra, theo quy định của Luật, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi được Ngân hàng Nhà nước cho vay đặc biệt với lãi suất 0%, không có tài sản bảo đảm trong trường hợp quy định tại Điều 21 của Luật này và khi số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để trả tiền bảo hiểm; đồng thời giao tổ chức Bảo hiểm tiền gửi xây dựng phương án tăng phí bảo hiểm tiền gửi và quy định cụ thể nguồn để ưu tiên hoàn trả nợ vay đặc biệt cho Ngân hàng Nhà nước.

Đối với các trường hợp phát sinh sự cố, khủng hoảng có nguy cơ gây mất an toàn hệ thống tổ chức tín dụng, Luật quy định tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tham gia xử lý theo quy định tại Luật này và Chính phủ quyết định các biện pháp khác để tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tham gia xử lý sự cố, khủng hoảng.

Thùy Dung

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Theo dõi chúng tôi trên: