Thứ hai 24/08/2026 09:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khởi nghĩa Nam Kỳ - Mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là cuộc khởi nghĩa vũ trang có phạm vi rộng nhất và mức độ quyết liệt nhất kể từ khi thực dân Pháp xâm chiếm lục tỉnh Nam Kỳ năm 1867 đến thời điểm đó. Tuy thất bại nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ có ý nghĩa lịch sử sâu sắc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Nhân dân ta. 80 năm đã qua đi, nhưng khí thế hào hùng, tinh thần chiến đấu oanh liệt, ý chí quật cường của đồng bào và chiến sỹ trong khởi nghĩa Nam Kỳ sẽ mãi mãi sống trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho mai sau.


1. Bối cảnh lịch sử

Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ. Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng phát xít Đức. Lợi dụng cơ hội này, cuối tháng 9/1940, phát xít Nhật kéo quân vào Đông Dương, từ đây Nhân dân ta lâm vào tình thế “một cổ hai tròng”. Tháng 11/1940, bọn quân phiệt Thái Lan theo lệnh phát xít Nhật tiến đánh Campuchia. Thực dân Pháp bắt lính Nam Bộ ra trận làm bia đỡ đạn cho chúng. Căm thù thực dân Pháp và được cổ vũ bởi tiếng súng khởi nghĩa Bắc Sơn, Nhân dân Nam Bộ sục sôi tranh đấu.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Ðảng lần thứ bảy (khóa I) từ ngày 6 đến ngày 8/11/1939 tại Bà Ðiểm (Hóc Môn, Gia Ðịnh) nhận định: Nhật sẽ xâm chiếm Đông Dương và Pháp sẽ đầu hàng Nhật, cách mạng Đông Dương sẽ bùng nổ; do vậy, phải đoàn kết thực hiện bằng được nhiệm vụ chính cốt là đánh đổ đế quốc, giải phóng dân tộc; chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp, giai cấp, dân tộc và các cá nhân yêu nước.

Tinh thần Nghị quyết đã sớm đi vào đảng viên, quần chúng. Phong trào cách mạng ở Nam Kỳ ngày càng phát triển mạnh mẽ, liên tiếp diễn ra nhiều cuộc mít tinh, biểu tình, đấu tranh. Đặc biệt là các cuộc đấu tranh chống bắt lính diễn ra mạnh mẽ kể từ khi thực dân Pháp bắt thêm lính Việt Nam đem sang chiến trường biên giới Ai Lao (Lào) - Cao Miên (Campuchia) để chống Xiêm (Thái Lan). Khí thế chiến đấu diễn ra hầu khắp Nam Kỳ, đặc biệt là ở Mỹ Tho, Vĩnh Long, Long Xuyên, Chợ Lớn, Gia Định, Tân An, Vũng Tàu, Trà Vinh...

Trên cơ sở đó, tháng 3/1940, Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư thảo ra Đề cương chuẩn bị bạo động. Từ tháng 7 đến tháng 10/1940, Ðảng bộ Nam Kỳ liên tiếp tổ chức nhiều cuộc họp để bàn chủ trương và gấp rút lãnh đạo Nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, thông qua Đề cương; chủ trương thành lập Ban Chỉ huy và Ban Quân sự các cấp; xác định hình thức chính quyền, quốc kỳ, khẩu hiệu; vạch các chính sách đối với Nhân dân…

Ðến giữa tháng 11/1940, trước tinh thần đấu tranh của quần chúng, đặc biệt là tinh thần phản chiến của binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp, Xứ ủy Nam Kỳ quyết định phát động toàn Nam Kỳ nổi dậy đánh đổ chính quyền thuộc địa, giành chính quyền về tay Nhân dân. Ngày 21/11/1940, Thường vụ Xứ ủy ra thông báo cho các cấp bộ Đảng nhất loạt phát động Nhân dân nổi dậy vào lúc 24 giờ ngày 22/11/1940. Thời điểm hành động nhất loạt ở các tỉnh Nam Kỳ là lúc 0 giờ ngày 22, rạng 23/11/1940, hiệu lệnh là đèn Sài Gòn tắt hoặc có tiếng súng nổ.

Hội nghị Trung ương Ðảng họp tại Ðình Bảng (Bắc Ninh) từ ngày 6 đến 9/11/1940 nhận định điều kiện khởi nghĩa ở Nam Kỳ và trong cả nước chưa chín muồi, đề nghị Xứ ủy Nam Kỳ chưa nên phát động khởi nghĩa. Trung ương phái đồng chí Phan Đăng Lưu trở về truyền đạt quyết định của Trung ương cho Xứ ủy Nam Kỳ. Nhưng khi đồng chí Phan Ðăng Lưu về tới Sài Gòn thì lệnh khởi nghĩa đã ban hành tới các địa phương không thể thu hồi; một số cán bộ chủ chốt của Xứ ủy đã bị địch bắt, Cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra theo kế hoạch.

2. Diễn biến, kết quả Cuộc khởi nghĩa

Chỉ trong một thời gian ngắn kể từ khi Thường vụ Xứ uỷ ra Đề cương chuẩn bị bạo động (tháng 3/1940), công tác chuẩn bị khởi nghĩa được triển khai rất khẩn trương; các tổ chức phản đế xuất hiện nhiều nơi, nhất là ở vùng nông thôn. Mít tinh, biểu tình liên tiếp nổ ra. Nhiều nơi địch đến đánh phá, Nhân dân nổi trống mõ, uy hiếp địch, bảo vệ cán bộ. Các đội tự vệ, du kích phát triển ngay trong những xí nghiệp lớn ở Sài Gòn như Ba Son, nhà máy đèn Chợ Quán, trường Bách Nghệ... Ở nông thôn, phần lớn các xã đều có từ một tiểu đội đến một trung đội du kích. Các cơ sở sản xuất vũ khí làm việc suốt ngày đêm. Nhân dân quyên góp kim khí để đúc đạn; xuất hiện những cơ sở làm bom, lựu đạn xi măng, súng thô sơ ở Móp Xanh (Tân An), Bà U (Mỹ Tho), chùa Hòa Thượng Đồng (Rạch Giá)… Phong trào chống chiến tranh, chống bắt lính với khẩu hiệu “không một đồng xu, không một người lính cho đế quốc chiến tranh” ngày càng lan rộng. Công tác binh vận được tổ chức ráo riết, phần lớn trong số 15.000 binh lính người Việt trong quân đội Pháp đóng ở Sài Gòn sẵn sàng phối hợp nổi dậy.

Tuy nhiên, vì kế hoạch khởi nghĩa bị địch biết trước nên chúng lùng sục bắt bớ, giữ binh lính người Việt ở trong trại, tước vũ khí của binh lính phản chiến. Dù vậy, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn diễn ra theo đúng kế hoạch vào đêm 22 rạng sáng 23/11/1940.

Khởi nghĩa bùng nổ đồng loạt tại hầu hết các tỉnh Nam Kỳ với tinh thần quyết liệt, mạnh nhất là ở Gia Ðịnh, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long... Lực lượng vũ trang và quần chúng đã nổi dậy tiến công địch ở các xã, tập kích nhiều đồn bốt, tiến đánh một số quận lỵ, phá hỏng nhiều cầu, đường... Tại một số xã, quận, chính quyền địch hoang mang, tan rã, chính quyền cách mạng được thành lập. Lần đầu tiên cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở những nơi đã thành lập chính quyền cách mạng và trong nhiều cuộc biểu tình. Bọn phản cách mạng bị xét xử. Ruộng, thóc của địa chủ phản động được chia cho dân cày nghèo.

Hóc Môn, dưới sự chỉ huy của đồng chí Mười Đen - Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, quân du kích và hàng nghìn đồng bào kéo đến vây công đồn, chặn đánh địch tiếp viện ở Cầu Bông, giết chết tên Chánh xứ tỉnh Tây Ninh, thu được hơn chục súng trường. Do quân của địch kéo đến nhiều, du kích không chiếm được đồn, tạm rút lên Truông Mít, Tây Ninh.

Tại Chợ Lớn, du kích tập trung ở Đức Hoà, Trung Quận, Cần Giuộc, mỗi nơi khoảng 400 đến 500 người. Ở Đức Hoà, quân du kích đánh tan toán lính địch tại Giồng Đa, giết chết tên đầu sỏ phản động. Tại Trung Quận, du kích cùng Nhân dân diệt tề, trừ gian, lập chính quyền cách mạng ở các xã dọc hai bên đường xe lửa. Ở Bến Lức, quân du kích dùng mưu dụ lính ra khỏi đồn, xông vào chiếm đồn lấy súng. Tại Cần Giuộc, du kích do đồng chí Nguyễn Thị Bẩy, Tỉnh uỷ viên chỉ huy, cùng Nhân dân đánh chiếm trụ sở hội tề, tịch thu sổ sách, bằng triện, lập chính quyền cách mạng ở các xã Phước Lai, Phước Vĩnh Đông, Tân Lập, Long Hậu, Long Đức.

Tại Vĩnh Long, quân du kích Vũng Liêm đánh chiếm quận lỵ, công đồn. Quân địch hoảng sợ bỏ chạy, nghĩa quân lập Ủy ban cách mạng và giữ được đồn trong ba ngày.

Tại Tân An Mỹ Tho, các xã thuộc hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông và hai bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, chính quyền đều về tay Nhân dân. Hàng nghìn du kích dưới sự lãnh đạo của Bí thư Tỉnh uỷ Mỹ Tho đã tiến đánh nhiều nơi, mở rộng vùng giải phóng. Chỉ tính riêng hai quận Châu Thành và Cai Lậy, ta đã giải phóng được 54/56 xã. Lo sợ trước phong trào nổi dậy ở Mỹ Tho, ngày 14/12/1940 địch phải dùng thủy, lục, không quân tiến công nhưng mãi đến 14/1/1941 chúng mới chiếm lại được các đồn, bốt. Trong tình thế đó, quân du kích tạm rút vào Đồng Tháp Mười. Mỹ Tho là nơi giữ được chính quyền lâu nhất.

Ngay từ khi được tin Nam Kỳ khởi nghĩa, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra thông báo khẩn cấp, chỉ thị cho các địa phương “chia lửa” với Nam Kỳ. Từ việc rải truyền đơn, bãi khóa, bãi thị đến việc phát động du kích, nếu có điều kiện phá đường, cầu cống ngăn quân thù đàn áp. Nhưng thực dân Pháp khủng bố khốc liệt, càn quét các vùng khởi nghĩa, tiêu diệt chính quyền cách mạng, cho máy bay dội bom xuống làng mạc, thôn xóm. Tính từ ngày 22/11 đến ngày 31/12/1940, thực dân Pháp gây ra hơn 5.000 vụ bắt bớ; hàng ngàn người bị xử tử, tù đày, tra tấn vô cùng tàn bạo.

Tháng 12/1940, Xứ ủy Nam Kỳ họp ở Bà Quẹo (Gia Định) quyết định rút lui cuộc khởi nghĩa để tránh tổn thất, đưa lực lượng còn lại xây dựng căn cứ U Minh và Đồng Tháp Mười.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị dập tắt. Thực dân Pháp nhân cơ hội này xử bắn nhiều đồng chí cán bộ kiên trung của Ðảng bị bắt từ trước khởi nghĩa, như: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Nguyễn Hữu Tiến, Phan Ðăng Lưu...

3. Ý nghĩa lịch sử

Diễn ra trong một thời gian ngắn nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ là cuộc khởi nghĩa vũ trang có phạm vi rộng nhất và mức độ quyết liệt nhất kể từ khi thực dân Pháp xâm chiếm lục tỉnh Nam Kỳ năm 1867 đến thời điểm đó. Tuy thất bại nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ có ý nghĩa lịch sử sâu sắc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Nhân dân ta:

- Cùng với khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ “là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu tranh đấu bằng võ lực của các dân tộc ở một nước Ðông Dương”[1]. Cuộc khởi nghĩa đã thể hiện sức mạnh quật khởi, lòng tin tưởng và sẵn sàng hy sinh của Nhân dân các tỉnh Nam Bộ trong cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Chính vì lẽ đó, ngày 14/11/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh 163-SL tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất cho Đội quân khởi nghĩa Nam Bộ năm 1940. Đó là sự khắc ghi của dân tộc đối với công lao và sự hy sinh của quân và dân Nam Kỳ.

- Từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, nhiều cán bộ của Đảng được rèn luyện, thử thách. Sau khởi nghĩa, một đội ngũ cán bộ, đảng viên trung thành với lý tưởng của Ðảng, gương mẫu chiến đấu hy sinh vì quyền lợi của dân tộc, của Nhân dân đã trưởng thành và đảm đương những trọng trách mà Đảng ta giao phó về sau. Từ đây, có hàng vạn quần chúng Nhân dân yêu nước được thử thách trong đấu tranh, tiếp tục đi theo Ðảng thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc tiến tới giành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945.

- Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ mang tính chất một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, tính nhân dân rộng rãi và sâu sắc. Đó là minh chứng sinh động cho chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu của Ðảng với phương pháp đấu tranh vũ lực là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo. Ðồng thời, khởi nghĩa Nam Kỳ cũng là cơ sở thực tiễn để Đảng ta hoàn thiện con đường chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Từ kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa ở Bắc Sơn, Nam Kỳ, binh biến Ðô Lương, Đảng đã có những bước đi cẩn trọng, chu đáo trong đánh giá, xác định thời cơ, chuẩn bị lực lượng... đi tới giải phóng toàn dân tộc.

- Với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, từ trong quá trình chuẩn bị và diễn ra, lần đầu thiết chế “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” được đề cập trong truyền đơn rải ở thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn và tiêu ngữ “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quốc” được viết trên các băng zôn treo trước trụ sở các ủy ban cách mạng ở Long Hưng, Vĩnh Kim (Mỹ Tho). Lá cờ đỏ sao vàng năm cánh xuất hiện trong khởi nghĩa Nam Kỳ đã trở thành biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân, biểu tượng của tinh thần và ý chí đấu tranh cách mạng của Nhân dân. Cờ đỏ sao vàng năm cánh sau đó đã được Ðảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn làm biểu tượng của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh và đến ngày 9/11/1946 được ghi chính thức trong Hiến pháp, thông qua tại kỳ họp Quốc hội thứ hai (khóa I).

4. Bài học kinh nghiệm

Khởi nghĩa Nam Kỳ là thực tiễn sinh động về phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân và để lại những bài học quý báu, đó là:

Một là, bài học về cụ thể hóa đường lối của Đảng phù hợp với thực tiễn địa phương, phải đặt địa phương trong mối tương quan với cả nước và có sự phối hợp khởi nghĩa giữa các địa phương trong cả nước. Một trong những nguyên nhân thất bại của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là vì chưa được đặt trong sức mạnh chung của toàn quốc.

Hai là, bài học về công tác chuẩn bị các điều kiện cầnđủ cho một cuộc khởi nghĩa nổ ra có thể giành được thắng lợi, đặc biệt là chuẩn bị về lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh du kích, xây dựng và kiểm tra kế hoạch, phát hiệu lệnh khởi nghĩa.

Ba là, bài học về xây dựng đội quân chủ lực, xác định rõ các lực lượng phối hợp của cuộc khởi nghĩa và đánh giá đúng vai trò của các lực lượng. Lực lượng vũ trang của binh lính là quan trọng nhưng quyết định vẫn là quần chúng công nông.

Bốn là, bài học về việc giữ vững sự gắn bó máu thịt giữa Đảng và quần chúng; không ngừng xây dựng lực lượng cách mạng trong quần chúng; khơi dậy và nhân lên sức mạnh vĩ đại từ sự đồng tâm, hiệp lực của quần chúng.

Năm là, bài học về tính khoa học của kế hoạch lãnh đạo khi tiến công và thoái thủ; dự trù các phương án thắng - thua và khả năng giải quyết nếu khởi nghĩa thất bại; kế hoạch rút lui bảo toàn cơ sở và lực lượng.

Vinh Nguyễn

Ảnh sưu tầm: Internet

(Theo tài liệu Hướng dẫn tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Ngày Nam Kỳ khởi nghĩa 23/11/1940 - 23/11/2020 của Ban Tuyên giáo Trung ương)


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.109.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hệ thống pháp luật - Thành tố trọng tâm trong hệ sinh thái thể chế phát triển

Hệ thống pháp luật - Thành tố trọng tâm trong hệ sinh thái thể chế phát triển

Hệ thống pháp luật được xem là thành tố trọng tâm trong hệ sinh thái thể chế phát triển, được nhìn nhận trong trạng thái động, gồm hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành tồn tại không tách rời với cơ chế xây dựng và thực thi pháp luật, cùng các điều kiện bảo đảm để chu trình điều chỉnh pháp luật được vận hành đồng bộ, thông suốt, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
75 tác phẩm tiêu biểu: Những tiếng nói chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

75 tác phẩm tiêu biểu: Những tiếng nói chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Tối 20/8, tại Nhà hát Hồ Gươm (Hà Nội), Đảng ủy Chính phủ tổ chức Lễ trao giải Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Đảng bộ Chính phủ lần thứ 2 năm 2026.
Tổng rà soát hệ thống pháp luật: Lấy phương án xử lý làm thước đo kết quả

Tổng rà soát hệ thống pháp luật: Lấy phương án xử lý làm thước đo kết quả

Tại cuộc họp về tình hình triển khai thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tổ chức ngày 19/8, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đề nghị sản phẩm của tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phải là phương án xử lý, không chỉ là danh mục văn bản.
Lan tỏa kinh nghiệm ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Lan tỏa kinh nghiệm ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Ngày 12/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1885/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch Truyền thông về Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề: "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Với yêu cầu thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác và thống nhất, công tác truyền thông được triển khai đồng bộ trước, trong và sau Diễn đàn, kết hợp giữa truyền thông đối ngoại, truyền thông chính sách và truyền thông số, qua đó góp phần tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi về một sự kiện pháp lý quốc tế quan trọng do Việt Nam đăng cai tổ chức.
Khẳng định vị thế của ASEAN và vai trò chủ động, có trách nhiệm, từng bước tham gia kiến tạo của Việt Nam

Khẳng định vị thế của ASEAN và vai trò chủ động, có trách nhiệm, từng bước tham gia kiến tạo của Việt Nam

Ngày 04/8/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1477/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch truyền thông, quảng bá về ASEAN giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch). Kế hoạch đặt mục tiêu nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị, người dân, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế về Cộng đồng ASEAN; đồng thời khẳng định vai trò, vị thế của ASEAN và vai trò chủ động, tích cực, có trách nhiệm, từng bước tham gia kiến tạo của Việt Nam trong ASEAN.
15 luật và 04 nghị quyết sẽ được xem xét, thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất

15 luật và 04 nghị quyết sẽ được xem xét, thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất

Sáng ngày 03/8, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI khai mạc trọng thể. Kỳ họp dự kiến xem xét, thông qua 15 luật, 04 nghị quyết; cho ý kiến lần đầu đối với 07 dự án luật. Kỳ họp dự kiến kéo dài khoảng 17 ngày, được chia thành 2 đợt: Đợt 1 diễn ra từ ngày 03 - 13/8/2026; đợt 2 từ ngày 19 - 24/8/2026.
Quyết tâm hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030

Quyết tâm hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030

Ngày 29/7, Đảng bộ Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị sơ kết công tác Đảng 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả

Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả

Sáng 29/7, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối từ điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội đến các điểm cầu ở các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương, các địa phương, cơ quan, đơn vị. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3

Sáng ngày 29/7, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước
Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp tổ chức Lễ thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ

Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp tổ chức Lễ thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ

Chiều ngày 26/7, thực hiện Kế hoạch số 12-KH/ĐTN ngày 16/7/2026 của Ban Chấp hành Đoàn bộ Tư pháp về việc tổ chức các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp giao Chi đoàn Tạp chí Dân chủ và Pháp luật và Đoàn cơ sở Cục Quản lý Thi hành án dân sự chủ trì, phối hợp cùng Đoàn Thanh niên các cơ quan Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ tổ chức Lễ thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Mai Dịch.
Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 03 pháp lệnh được Ủy ban Thường vụ khóa XVI thông qua tại Phiên họp thứ 4

Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 03 pháp lệnh được Ủy ban Thường vụ khóa XVI thông qua tại Phiên họp thứ 4

Chiều ngày 25/7, tại Văn phòng Chủ tịch nước, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Cấn Đình Tài chủ trì họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 03 Pháp lệnh đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI thông qua tại Phiên họp thứ 4 gồm: Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; Pháp lệnh Trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Chi phí tố tụng.
Chiến dịch 500 ngày đêm: Hành trình đưa người lính trở về bằng trách nhiệm và lòng biết ơn

Chiến dịch 500 ngày đêm: Hành trình đưa người lính trở về bằng trách nhiệm và lòng biết ơn

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng hành trình đưa những người đã ngã xuống trở về với tên tuổi, quê hương và gia đình vẫn chưa thể khép lại. Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ không chỉ thể hiện quyết tâm thực hiện trọn vẹn trách nhiệm đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc, mà còn tiếp nối và lan tỏa truyền thống tri ân một giá trị bền vững trong văn hóa dân tộc Việt Nam.
Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Ngày 24/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu bài phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Ngày Thương binh Liệt sĩ: Từ đạo lý tri ân đến sức mạnh phát triển của dân tộc

Ngày Thương binh Liệt sĩ: Từ đạo lý tri ân đến sức mạnh phát triển của dân tộc

Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) không chỉ là dịp tri ân những người đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc, mà còn là cơ hội khẳng định giá trị bền vững của truyền thống biết ơn trong đời sống dân tộc. Trong tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, việc phát huy văn hóa tri ân càng có ý nghĩa trong xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam.
Dự kiến sửa đổi quy định về đối tượng không chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Dự kiến sửa đổi quy định về đối tượng không chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Ngày 22/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú và Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn đồng chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: