Quyền cơ bản của đại biểu Quốc hội
Theo quy định tại Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13, sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2020/QH14 và Luật số 62/2025/QH15 (Luật Tổ chức Quốc hội), quyền cơ bản của ĐBQH được gắn liền với chức năng của Quốc hội trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Cụ thể:
ĐBQH có quyền trình dự án luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. ĐBQH được hỗ trợ trong việc xây dựng, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội do ĐBQH trình theo quy định của pháp luật[1].
ĐBQH có quyền tham gia làm thành viên của Hội đồng Dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội. ĐBQH không phải là thành viên của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có quyền đăng ký tham dự phiên họp do Hội đồng, Ủy ban tổ chức để thảo luận về những nội dung mà đại biểu quan tâm[2].
ĐBQH có quyền ứng cử hoặc giới thiệu người ứng cử vào các chức danh do Quốc hội bầu. ĐBQH có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước[3].
ĐBQH có quyền kiến nghị Quốc hội làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, trưng cầu ý dân, thành lập Ủy ban lâm thời của Quốc hội, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, tổ chức kỳ họp không thường lệ, phiên họp kín của Quốc hội và kiến nghị về những vấn đề khác mà ĐBQH thấy cần thiết[4].
Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, ĐBQH có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của ĐBQH, cơ quan, tổ chức phải giải quyết và thông báo bằng văn bản cho ĐBQH biết. Quá thời hạn này mà cơ quan, tổ chức không trả lời thì ĐBQH có quyền yêu cầu người đứng đầu của cơ quan, tổ chức cấp trên xem xét, giải quyết[5].
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu, ĐBQH có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó[6].
ĐBQH có quyền tham dự kỳ họp HĐND các cấp nơi mình thực hiện nhiệm vụ đại biểu, có quyền tham gia ý kiến vào các vấn đề quản lý nhà nước, vấn đề liên quan đến đời sống của Nhân dân và các vấn đề khác mà đại biểu quan tâm[7].
Trách nhiệm của đại biểu Quốc hội
Tham gia đầy đủ các hoạt động của Quốc hội, gắn bó chặt chẽ với cử tri và thực hiện nghiêm túc việc tiếp công dân là những yêu cầu trọng tâm trong thực hiện nhiệm vụ của ĐBQH. Theo đó, ĐBQH có các trách nhiệm sau:
ĐBQH có trách nhiệm tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên họp toàn thể của Quốc hội; tham gia các hoạt động của Đoàn ĐBQH; tham dự các phiên họp, các hoạt động khác của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội mà mình là thành viên; thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội mà mình là thành viên[8].
ĐBQH có trách nhiệm liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan; phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật[9].
ĐBQH có trách nhiệm tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân theo quy định của pháp luật[10].
ĐBQH hoạt động chuyên trách có trách nhiệm tham gia hội nghị ĐBQH hoạt động chuyên trách và các hội nghị khác do Ủy ban Thường vụ Quốc hội triệu tập[11].
Quyền cơ bản của đại biểu Hội đồng nhân dân
Theo quy định tại Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 (Luật Tổ chức chính quyền địa phương), quyền cơ bản của đại biểu HĐND được gắn liền với chức năng của Quốc hội trong hoạt động chất vấn, kiến nghị và giám sát việc thi hành pháp luật. Cụ thể:
Đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, người đứng đầu cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật[12].
Đại biểu HĐND có quyền đề xuất sáng kiến xây dựng chính sách ở địa phương; quyền kiến nghị HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu; kiến nghị tổ chức phiên họp chuyên đề, phiên họp kín hoặc phiên họp để giải quyết công việc phát sinh đột xuất và kiến nghị về những vấn đề khác mà đại biểu thấy cần thiết[13].
Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật[14].
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu, đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó[15].
Trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân
Tham gia đầy đủ các hoạt động của HĐND, gắn bó chặt chẽ với cử tri và thực hiện nghiêm túc việc tiếp công dân là những yêu cầu trọng tâm trong thực hiện nhiệm vụ của đại biểu HĐND. Theo đó, đại biểu HĐND có các trách nhiệm sau:
Đại biểu HĐND có trách nhiệm tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp HĐND, tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND. Đại biểu HĐND không tham dự kỳ họp, phiên họp thì phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tọa kỳ họp, phiên họp. Trường hợp đại biểu HĐND không tham dự các kỳ họp liên tục trong 01 năm mà không có lý do chính đáng thì Thường trực HĐND phải báo cáo HĐND để bãi nhiệm đại biểu HĐND đó[16].
Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri nơi mình thực hiện nhiệm vụ đại biểu, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri với HĐND, các cơ quan, tổ chức hữu quan; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri[17].
Sau kỳ họp thường lệ của HĐND, đại biểu HĐND tiếp xúc cử tri báo cáo kết quả kỳ họp, phổ biến các nghị quyết của HĐND và vận động Nhân dân thực hiện các nghị quyết đó
Đại biểu HĐND có trách nhiệm tiếp công dân theo quy định của pháp luật. Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, đại biểu HĐND có trách nhiệm nghiên cứu, hướng dẫn công dân gửi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến đúng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. Trong trường hợp cần thiết, đại biểu HĐND trực tiếp hoặc thông qua Thường trực HĐND cùng cấp chuyển đơn đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết.
Quyền miễn trừ - cơ chế bảo đảm cho hoạt động của đại biểu dân cử
ĐBQH và đại biểu HĐND có quyền miễn trừ khi làm nhiệm vụ. Không được bắt, giam, giữ, khởi tố ĐBQH, khám xét nơi ở và nơi làm việc của ĐBQH nếu không có sự đồng ý của Quốc hội hoặc trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Việc đề nghị bắt, giam, giữ, khởi tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của ĐBQH thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trường hợp ĐBQH bị tạm giữ vì phạm tội quả tang thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định. ĐBQH không thể bị cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu công tác bãi nhiệm, cách chức, buộc thôi việc, sa thải nếu không được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng ý[18].
Không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu HĐND, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu HĐND nếu không có sự đồng ý của HĐND hoặc của Thường trực HĐND trong thời gian HĐND không họp. Trường hợp đại biểu HĐND bị tạm giữ vì phạm tội quả tang thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để HĐND hoặc Thường trực HĐND xem xét, quyết định[19].
(Ảnh: Internet)
Điều 29 Luật Tổ chức Quốc hội.
Điều 30 Luật Tổ chức Quốc hội.
Điều 31 Luật Tổ chức Quốc hội.
Điều 33 Luật Tổ chức Quốc hội.
Điều 34 Luật Tổ chức Quốc hội.
Điều 35 Luật Tổ chức Quốc hội.
Điều 36 Luật Tổ chức Quốc hội.
Điều 26 Luật Tổ chức Quốc hội.
Điều 27 Luật Tổ chức Quốc hội.
Điều 28 Luật Tổ chức Quốc hội.
Điều 26 Luật Tổ chức Quốc hội.
Khoản 7 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Khoản 5 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Khoản 8 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Khoản 9 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Khoản 2 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Khoản 3 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Điều 37 Luật Tổ chức Quốc hội.
Khoản 10 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.