![]() |
| Đại hội Đảng bộ Bộ Tư pháp nhiệm kỳ 2020 - 2025. |
Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược gay gắt; xung đột leo thang ở nhiều khu vực; kinh tế, thương mại phục hồi chậm, thiếu vững chắc, nguy cơ xảy ra “chiến tranh” thương mại; đại dịch Covid - 19 diễn biến phức tạp; thiên tai, biến đổi khí hậu có nhiều diễn biến bất thường… đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình kinh tế - xã hội toàn cầu và đất nước ta. Ở trong nước, Đảng, Nhà nước đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hiệu quả, giữ ổn định tình hình chính trị - xã hội và kinh tế vĩ mô, nền kinh tế đã phục hồi và phát triển rõ nét, củng cố niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư; an sinh xã hội, đời sống vật chất, tinh thần người dân không ngừng được nâng lên; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; các hoạt động ngoại giao được đẩy mạnh, vị thế, uy tín của Việt Nam tiếp tục được nâng lên, mở ra cơ hội phát triển mới cho đất nước.
Trong bối cảnh trên, việc triển khai Nghị quyết Đại hội, nhiệm kỳ 2020 - 2025 của Đảng bộ Bộ Tư pháp cơ bản có nhiều thuận lợi: Bộ, ngành Tư pháp luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự phối hợp tích cực của nhiều bộ, ngành Trung ương và địa phương; yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật gắn với các chủ trương cải cách trong kinh tế, tư pháp, pháp luật, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, đã tiếp tục khẳng định và nâng cao vị thế của công tác tư pháp nói chung, của Bộ, ngành Tư pháp nói riêng trong đời sống xã hội. Đảng bộ Bộ Tư pháp luôn duy trì sự đoàn kết, thống nhất, quyết tâm tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ chính trị được đề ra tại Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2020 - 2025; đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng nỗ lực, vượt khó, yêu Ngành, yêu nghề, sẵn sàng đồng hành vượt qua mọi khó khăn, tận dụng cơ hội để hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ của nhiệm kỳ 2020 - 2025.
Nhiều kết quả đạt được trong công tác xây dựng Đảng
Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, Đảng ủy Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; các Nghị quyết của Quốc hội; các nghị quyết, chương trình hành động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ liên quan đến các lĩnh vực công tác của Bộ, ngành Tư pháp, nổi bật là:
(i) Tham mưu xây dựng và triển khai hiệu quả Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới.
(ii) Tham mưu xây dựng Thông báo số 108-TB/VPTW ngày 18/11/2024 của Văn phòng Trung ương Đảng về Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban cán sự đảng Bộ Tư pháp ngày 07/11/2024; Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật.
(iii) Tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW).
(iv) Tham gia đề xuất, hoàn thiện pháp luật về sắp xếp tổ chức bộ máy theo yêu cầu tại Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 19- NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Kết luận số 130-KL/TW ngày 14/3/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương sắp xếp tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp...
(v) Tích cực tổ chức thực hiện trong phạm vi Bộ, ngành Tư pháp 04 nghị quyết “bộ tứ trụ cột” đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Đảng ủy Bộ Tư pháp đã ban hành các chương trình hành động/kế hoạch thực hiện các Nghị quyết này như: (i) Kế hoạch số 12-KH/ĐU ngày 30/5/2025 của Đảng ủy Bộ thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 140/NQ-CP ngày 17/5/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới của Đảng ủy Bộ Tư pháp; (ii) Kế hoạch số 19-KH/ĐU ngày 02/7/2025 của Đảng ủy Bộ Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị; Quyết định số 204-QĐ/TW ngày 29/11/2024 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ; (iii) xây dựng Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; (iv) Chương trình hành động ban hành kèm theo Quyết định số 1955/QĐ-BTP ngày 27/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 của Chính phủ, Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 17/5/2025 của Chính phủ. Đồng thời, ngày 17/6/2025, Bộ Tư pháp cũng đã có 02 báo cáo gửi Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương: Báo cáo “Các giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “2 con số" trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” và Báo cáo chuyên đề “Rà soát, đánh giá thực trạng hệ thống luật pháp về kinh tế và để xuất hoàn thiện nhằm tạo khung khổ pháp lý thuận lợi thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng “2 con số” trong thời gian tới”.
Bên cạnh đó, Đảng ủy đã chỉ đạo tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành các chủ trương, quy định của Đảng bảo đảm tổ chức thực hiện có hiệu quả phương hướng, nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp; phối hợp hiệu quả với các cấp ủy đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, sắp xếp, tinh gọn hệ thống chính trị và kịp thời ban hành, điều chỉnh, bổ sung chương trình, kế hoạch công tác phù hợp với các chủ trương, kết luận mới của Trung ương.
Đảng ủy Bộ đã phối hợp chặt chẽ với Ban cán sự đảng, Lãnh đạo Bộ lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc phối hợp với thủ trưởng đơn vị, tổ chức đoàn thể quán triệt, thể chế hóa và triển khai thực hiện nghiêm, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong các lĩnh vực quản lý, phù hợp với thực tiễn, yêu cầu phát triển. Qua đó, đã hoàn thành 100% các nhiệm vụ được giao theo kế hoạch và rất nhiều nhiệm vụ được giao thêm.
![]() |
| Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ 2 nhiệm kỳ 2020 - 2025. |
Đảng ủy Bộ Tư pháp đã thể hiện rõ vai trò trung tâm, định hướng chính trị và lãnh đạo toàn diện trong thực hiện các nhiệm vụ được giao
Trong đó, một số kết quả nổi bật:
Một là, chủ động, kịp thời tổ chức nghiên cứu, tham mưu, đề xuất, trình cấp có thẩm quyền về đổi mới công tác xây dựng pháp luật, tạo đột phá trong đổi mới tư duy về thể chế.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định thể chế là một trong ba đột phá chiến lược, xác định trách nhiệm của đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ này, Đảng bộ Bộ Tư pháp đã chủ động, kịp thời tổ chức nghiên cứu, tham mưu, đề xuất, trình cấp có thẩm quyền về đổi mới công tác xây dựng pháp luật trong việc trình Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và Quốc hội ban hành Nghị quyết số 197/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
Hai là, công tác thẩm định, kiểm tra văn bản ngày càng chuyên sâu, bảo đảm tính hiến định, thống nhất, hợp pháp, hợp lý.
Trên cơ sở chỉ đạo tại các Nghị quyết của Trung ương, Kết luận của Bộ Chính trị, thể chế trong công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật đã có bước đột phá mạnh mẽ. Đảng ủy Bộ Tư pháp đã chỉ đạo các đơn vị giúp Chính phủ xây dựng, trình Quốc hội thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025; trình Chính phủ ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành Luật, qua đó, kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhất là chủ trương đổi mới tư duy, đổi mới quy trình xây dựng văn bản văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời, góp phần tháo gỡ “điểm nghẽn” về thể chế, nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, khơi thông nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của Đất nước.
Đảng ủy Bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời đề xuất những định hướng lớn, then chốt trong cải cách pháp luật, cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết các Hội nghị Trung ương khóa XIII. Tập trung tham mưu thể chế hóa những quan điểm, mục tiêu, định hướng chính sách, nhiệm vụ trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương, kết luận, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và thực hiện Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, đặc biệt trong năm 2025, Bộ Tư pháp đã có những đóng góp tích cực trong quá trình tổng hợp lấy ý kiến Nhân dân, các ngành, các cấp về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013; gắn công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật; chỉ đạo xây dựng, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền...
Công tác kiểm tra văn bản thực hiện ngày càng kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng kiểm tra văn bản theo chuyên đề, lĩnh vực, địa bàn, tổ chức các đoàn công tác kiểm tra tại các bộ, ngành, địa phương để kịp thời phát hiện, tự xử lý và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý dứt điểm các quy định trái pháp luật, có tác động rộng rãi đến người dân, xã hội. Việc theo dõi, đôn đốc xử lý văn bản trái pháp luật được thực hiện sát sao, quyết liệt, đạt hiệu quả xử lý cao.
Công tác rà soát văn bản được tiến hành thường xuyên và đạt nhiều kết quả nổi bật, như: Hoàn thành Kế hoạch thực hiện hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thống nhất trong cả nước kỳ 2019 - 2023; tổ chức một số nhiệm vụ rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo chuyên đề, lĩnh vực. Đặc biệt, Bộ Tư pháp đã thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu, giúp Tổ công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo rà soát và tổ chức thực hiện việc xử lý vướng mắc trong hệ thống pháp luật để triển khai nhiệm vụ rà soát, xử lý kết quả rà soát được giao tại các Nghị quyết của Chính phủ. Qua đó, đã xác định một số vướng mắc, điểm nghẽn cần tập trung tháo gỡ, chú trọng vào lĩnh vực pháp luật về kinh tế, về phân cấp, ủy quyền, cắt giảm thủ tục hành chính. Công tác hệ thống hóa văn bản được quan tâm chú trọng thực hiện. Công tác pháp điển, trọng tâm là xây dựng Bộ pháp điển đã được công bố chính thức.
Ba là, Bộ, ngành Tư pháp luôn đứng trong nhóm dẫn đầu về chỉ số cải cách hành chính.
Công tác cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính của Bộ, ngành Tư pháp luôn đứng trong nhóm dẫn đầu về chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX). Việc phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực tư pháp được thực hiện triệt để, bảo đảm nguyên tắc trung ương tập trung quản lý vĩ mô.
Công tác theo dõi thi hành pháp luật đã đạt được một số kết quả nổi bật. Việc xây dựng và trình Thủ tướng ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật được quan tâm, chú trọng. Phạm vi, quy mô, tính chất hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật ngày càng mở rộng và bám sát thực tiễn. Tính đến nay, 57 đoàn kiểm tra công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật và 62 đoàn kiểm tra, điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành đã được thành lập. Việc xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật được triển khai bài bản, hiệu quả và bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Quản lý xử lý vi phạm hành chính đã được triển khai đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả. Từ năm 2020 đến nay, 10 văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo, xây dựng đã được ban hành và 61 nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính đã được Bộ Tư pháp thẩm định. Tính đến nay, 44 cuộc kiểm tra công tác tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đã được tổ chức, qua đó, phát hiện, chấn chỉnh và xử lý kịp thời những sai sót, vi phạm trong quá trình thi hành công vụ, góp phần phòng, chống các vi phạm xảy ra, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Bốn là, đổi mới phương thức truyền thông chính sách, mở rộng hệ thống trung tâm pháp lý cộng đồng, đẩy mạnh trợ giúp pháp lý miễn phí, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật trong Nhân dân.
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tiếp tục đổi mới, thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, bám sát yêu cầu thực tiễn, lấy người dân là trung tâm để tham mưu hoàn thiện thể chế và coi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là giải pháp thúc đẩy đưa pháp luật vào cuộc sống. Cùng với việc tham mưu Ban Bí thư ban hành Kết luận số 80-KL/TW và Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận, Bộ Tư pháp đã chủ trì xây dựng, thực hiện các Đề án quan trọng về: truyền thông chính sách; tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật cho người dân; tăng cường năng lực cho đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật... Bên cạnh các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật truyền thống, nhiều mô hình mới, cách làm hay hiệu quả về phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là việc ứng dụng công nghệ thông tin tiếp tục được quan tâm, chú trọng triển khai mang lại hiệu quả cao. Các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam được tổ chức thiết thực, lan tỏa sâu rộng tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Đặc biệt, Bộ Tư pháp đã khẩn trương xây dựng, tham mưu tổ chức Lễ khai trương Cổng Pháp luật quốc gia với sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ, qua đó phục vụ kịp thời, đầy đủ, chính xác việc tra cứu thông tin pháp luật; giải đáp các câu hỏi về các nội dung, tình huống pháp luật; đồng thời thực hiện việc giải quyết phản ánh kiến nghị của người dân doanh nghiệp trên môi trường số.
Công tác trợ giúp pháp lý tiếp tục được tăng cường với việc hoàn thiện thể chế đồng bộ, thống nhất; nâng cao hiệu quả phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, điểm nhấn là Chương trình phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao về việc người thực hiện trợ giúp pháp lý trực tại Tòa án, ký kết Chương trình phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Bộ Công an về trực trợ giúp pháp lý trong điều tra hình sự. Việc ký kết, thực hiện các chương trình này giúp người bị buộc tội, đương sự, bị hại được tiếp cận sớm với trợ giúp pháp lý. Từ năm 2020 - 2024, toàn quốc đã thực hiện 146.883 vụ việc trợ giúp pháp lý. Trong đó có 31.531 vụ việc tư vấn; 113.994 vụ việc tham gia tố tụng và 1.408 vụ việc đại diện ngoài tố tụng. Kết quả có 43.938 vụ việc thành công, chiếm 38,5% tổng số vụ việc tham gia tố tụng.
Công tác hòa giải cơ sở tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò, góp phần giữ gìn đoàn kết, tinh thần tương thân tương ái, bảo đảm an ninh, trật tự xã hội tại cơ sở. Cùng với Luật Hòa giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở giai đoạn 2024 - 2030” đưa công tác hòa giải ở cơ sở đi vào chiều sâu. Giai đoạn 2020 - 2024, cả nước có 87.396 tổ hòa giải với 549.446 hòa giải viên; tổng số 554.737 vụ việc đã tiến hành hòa giải, trong đó có 549.432 vụ việc hòa giải thành, tỷ lệ hòa giải trung bình hằng năm đạt hơn 80%. Việc xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được chú trọng, gắn với thực hiện Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg. Công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục được quan tâm triển khai theo tinh thần Chính phủ đồng hành cùng doanh nghiệp.
Năm là, hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự và pháp luật liên quan đến công tác thi hành án dân sự là một trong những điểm nhấn quan trọng trong nhiệm kỳ 2020 - 2025.
Công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng, số việc, số tiền thi hành xong về cơ bản năm sau đều cao hơn năm trước, đạt chỉ tiêu của Quốc hội giao, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, công dân cũng như khơi thông nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt trong nhiệm kỳ, Bộ Tư pháp đã tham mưu trình Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 02/6/2021 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế. Chỉ thị được ban hành thể hiện rõ quan điểm của Đảng về trách nhiệm và yêu cầu vào cuộc của cả hệ thống chính trị, từ Trung ương đến địa phương đối với công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế, trong đó thi hành án thu hồi tài sản là khâu cuối cùng, quan trọng và thể hiện tập trung nhất kết quả thu hồi tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụng trước đó.
Hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự và pháp luật liên quan đến công tác thi hành án dân sự cũng là một trong những điểm nhấn quan trọng trong nhiệm kỳ, với việc tham mưu cho Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung 09 Luật, trong đó có Luật Thi hành án dân sự với việc quy định bổ sung cơ chế ủy thác xử lý tài sản, bảo đảm hành lang pháp lý cho việc xử lý tài sản song song, cùng một thời điểm ở nhiều địa phương, thay vì phải xử lý tuần tự tài sản. Cùng với đó đã tham mưu trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, kịp thời tháo gỡ những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn tổ chức thi hành án. Những sửa đổi, bổ sung về thể chế thi hành án dân sự trong nhiệm kỳ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhiều vụ đại án đã và đang được đưa ra tổ chức thi hành với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản phải xử lý đặc biệt lớn nằm ở nhiều địa phương khác nhau. Nhờ đó, kết quả thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế giai đoạn 2020 - 2025 đạt con số ấn tượng với hơn 80.000 tỷ đồng gấp 04 lần số tiền thu hồi được của cả giai đoạn trước đó.
Công tác kiểm tra, tự kiểm tra trong hệ thống thi hành án dân sự cũng được đặc biệt chú trọng trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, qua đó đã kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và xử lý các vi phạm, góp phần xây dựng hệ thống thi hành án dân sự từ Trung ương đến địa phương ngày càng kỷ luật, kỷ cương, nền nếp và trách nhiệm.
Với những kết quả đạt được, đã ngày càng khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác thi hành án trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN theo Nghị quyết số 27-NQ/TW.
Sáu là, công tác hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, nuôi con nuôi, lý lịch tư pháp, đăng ký biện pháp bảo đảm, bồi thường nhà nước, bổ trợ tư pháp tiếp tục được triển khai thực hiện nền nếp, chuyên nghiệp, kịp thời giải quyết các nhu cầu của người dân.
Công tác hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, nuôi con nuôi tiếp tục được triển khai thực hiện nền nếp, kịp thời giải quyết các nhu cầu của người dân, bám sát các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật, nhiệm vụ giao tại các Đề án trong lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, nuôi con nuôi, đạt được nhiều kết quả tích cực, như: thể chế pháp luật tiếp tục được chú trọng, hoàn thiện; Đề án “Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc” được tập trung triển khai thực hiện, nổi bật là Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử tiếp tục được kết nối, chia sẻ dữ liệu thông suốt, hiệu quả với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; các nhiệm vụ được giao tại Đề án 06 của Thủ tướng Chính phủ được toàn Ngành triển khai đồng bộ, giúp tiết kiệm khoảng 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính; công tác giải quyết hồ sơ quốc tịch, chứng thực, con nuôi tiếp tục đạt kết quả tốt.
Việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp được đẩy mạnh thực hiện qua dịch vụ công trực tuyến và là một trong những dịch vụ công đầu tiên triển khai thành công trên nền tảng VNeID; từ 01/3/2025, Bộ Tư pháp đã chuyển giao nhiệm vụ quản lý lý lịch tư pháp sang Bộ Công an, bảo đảm công tác này tiếp tục được thực hiện thông suốt trong phục vụ người dân.
Trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm, với phương châm thực hiện lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động đầu tư, tín dụng và sản xuất, kinh doanh. Hệ thống đăng ký trực tuyến được nâng cấp toàn diện, tích hợp định danh điện tử, chữ ký số, mã QR và kết nối liên thông dữ liệu với Bộ, ngành có liên quan, với Cổng Dịch vụ công quốc gia,…. Công tác đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm đã đạt mức toàn trình; tiếp nhận và xử lý hơn 4,5 triệu Hồ sơ đăng ký, cung cấp thông tin; 88% trong số đó được thực hiện trực tuyến - một bước tiến lớn trong cải cách hành chính và chuyển đổi số. Với những kết quả nổi bật trong công tác chuyển đổi số, năm 2024, Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ được vinh danh là Cơ quan chuyển đổi số xuất sắc với sản phẩm Hệ thống đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng động sản.
Trong lĩnh vực bồi thường nhà nước, công tác tổ chức, triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 được xác định là nhiệm vụ trọng tâm; công tác quản lý nhà nước được thực hiện nề nếp, xử lý hàng trăm vụ việc phức tạp, tổ chức gần 70 đoàn kiểm tra, ban hành hơn 450 văn bản hướng dẫn nghiệp vụ. Công tác này góp phần tháo gỡ vướng mắc tại địa phương, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người dân, nhiều vụ việc yêu cầu bồi thường đã được giải quyết dứt điểm, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức.
Thể chế pháp luật trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp tiếp tục được hoàn thiện; công tác quản lý nhà nước được tăng cường; thực hiện có hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra, nhất là lĩnh vực luật sư, công chứng, đấu giá tài sản, góp phần tạo chuyển biến về nhận thức; tăng cường ý thức tuân thủ pháp luật trong hành nghề; chỉ đạo các tổ chức hành nghề bổ trợ tư pháp cung cấp dịch vụ để đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.
Bảy là, hợp tác quốc tế về pháp luật được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả nổi bật, góp phần nâng cao vị thế pháp lý quốc gia, hỗ trợ hiệu quả nhiệm vụ chính trị của Bộ, Ngành.
Bộ Tư pháp đã thẩm định, góp ý và tham gia đàm phán nhiều điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế và cấp ý kiến pháp lý theo quy định pháp luật; thực hiện tốt Chỉ thị 33-CT/TW ngày 21/5/2025 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa và giải quyết tranh chấp quốc tế và là cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trên cơ sở các điều ước quốc tế về đầu tư, tham gia xử lý các vấn đề pháp lý quốc tế phát sinh trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Bộ Tư pháp cũng đã thể hiện tốt vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về tương trợ tư pháp và là đầu mối thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự theo quy định pháp luật .
Việc triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế của Bộ đạt nhiều kết quả nổi bật. Trong cả nhiệm kỳ, đàm phán và ký gần 80 văn kiện hợp tác với đối tác, mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới, đóng góp tích cực vào việc triển khai hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của Bộ. Một số kết quả nổi bật như: lần đầu tiên tổ chức đón Bộ trưởng Tư pháp Trung Quốc thăm Việt Nam (2024) và tổ chức đoàn Bộ trưởng Bộ Tư pháp Việt Nam thăm song phương, tham dự Hội nghị Tư pháp các tỉnh có chung đường biên giới Việt - Trung lần thứ nhất (6/2025) cũng như lần đầu tiên việc tăng cường hợp tác giữa Bộ Tư pháp Việt Nam - Trung Quốc được đưa vào Tuyên bố chung giữa Tổng Bí thư 2 nước (tháng 4/2025); duy trì tốt cơ chế Hội nghị tư pháp các tỉnh có chung đường biên giới với Lào, Campuchia, thay mặt Chính phủ bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia chu kỳ 4 của Việt Nam về tình hình thực thi Công ước về quyền dân sự - chính trị trước Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc.... Các hoạt động hợp tác đa phương tiếp tục được tăng cường. Tiếp tục thu hút được sự hỗ trợ của các đối tác nước ngoài thông qua việc tiếp nhận một số dự án lớn trên cơ sở đảm bảo đúng nguyên tắc định hướng của Đảng và quy định của pháp luật.
![]() |
Công tác xây dựng Đảng tiếp tục được triển khai toàn diện, đồng bộ, vững chắc và gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ chính trị của Bộ, Ngành
Đảng ủy Bộ Tư pháp thực hiện nghiêm túc sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát về chuyên môn, nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng của các cơ quan tham mưu, giúp việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác đảng trong toàn Đảng bộ.
Trong nhiệm kỳ, Đảng ủy Bộ đã phối hợp tích cực với các ban của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương trong việc tham mưu xây dựng, trình, triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) và Nghị quyết số 66-NQ/TW. Đảng ủy Bộ phối hợp chặt chẽ với Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương triển khai các quy định mới về công tác tổ chức xây dựng Đảng, đặc biệt là rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ và tổ chức các đoàn kiểm tra, giám sát, làm việc tại các đơn vị trực thuộc và tại các cơ quan thi hành án dân sự lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ.
Đảng ủy Bộ đã phối hợp chỉ đạo công tác góp ý, thẩm định nhiều luật, nghị định liên quan đến tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, điều động cán bộ... tạo cơ sở thu hút và kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư cách đạo đức tốt, thành thạo chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Phối hợp hiệu quả với Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương và Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong việc kiện toàn tổ chức đoàn thể, phát triển đảng trong đoàn viên thanh niên. Việc chỉ đạo tổ chức thành công Đại hội Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp nhiệm kỳ 2022 - 2027 và phát động phong trào “Thanh niên Bộ Tư pháp rèn đức - luyện tài - phụng sự Tổ quốc” là minh chứng sinh động cho hiệu quả phối hợp này.
Tăng cường phối hợp chặt chẽ với Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả các nghị quyết của Trung ương về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, trật tự phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đảng ủy Bộ đã phối hợp chặt chẽ trong việc chỉ đạo công tác góp ý, thẩm định nhiều đạo luật quan trọng như Luật Phòng, chống ma túy, Luật Phòng, chống rửa tiền, Luật Phòng thủ dân sự, Luật quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự; Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ...
Đảng ủy Bộ Tư pháp chỉ đạo hiệu quả việc phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương, cấp ủy, chính quyền địa phương nhằm hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành án. Trong đó, đã ban hành nhiều văn bản, đề án quan trọng, phối hợp xây dựng, rà soát, hoàn thiện các chính sách pháp luật liên quan đến công tác thi hành án; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Đặc biệt, đã chủ động phối hợp với Ban Nội chính Trung ương, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và các bộ, ngành, cơ quan liên quan trong sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các đạo luật về thi hành án, thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế; tích cực triển khai các quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án. Công tác phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương được đẩy mạnh, duy trì thường xuyên, nhất là trong công tác cán bộ và thi hành án dân sự tại địa phương.
Đối với các lĩnh vực công tác khác, Đảng ủy Bộ đã phối hợp hiệu quả với các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương trong thực hiện các nhiệm vụ được Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao, nhất là trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật; giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh tại địa phương; hỗ trợ công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở. Triển khai hiệu quả các chương trình lớn như “Ngày pháp luật Việt Nam”, chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, và phổ biến giáo dục pháp luật tại cơ sở. Điển hình là các hoạt động phối hợp với thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, tỉnh Nghệ An, trong tổ chức đối thoại pháp luật, hỗ trợ pháp lý lưu động cho người dân và doanh nghiệp, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật tại địa phương.
Các mặt công tác như chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, dân vận, lãnh đạo đoàn thể được chú trọng, có nhiều chuyển biến tích cực. Việc học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII và các nghị quyết Trung ương, Bộ Chính trị được triển khai bài bản, nền nếp, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên trong toàn Đảng bộ.
Đạt được những kết quả trên là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương; bối cảnh kinh tế - xã hội ổn định, yêu cầu hoàn thiện thể chế, cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng rõ ràng, cấp thiết; sự phối hợp, hỗ trợ của các bộ, ngành, địa phương và sự tin tưởng của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp đối với vai trò của Bộ Tư pháp.
Đồng thời đã xây dựng được Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Tư pháp đoàn kết, thống nhất, đề cao trách nhiệm chính trị, phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn diện trên các mặt công tác; sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, các đơn vị thuộc Bộ; đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh, kinh nghiệm, chuyên môn sâu, kế thừa truyền thống tốt đẹp của ngành Tư pháp, có ý chí đổi mới, khát vọng cống hiến, sẵn sàng đổi mới tư duy và phương thức thực hiện để đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn phát triển mới.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác tham mưu xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật còn có mặt hạn chế
Có thể kể đến: (i) Văn bản thiếu thống nhất, tính khả thi chưa cao vẫn còn; công tác theo dõi, đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật đôi khi còn bị động; quản lý hoạt động pháp chế có mặt còn hạn chế; một số lĩnh vực pháp luật chậm được tổng kết, kiến nghị sửa đổi kịp thời; công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính còn một số mặt hạn chế; vẫn còn nhiều vụ việc phức tạp kéo dài; quản lý hoạt động bổ trợ tư pháp còn thiếu chủ động, chưa đồng đều; (ii) Một số cấp ủy chưa đổi mới rõ phương thức lãnh đạo để nâng cao hiệu quả hoạt động, chưa gắn kết hiệu quả công tác xây dựng Đảng với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn; sinh hoạt chi bộ ở một số nơi còn hình thức, nội dung chưa sát thực tiễn; việc cập nhật, điều chỉnh chương trình công tác, quy chế làm việc còn chậm; (iii) Chuyển đổi số trong công tác Đảng và chuyên môn còn chậm, thiếu đồng bộ; nhiều nội dung chưa đáp ứng yêu cầu về tiến độ, hiệu quả, đặc biệt trong quản lý đảng viên, hồ sơ tư pháp, văn bản điện tử, dữ liệu pháp luật; (iv) Một số đơn vị chưa thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương; tinh thần trách nhiệm, tính chủ động của một bộ phận cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Năng lực phân tích, phản ứng chính sách, kỹ năng phối hợp, tổng hợp, dự báo của một bộ phận cán bộ còn chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Một số nội dung tham mưu, tổng hợp, đánh giá chính sách pháp luật chưa đạt yêu cầu. Trong nhiệm kỳ còn có đảng viên bị xử lý kỷ luật, ảnh hưởng uy tín tổ chức đảng.
Những hạn chế trên có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan: (i) Nguyên nhân khách quan: Khối lượng công việc ngày càng lớn, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế đồng bộ, hiện đại, hội nhập sâu rộng và phục vụ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hệ thống pháp luật phát triển nhanh nhưng phức tạp, đòi hỏi năng lực tham mưu, thẩm định và tổ chức thi hành ngày càng cao, trong khi nguồn lực (nhân lực, tài chính, công nghệ) còn hạn chế, chưa đáp ứng tương xứng; (ii) Nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa nhận thức đầy đủ vai trò then chốt của công tác xây dựng Đảng. Tính chủ động, tự nghiên cứu, học tập, ý thức trách nhiệm, tinh thần chủ động trong công việc của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cao; công tác tự đào tạo, đào tạo tại chỗ qua công việc ở các đơn vị còn hạn chế..
Bài học kinh nghiệm
Một là, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luôn giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ; phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm nêu gương và tính tiền phong, gương mẫu, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Hai là, quán triệt sâu sắc, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Việc tổ chức thực hiện phải xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, đặc thù của Bộ Tư pháp; linh hoạt, sáng tạo nhưng kiên định nguyên tắc; chỉ đạo quyết liệt, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn.
Ba là, luôn xác định công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt, mang tính nền tảng. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm sự lãnh đạo tập thể gắn với phát huy vai trò, trách nhiệm cá nhân. Chủ động, quyết liệt, sáng tạo trong tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng; xác định rõ khâu đột phá, trọng tâm ưu tiên để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo.
Bốn là, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, chuyên môn sâu, có tư duy pháp lý hiện đại và năng lực tổ chức thực hiện cao. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc đúng người, đúng việc, đúng thời điểm; tăng cường phòng ngừa, phát hiện, cảnh báo sớm và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng.
Năm là, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm việc của cấp ủy theo hướng khoa học, dân chủ, quyết đoán, hiệu quả. Ban hành nghị quyết, kết luận phải sát thực tiễn, dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, giám sát. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đảng và chuyên môn, gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành. Định kỳ sơ kết, tổng kết việc thực hiện nhiệm vụ được giao./.