Thứ bảy 24/01/2026 04:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.

Yêu cầu cấp thiết trong việc nâng cao vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

Sau 12 năm triển khai thực hiện, Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc cần được giải quyết để nâng cao hơn nữa vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, bảo đảm chính sách bảo hiểm tiền gửi thực sự đem lại hiệu quả, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, sự phát triển an toàn và lành mạnh của hoạt động ngân hàng, cụ thể:

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và thực tiễn triển khai.

Vấn đề về phí bảo hiểm tiền gửi cần được sửa đổi, bổ sung để khắc phục những bất cập trong thực tiễn triển khai.

Hạn mức trả tiền bảo hiểm, thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cần được quy định phù hợp và đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật khác, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.

Hiện nay, số tiền bảo hiểm tối đa tổ chức Bảo hiểm tiền gửi chi trả cho 01 khách hàng tại 01 một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản là 125 triệu đồng. Với hạn mức này, tỷ lệ số dư tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ trên tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm ở Việt Nam mới chỉ đạt 8,38%, thấp hơn nhiều so với trung bình trên toàn cầu là 47%; tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ trên tổng số người gửi tiền được bảo hiểm của toàn hệ thống là 92,43%. Tuy nhiên, nếu loại trừ lượng người gửi tiền có số dư từ 1 - 50.000 đồng, tỷ lệ này chỉ ở mức 87,89%, thấp hơn so với mức được IADI khuyến nghị là 90 - 95%.

Quy định về thời điểm chi trả tiền gửi được bảo hiểm hiện nay chưa bảo đảm tính kịp thời, chưa có cơ sở để Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thực hiện chi trả tiền gửi sớm hơn. Ngay khi tổ chức tín dụng xảy ra sự kiện có nguy cơ gây mất an toàn hệ thống, việc tổ chức Bảo hiểm tiền gửi chỉ có thể thực hiện chi trả tiền gửi sau khi tổ chức tín dụng đã có quyết định phá sản sẽ không bảo đảm được vai trò của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong việc ổn định tâm lý người gửi tiền, ngăn chặn nguy cơ đổ vỡ, bảo vệ tốt nhất quyền lợi người gửi tiền.

Ngoài ra, ngày 18/01/2024, Quốc hội đã thông qua Luật Các tổ chức tín dụng, trong đó sửa đổi, bổ sung một số quy định về quyền, nghĩa vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tham gia vào quá trình can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt tổ chức tín dụng nhưng không quy định chi tiết mà dẫn chiếu thực hiện theo pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.

Trong bối cảnh này, việc ban hành Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 là yêu cầu cấp thiết, nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bảo hiểm tiền gửi, nâng cao năng lực và vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi; đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền và góp phần bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng.

Đánh dấu chặng đường phát triển mới

Theo đó, Luật có bố cục gồm 08 chương, 41 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026, với một số điểm nổi bật như:

Thứ nhất, về quyền, nghĩa vụ của người được bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi.

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 quy định quyền, nghĩa vụ của người được bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở kế thừa Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012, đồng thời bổ sung trách nhiệm của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trong việc tính phí, phối hợp với tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tuyên truyền chính sách, pháp luật nhằm làm rõ hơn vai trò, trách nhiệm của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi.

Bên cạnh đó, Luật còn bổ sung quyền, nghĩa vụ của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi trong việc thực hiện kiểm tra, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo kế hoạch, nội dung do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giao; vay đặc biệt từ Ngân hàng Nhà nước; tham gia vào quá trình xử lý tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi như: Cử người đủ tiêu chuẩn, điều kiện để giữ chức danh quản lý, điều hành, thành viên Ban Kiểm soát tại quỹ tín dụng nhân dân được kiểm soát đặc biệt theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước; tham gia đánh giá tính khả thi của phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt theo pháp luật về tổ chức tín dụng; mua trái phiếu dài hạn của tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc, cho vay đặc biệt đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi... Việc sửa đổi, bổ sung này bảo đảm tính thống nhất giữa quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi với Luật Các tổ chức tín dụng, phù hợp với chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền nhằm tăng cường vai trò và giao nhiệm vụ cho tổ chức Bảo hiểm tiền gửi trong việc phối hợp tham gia, hỗ trợ chức năng kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tham gia tái cơ cấu hiệu quả đối với các tổ chức tín dụng yếu kém.

Thứ hai, về hoạt động bảo hiểm tiền gửi.

Thủ tục cấp, thu hồi chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi được tổ chức Bảo hiểm tiền gửi thực hiện ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước cấp, thu hồi Giấy phép thành lập, hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm hoặc có văn bản tạm đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi.

Cùng với đó, Luật quy định rõ trách nhiệm công khai việc tham gia bảo hiểm tiền gửi tại tất cả các điểm giao dịch có nhận tiền gửi, trên trang thông tin điện tử của tổ chức tham gia tham gia bảo hiểm (nếu có), các hình thức khác và giao tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi hướng dẫn hình thức công khai bảo đảm phù hợp với xu hướng ứng dụng công nghệ.

Ngoài ra, để có cơ sở áp dụng cơ chế phí linh hoạt, phù hợp với thực tiễn và vẫn bảo đảm nguồn thu phí bảo hiểm tiền gửi ổn định, Luật đã sửa đổi, bổ sung quy định về phí bảo hiểm tiền gửi, đồng thời giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định mức phí, việc áp dụng phí bảo hiểm tiền gửi đồng hạng hoặc phân biệt phù hợp với đặc thù hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam trong từng thời kỳ. Luật cũng bổ sung quy định về tạm hoãn nộp tiền nợ phí bảo hiểm tiền gửi phát sinh trước thời điểm tổ chức tín dụng được đặt vào sự kiểm soát đặc biệt.

Về thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền, Luật quy định phát sinh kể từ một trong 03 thời điểm:

(i) Phương án phá sản tổ chức tín dụng được phê duyệt hoặc Ngân hàng Nhà nước có văn bản xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền;

(ii) Ngân hàng Nhà nước có văn bản đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt và tổ chức tín dụng đó có lỗ lũy kế lớn hơn 100% giá trị của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất;

(iii) Ngân hàng Nhà nước có văn bản thông báo về việc trả tiền bảo hiểm trong trường hợp để bảo đảm an toàn hệ thống, trật tự, an toàn xã hội.

Đối với hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi, Luật bổ sung quy định theo hướng, khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 21 Luật này, trong trường hợp đặc biệt, để đảm bảo quyền lợi người gửi tiền, an toàn hệ thống tổ chức tín dụng, trật tự an toàn xã hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định hạn mức chi trả tối đa bằng toàn bộ các khoản tiền gửi được bảo hiểm của người gửi tiền tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm.

Thứ ba, về tổ chức bảo hiểm tiền gửi.

Thực hiện mục tiêu, yêu cầu tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi về nâng cao năng lực tài chính của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi, Luật đã điều chỉnh các quy định về mô hình tổ chức, hoạt động, nguồn vốn hoạt động, chế độ tài chính, hạch toán, kế toán của tổ chức bảo hiểm tiền gửi.

Về hoạt động đầu tư của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi, Luật bổ sung các hình thức đầu tư gồm: Mua, bán trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi được phát hành bởi ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, ngân hàng thương mại cổ phần do doanh nghiệp nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; gửi tiền tại các ngân hàng thương mại nêu trên; hoạt động đầu tư khác theo quy định của Chính phủ; đồng thời, Luật cũng bổ sung các quy định để hạn chế rủi ro trong hoạt động đầu tư của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi như: Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi phải kiểm soát, quản lý rủi ro; giao Thống đốc Ngân hàng quy định phương thức đầu tư và quy trình kiểm soát, quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi.

Thứ tư, về việc tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tham gia xử lý tổ chức tín dụng được can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt; tham gia xử lý sự cố, khủng hoảng trong hoạt động của tổ chức tín dụng

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 đã bổ sung một chương riêng quy định việc tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tham gia xử lý tổ chức tín dụng được can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt; tham gia xử lý sự cố, khủng hoảng trong hoạt động của tổ chức tín dụng.

Theo đó, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi thực hiện cho vay đặc biệt tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi trong 02 trường hợp: (i) Được can thiệp sớm và bị rút tiền hàng loạt, được kiểm soát đặc biệt và bị rút tiền hàng loạt; (ii) Để thực hiện phương án phục hồi, phương án chuyển giao bắt buộc. Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tự quyết định việc cho vay đặc biệt, bao gồm cả việc cho vay có/không có tài sản bảo đảm, có/không có lãi.

Luật cũng bổ sung quy định để bảo đảm an toàn hệ thống, trật tự an toàn xã hội theo quy định tại khoản 4 Điều 162 Luật Các tổ chức tín dụng, cụ thể: Ngân hàng Nhà nước báo cáo Chính phủ quyết định việc yêu cầu tổ chức Bảo hiểm tiền gửi chi trả trong trường hợp tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt bị mất hoặc có nguy cơ mất khả năng chi trả. Quy định này tạo cơ sở để tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có thể chi trả sớm hơn cho người gửi tiền, thực hiện tốt hơn chức năng bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

Ngoài ra, theo quy định của Luật, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi được Ngân hàng Nhà nước cho vay đặc biệt với lãi suất 0%, không có tài sản bảo đảm trong trường hợp quy định tại Điều 21 của Luật này và khi số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để trả tiền bảo hiểm; đồng thời giao tổ chức Bảo hiểm tiền gửi xây dựng phương án tăng phí bảo hiểm tiền gửi và quy định cụ thể nguồn để ưu tiên hoàn trả nợ vay đặc biệt cho Ngân hàng Nhà nước.

Đối với các trường hợp phát sinh sự cố, khủng hoảng có nguy cơ gây mất an toàn hệ thống tổ chức tín dụng, Luật quy định tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tham gia xử lý theo quy định tại Luật này và Chính phủ quyết định các biện pháp khác để tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tham gia xử lý sự cố, khủng hoảng.

Thùy Dung

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: