Thứ ba 25/08/2026 01:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bộ Tư pháp hướng dẫn tổng hợp, xây dựng báo cáo kết quả lấy ý kiến về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013

Căn cứ Kế hoạch số 05/KH-UBDTSĐBSHP ngày 05/5/2025 của Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 về tổ chức lấy ý kiến Nhân dân, các ngành, các cấp về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và nhiệm vụ của Bộ Tư pháp được Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long giao tại Công văn số 3883/VPCP-PL ngày 06/5/2025 của Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp hướng dẫn việc tổng hợp và xây dựng báo cáo kết quả lấy ý kiến về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 như sau:

1. Tổ chức lấy ý kiến và thời hạn gửi báo cáo

- Từ ngày 06/5/2025 đến ngày 29/5/2025: Các cơ quan được nêu điểm III.2 đến điểm III.6 Kế hoạch số 05/KH-UBDTSĐBSHP ngày 05/5/2025 của Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 (sau đây gọi tắt là các cơ quan, Bộ, ngành, địa phương) tổ chức lấy ý kiến về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, bám sát các yêu cầu về đối tượng, hình thức lấy ý kiến, phân công trách nhiệm và tổ chức thực hiện tại Kế hoạch số 05/KH-UBDTSĐBSHP.

Nội dung lấy ý kiến là toàn bộ dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, trong đó tập trung góp ý vào các nội dung sửa đổi, bổ sung Điều 9, Điều 10, khoản 1 Điều 84, Điều 110, khoản 2 Điều 111, khoản 2 Điều 112, khoản 1 Điều 114, khoản 2 Điều 115 Hiến pháp năm 2013, bám sát chủ trương và định hướng về phạm vi sửa đổi, bổ sung Hiến pháp đã được thông qua tại Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

- Chậm nhất là ngày 30/5/2025: Các cơ quan, Bộ, ngành, địa phương gửi Báo cáo tổng hợp kết quả lấy ý kiến của cơ quan, Bộ, ngành, địa phương, Bộ Công an gửi Báo cáo tổng hợp kết quả lấy ý kiến Nhân dân trên ứng dụng VNeID, Văn phòng Quốc hội gửi Báo cáo tổng hợp kết quả lấy ý kiến Nhân dân trên Cổng thông tin điện tử Quốc hội, Văn phòng Chính phủ gửi Báo cáo tổng hợp kết quả lấy ý kiến Nhân dân trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ đến Chính phủ (qua Bộ Tư pháp) để tổng hợp chung.

- Cách thức gửi báo cáo về Bộ Tư pháp: Gửi qua trục liên thông văn bản (hoặc qua đường công văn trong trường hợp không kết nối hoặc không thể gửi qua trục liên thông văn bản), đồng thời gửi file báo cáo (định dạng file word) và phụ lục kèm theo (định dạng file excel) về hòm thư điện tử theo địa chỉ plhshc@moj.gov.vn.

2. Các nguồn tổng hợp ý kiến, cách đếm và ghi ý kiến

2.1. Nguồn tổng hợp ý kiến bao gồm:

(i) Các ý kiến được thể hiện dưới hình thức văn bản (như thư, phiếu, báo cáo, văn bản góp ý và các dạng văn bản khác);

(ii) Các ý kiến góp ý trên ứng dụng VNeID;

(iii) Các ý kiến góp ý trên Cổng thông tin điện tử Quốc hội, Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

Các cơ quan, Bộ, ngành, địa phương tổng hợp ý kiến từ nguồn (i) nêu trên để xây dựng Báo cáo tổng hợp kết quả lấy ý kiến của cơ quan, Bộ, ngành, địa phương mình. Bộ Công an tổng hợp ý kiến từ nguồn (ii) nêu trên để xây dựng Báo cáo tổng hợp kết quả lấy ý kiến Nhân dân trên ứng dụng VNeID. Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ tổng hợp ý kiến từ nguồn (iii) nêu trên để xây dựng Báo cáo tổng hợp kết quả lấy ý kiến Nhân dân trên Cổng thông tin điện tử Quốc hội/Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

2.2. Lưu ý khi đếm các ý kiến:

- Chỉ đếm các ý kiến từ các nguồn nêu tại mục 2.1 nêu trên.

- Không đếm các ý kiến phát biểu tại hội nghị, hội thảo, tọa đàm (biên bản hội nghị, hội thảo, tọa đàm là tài liệu tham khảo để cơ quan, Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu và đưa ra quan điểm, ý kiến góp ý của cơ quan, địa phương mình).

- Không đếm ý kiến của các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc các cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Ví dụ: Báo cáo góp ý của Vụ Pháp luật hình sự - hành chính được tính là 01 ý kiến của tổ chức (trong báo cáo của đơn vị nêu rõ quan điểm, ý kiến góp ý của Vụ; không đếm các ý kiến cụ thể của các công chức thuộc Vụ).

- Trên cơ sở các ý kiến góp ý nhận được, các cơ quan, Bộ, ngành, địa phương thống kê cụ thể: tổng số lượng ý kiến nhận được, đồng thời phân loại số lượng ý kiến của cơ quan, tổ chức và số lượng ý kiến của cá nhân (theo các mẫu kèm theo Công văn này).

2.3. Cách đếm ý kiến như sau:

- Thư hoặc văn bản góp ý của cá nhân, tổ chức được gửi trực tiếp đến cơ quan, Bộ, ngành, địa phương:

Văn bản góp ý của tổ chức: mỗi văn bản được tính là 01 ý kiến. Thư hoặc văn bản góp ý của cá nhân: mỗi thư, văn bản được tính là 01 ý kiến. Trường hợp thư hoặc văn bản có nhiều người cùng đứng tên và ký tên thì đếm tổng số người góp ý đó (ví dụ có 03 người đứng tên và ký tên thì được tính là 03 ý kiến).

- Phiếu lấy ý kiến (nếu tổ chức phát phiếu): Mỗi phiếu được tính là 01 ý kiến.

- Báo cáo hoặc văn bản góp ý của tổ chức, đơn vị thuộc cơ quan, Bộ, ngành, địa phương: Mỗi báo cáo, văn bản được tính là 01 ý kiến.

- Ý kiến góp ý trên Cổng thông tin điện tử Quốc hội, Cổng thông tin điện tử Chính phủ: Mỗi cá nhân/tổ chức góp ý được tính là 01 ý kiến.

- Ý kiến góp ý trên ứng dụng VNeID: Mỗi cá nhân góp ý được tính là 01 ý kiến.

2.4. Cách ghi số lượng ý kiến

Đối với từng nội dung sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, các cơ quan, Bộ, ngành, địa phương nêu rõ: tổng số ý kiến (trong đó, liệt kê số lượng ý kiến của cơ quan, tổ chức; số lượng ý kiến của cá nhân); số lượng ý kiến tán thành; số lượng ý kiến không tán thành và lý do (nêu ngắn gọn các lý do).

(Cách ghi số lượng ý kiến trong các báo cáo được hướng dẫn cụ thể tại Mẫu số 01, 03 và 05 kèm theo Công văn này)

3. Về xây dựng Báo cáo tổng hợp kết quả lấy ý kiến

- Các cơ quan, Bộ, ngành, địa phương xây dựng Báo cáo tổng hợp kết quả lấy ý kiến của cơ quan, Bộ, ngành, địa phương và Phụ lục theo Mẫu số 01Mẫu số 02 kèm theo Công văn này.

- Bộ Công an xây dựng Báo cáo tổng hợp kết quả lấy ý kiến Nhân dân trên ứng dụng VNeID và Phụ lục theo Mẫu số 03Mẫu số 04 kèm theo Công văn này.

- Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ xây dựng Báo cáo tổng hợp kết quả lấy ý kiến Nhân dân trên Cổng thông tin điện tử Quốc hội/Cổng thông tin điện tử Chính phủ và Phụ lục theo Mẫu số 05 Mẫu số 06 kèm theo Công văn này.

Chi tiết nội dung Hướng dẫn và các phụ lục mẫu kèm theo tại file đính kèm:

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.

Theo dõi chúng tôi trên: