Thứ năm 08/01/2026 23:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.

Quyền cơ bản của đại biểu Quốc hội

Theo quy định tại Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13, sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2020/QH14 và Luật số 62/2025/QH15 (Luật Tổ chức Quốc hội), quyền cơ bản của ĐBQH được gắn liền với chức năng của Quốc hội trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Cụ thể:

ĐBQH có quyền trình dự án luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. ĐBQH được hỗ trợ trong việc xây dựng, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội do ĐBQH trình theo quy định của pháp luật[1].

ĐBQH có quyền tham gia làm thành viên của Hội đồng Dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội. ĐBQH không phải là thành viên của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có quyền đăng ký tham dự phiên họp do Hội đồng, Ủy ban tổ chức để thảo luận về những nội dung mà đại biểu quan tâm[2].

ĐBQH có quyền ứng cử hoặc giới thiệu người ứng cử vào các chức danh do Quốc hội bầu. ĐBQH có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước[3].

ĐBQH có quyền kiến nghị Quốc hội làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, trưng cầu ý dân, thành lập Ủy ban lâm thời của Quốc hội, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, tổ chức kỳ họp không thường lệ, phiên họp kín của Quốc hội và kiến nghị về những vấn đề khác mà ĐBQH thấy cần thiết[4].

Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, ĐBQH có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của ĐBQH, cơ quan, tổ chức phải giải quyết và thông báo bằng văn bản cho ĐBQH biết. Quá thời hạn này mà cơ quan, tổ chức không trả lời thì ĐBQH có quyền yêu cầu người đứng đầu của cơ quan, tổ chức cấp trên xem xét, giải quyết[5].

Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu, ĐBQH có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó[6].

ĐBQH có quyền tham dự kỳ họp HĐND các cấp nơi mình thực hiện nhiệm vụ đại biểu, có quyền tham gia ý kiến vào các vấn đề quản lý nhà nước, vấn đề liên quan đến đời sống của Nhân dân và các vấn đề khác mà đại biểu quan tâm[7].

Trách nhiệm của đại biểu Quốc hội

Tham gia đầy đủ các hoạt động của Quốc hội, gắn bó chặt chẽ với cử tri và thực hiện nghiêm túc việc tiếp công dân là những yêu cầu trọng tâm trong thực hiện nhiệm vụ của ĐBQH. Theo đó, ĐBQH có các trách nhiệm sau:

ĐBQH có trách nhiệm tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên họp toàn thể của Quốc hội; tham gia các hoạt động của Đoàn ĐBQH; tham dự các phiên họp, các hoạt động khác của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội mà mình là thành viên; thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội mà mình là thành viên[8].

ĐBQH có trách nhiệm liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan; phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật[9].

ĐBQH có trách nhiệm tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân theo quy định của pháp luật[10].

ĐBQH hoạt động chuyên trách có trách nhiệm tham gia hội nghị ĐBQH hoạt động chuyên trách và các hội nghị khác do Ủy ban Thường vụ Quốc hội triệu tập[11].

Quyền cơ bản của đại biểu Hội đồng nhân dân

Theo quy định tại Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 (Luật Tổ chức chính quyền địa phương), quyền cơ bản của đại biểu HĐND được gắn liền với chức năng của Quốc hội trong hoạt động chất vấn, kiến nghị và giám sát việc thi hành pháp luật. Cụ thể:

Đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, người đứng đầu cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật[12].

Đại biểu HĐND có quyền đề xuất sáng kiến xây dựng chính sách ở địa phương; quyền kiến nghị HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu; kiến nghị tổ chức phiên họp chuyên đề, phiên họp kín hoặc phiên họp để giải quyết công việc phát sinh đột xuất và kiến nghị về những vấn đề khác mà đại biểu thấy cần thiết[13].

Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật[14].

Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu, đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó[15].

Trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân

Tham gia đầy đủ các hoạt động của HĐND, gắn bó chặt chẽ với cử tri và thực hiện nghiêm túc việc tiếp công dân là những yêu cầu trọng tâm trong thực hiện nhiệm vụ của đại biểu HĐND. Theo đó, đại biểu HĐND có các trách nhiệm sau:

Đại biểu HĐND có trách nhiệm tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp HĐND, tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND. Đại biểu HĐND không tham dự kỳ họp, phiên họp thì phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tọa kỳ họp, phiên họp. Trường hợp đại biểu HĐND không tham dự các kỳ họp liên tục trong 01 năm mà không có lý do chính đáng thì Thường trực HĐND phải báo cáo HĐND để bãi nhiệm đại biểu HĐND đó[16].

Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri nơi mình thực hiện nhiệm vụ đại biểu, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri với HĐND, các cơ quan, tổ chức hữu quan; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri[17].

Sau kỳ họp thường lệ của HĐND, đại biểu HĐND tiếp xúc cử tri báo cáo kết quả kỳ họp, phổ biến các nghị quyết của HĐND và vận động Nhân dân thực hiện các nghị quyết đó

Đại biểu HĐND có trách nhiệm tiếp công dân theo quy định của pháp luật. Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, đại biểu HĐND có trách nhiệm nghiên cứu, hướng dẫn công dân gửi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến đúng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. Trong trường hợp cần thiết, đại biểu HĐND trực tiếp hoặc thông qua Thường trực HĐND cùng cấp chuyển đơn đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết.

Quyền miễn trừ - cơ chế bảo đảm cho hoạt động của đại biểu dân cử

ĐBQH và đại biểu HĐND có quyền miễn trừ khi làm nhiệm vụ. Không được bắt, giam, giữ, khởi tố ĐBQH, khám xét nơi ở và nơi làm việc của ĐBQH nếu không có sự đồng ý của Quốc hội hoặc trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Việc đề nghị bắt, giam, giữ, khởi tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của ĐBQH thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trường hợp ĐBQH bị tạm giữ vì phạm tội quả tang thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định. ĐBQH không thể bị cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu công tác bãi nhiệm, cách chức, buộc thôi việc, sa thải nếu không được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng ý[18].

Không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu HĐND, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu HĐND nếu không có sự đồng ý của HĐND hoặc của Thường trực HĐND trong thời gian HĐND không họp. Trường hợp đại biểu HĐND bị tạm giữ vì phạm tội quả tang thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để HĐND hoặc Thường trực HĐND xem xét, quyết định[19].

(Ảnh: Internet)


  1. Điều 29 Luật Tổ chức Quốc hội.

  2. Điều 30 Luật Tổ chức Quốc hội.

  3. Điều 31 Luật Tổ chức Quốc hội.

  4. Điều 33 Luật Tổ chức Quốc hội.

  5. Điều 34 Luật Tổ chức Quốc hội.

  6. Điều 35 Luật Tổ chức Quốc hội.

  7. Điều 36 Luật Tổ chức Quốc hội.

  8. Điều 26 Luật Tổ chức Quốc hội.

  9. Điều 27 Luật Tổ chức Quốc hội.

  10. Điều 28 Luật Tổ chức Quốc hội.

  11. Điều 26 Luật Tổ chức Quốc hội.

  12. Khoản 7 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

  13. Khoản 5 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

  14. Khoản 8 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

  15. Khoản 9 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

  16. Khoản 2 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

  17. Khoản 3 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

  18. Điều 37 Luật Tổ chức Quốc hội.

  19. Khoản 10 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Hải Đăng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Sáng 06/01/2026, Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2026) được tổ chức trọng thể tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội. Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Báo chí đồng hành cùng Quốc hội trong hành trình 80 năm phụng sự Nhân dân

Báo chí đồng hành cùng Quốc hội trong hành trình 80 năm phụng sự Nhân dân

Ghi dấu những nỗ lực đổi mới, phản ánh sinh động đời sống nghị trường và lan tỏa tinh thần dân chủ, thượng tôn Hiến pháp, pháp luật, Lễ trao Giải báo chí toàn quốc về Quốc hội và Hội đồng nhân dân lần thứ tư - Giải Diên Hồng tiếp tục khẳng định vai trò của báo chí cách mạng đồng hành cùng Quốc hội trên chặng đường 80 năm hình thành và phát triển.
80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường

Lời Tòa soạn: Năm 2026, Quốc hội kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2026) - Một chặng đường lịch sử hào hùng, gắn liền với sự ra đời, trưởng thành và phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 80 năm, từ phiên họp đầu tiên tại Nhà hát lớn Hà Nội, số 1 phố Tràng Tiền giữa mùa xuân năm 1946 đến Hội trường Diên Hồng hôm nay, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng đổi mới, khẳng định vị thế là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân. Từ Quốc hội của thời kháng chiến, kiến quốc đến Quốc hội của thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số. Hành trình ấy là minh chứng cho “Thời gian và Con đường” mà Quốc hội luôn kiên định: Vì Nhân dân!
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Lịch trình pháp lý cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Lịch trình pháp lý cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là sự kiện chính trị trọng đại, được tiến hành theo trình tự chặt chẽ, bảo đảm dân chủ, bình đẳng và đúng pháp luật. Trong tiến trình ấy, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND (Luật Bầu cử) quy định cụ thể các mốc thời gian thực hiện. Đây vừa là cơ sở bảo đảm tính logic, vừa là căn cứ cho sự minh bạch và thống nhất trong toàn bộ quy trình. Lịch trình pháp lý được xác định trên cơ sở ngày bầu cử đã được ấn định cho mỗi kỳ bầu cử.
Một số điểm mới đáng lưu ý trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031

Một số điểm mới đáng lưu ý trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031

Ngày 24/6/2025, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 và sẽ được áp dụng ngay trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 diễn ra vào ngày 15/3/2026
Dự kiến thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Dự kiến thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Chiều ngày 11/9/2025, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 (dự thảo Nghị quyết).