Chủ nhật 25/10/2026 09:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cần sớm đưa Hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị văn bản quy phạm pháp luật vào hoạt động

Chiều ngày 09/12, đồng chí Nguyễn Hải Ninh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã chủ trì buổi làm việc của Lãnh đạo Bộ nghe báo cáo việc chuẩn bị vận hành Hệ thống tiếp nhận xử lý phản ánh kiến nghị văn bản quy phạm pháp luật. Đồng chủ trì buổi làm việc có đồng chí Đặng Hoàng Oanh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp.

Toàn cảnh buổi làm việc.

Tham dự buổi làm việc có đồng chí Hồ Quang Huy, Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; đồng chí Đỗ Xuân Quý, Chánh Văn phòng Bộ Tư pháp; đồng chí Phạm Quang Hiếu, Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin và đại diện một số đơn vị có liên quan.

Báo cáo về tình hình thực hiện nhiệm vụ của Bộ trưởng Bộ Tư pháp giao về việc xây dựng Đề án “Ứng dụng công nghệ số trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật” (Đề án), đồng chí Hồ Quang Huy, Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cho biết, trên cơ sở chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã chủ trì, phối hợp với Cục Công nghệ thông tin nghiên cứu, xây dựng Đề án, qua đó đã dự thảo các tài liệu về Đề án, bao gồm: (i) Tờ trình của Bộ Tư pháp trình Thủ tướng Chính phủ về Đề án; (ii) Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án; (iii) Báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng Đề án; (iv) Công điện của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai vận hành Hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật.

Bên cạnh đó, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã phối hợp với Cục Công nghệ thông tin, Công ty phần mềm Bkav xây dựng Hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật (website, ứng dụng). Sau nhiều lần chạy thử, chỉnh sửa, bản demo Hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật đã cơ bản hoàn thiện. Theo đó, hệ thống tiếp nhận, xử lý thông tin, phản ánh vướng mắc trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: ứng dụng sử dụng trên điện thoại di động (app.mobile) và website sử dụng trên máy tính để cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi phản ánh, kiến nghị và theo dõi tiến trình xử lý phản ánh, kiến nghị; đồng thời, để cơ quan nhà nước thực hiện việc xử lý các kiến nghị, phản ánh, theo dõi, đánh giá hiệu quả phản hồi của các cơ quan có trách nhiệm, hệ thống này kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và ứng dụng VNeID.

Đồng chí Hồ Quang Huy, Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật phát biểu tại buổi làm việc.

Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cũng đã phối hợp với Văn phòng Bộ chuẩn bị tài liệu giới thiệu về Đề án tại Hội nghị triển khai công tác năm 2025 của Bộ, ngành Tư pháp, gồm: 01 video khoảng 05 phút trình chiếu tại Hội nghị để giới thiệu về Hệ thống và ứng dụng tiếp nhận, xử lý vướng mắc trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tài liệu hướng dẫn sử dụng ứng dụng.

Tại buổi làm việc, đại diện Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã trình bày tóm tắt dự thảo về Quy trình tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị thông qua Hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật, theo đó, quy trình được thực hiện gồm các bước như sau:

Bước 1: Gửi phản ánh, kiến nghị

- Tổ chức, cá nhân gửi kiến nghị về các chính sách trong văn bản QPPL thông qua Ứng dụng trên thiết bị di động (app PACS) hoặc Trang thông tin (website).

- Căn cứ vào thông tin về văn bản quy phạm pháp luật do công dân, doanh nghiệp, tổ chức phản ánh, phần mềm tự động đánh giá, lọc cơ quan chủ trì soạn thảo để đề xuất cá nhân, tổ chức lựa chọn cơ quan nhận phản ánh, kiến nghị.

Trường hợp phát hiện thông tin phản ánh, kiến nghị không bảo đảm chính xác, phần mềm sẽ loại bỏ/không tiếp nhận phản ánh.

Bước 2: Phân luồng và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị

- Nguyên tắc phân luồng và tiếp nhận: trách nhiệm xử lý, chủ trì xử lý thuộc về cơ quan có trách nhiệm rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (là cơ quan đã chủ trì tham mưu ban hành/cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật có kiến nghị, phản ánh). Nội dung này được xác định trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản quy phạm pháp luật. Hệ thống sẽ tự động phân luồng trên cơ sở nguyên tắc này.

- Các Bộ, ngành Trung ương và địa phương thực hiện tiếp nhận các phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân theo các bước sau: (i) tiếp nhận phản ánh: tiếp nhận thông tin về phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân; (ii) phân luồng xử lý: trong nội bộ sẽ chuyển phản ánh đến đơn vị tiếp nhận để xử lý. Đơn vị tiếp nhận kiểm tra độ chính xác thông tin và có quyền điều chuyển cho cơ quan có trách nhiệm xử lý căn cứ theo chức năng, nhiệm vụ được quy định.

Bước 3: Xử lý phản ánh, kiến nghị

- Cơ quan xử lý phản ánh, kiến nghị thực hiện việc nghiên cứu, xử lý phản ánh, kiến nghị.

- Thời hạn xử lý thể hiện trong Quy chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan có liên quan trong việc tiếp nhận, xử lý vướng mắc trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Bước 4. Trả lời phản ánh, kiến nghị

- Cơ quan nhà nước có thể trực tiếp trả lời kiến nghị, phản ánh trên hệ thống hoặc đính kèm văn bản trả lời bằng bản word hoặc bản ảnh.

- Kết quả xử lý phản ánh, kiến nghị được công khai cho cá nhân, tổ chức thông qua trang thông tin phản ánh chính sách và trên app PACS.

Bước 5. Đánh giá kết quả xử lý

- Cá nhân, tổ chức gửi kiến nghị có quyền phản hồi lại thông tin nhằm làm rõ hơn kết quả xử lý của cơ quan nhà nước.

- Cơ quan xử lý có trách nhiệm làm rõ thông tin có phản hồi từ kết quả giải quyết của cá nhân, tổ chức.

- Cá nhân, tổ chức gửi kiến nghị có quyền đánh giá kết quả xử lý của cơ quan nhà nước với 05 tiêu chí sau: rất hài lòng; hài lòng; bình thường; không hài lòng; rất không hài lòng; ý kiến khác.

Các phản ánh, kiến nghị sẽ được phân loại theo kết quả xử lý, bao gồm: (i) số phản ánh, kiến nghị nghiên cứu, tiếp thu; (ii) số phản ánh, kiến nghị giải trình, cung cấp thông tin; (iii) số phản ánh, kiến nghị trả lại, đề nghị bổ sung thông tin.

Để phục vụ cho công tác quản lý, thống kê, báo cáo, các phản ánh kiến nghị sẽ được tổng hợp theo một số tiêu chí sau: (i) số tiếp nhận: số đầy đủ thông tin để chuyển xử lý; số yêu cầu bổ sung, cung cấp thêm thông tin; (ii) số giải quyết: phản ánh, kiến nghị đã giải quyết: gồm giải quyết đúng hạn, quá hạn; phản ánh, kiến nghị đang giải quyết: gồm đang trong hạn hay quá hạn.

- Ngoài ra, còn có thể phân loại theo các tiêu chí về lĩnh vực, cơ quan xử lý, thời gian, tiến độ...

Kết luận buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Hải Ninh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đề nghị Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cần phối hợp với các đơn vị và đối tác liên quan rà soát, chỉnh sửa lại một số nội dung và hình ảnh trong video giới thiệu về Đề án tại Hội nghị triển khai công tác năm 2025 của Bộ, ngành Tư pháp. Bên cạnh đó, để sớm đưa Hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật vào vận hành, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cần phải khẩn trương chỉnh sửa và hoàn thiện bản demo Hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật; hoàn thiện các tài liệu liên quan đến Đề án để trình Thủ tướng Chính phủ cho ý kiến./.

Hoàng Trung

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, việc phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Sau gần 10 năm thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2024 (Luật Đấu giá tài sản năm 2016) cho thấy một số quy định về đấu giá tài sản tự nguyện không phù hợp với thực tế, vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân là cấp thiết. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện ở Việt Nam, tham khảo pháp luật một số quốc gia về đấu giá tự nguyện, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.

Theo dõi chúng tôi trên: