Chủ nhật 18/01/2026 21:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khởi nghĩa Nam Kỳ - Mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là cuộc khởi nghĩa vũ trang có phạm vi rộng nhất và mức độ quyết liệt nhất kể từ khi thực dân Pháp xâm chiếm lục tỉnh Nam Kỳ năm 1867 đến thời điểm đó. Tuy thất bại nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ có ý nghĩa lịch sử sâu sắc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Nhân dân ta. 80 năm đã qua đi, nhưng khí thế hào hùng, tinh thần chiến đấu oanh liệt, ý chí quật cường của đồng bào và chiến sỹ trong khởi nghĩa Nam Kỳ sẽ mãi mãi sống trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho mai sau.


1. Bối cảnh lịch sử

Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ. Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng phát xít Đức. Lợi dụng cơ hội này, cuối tháng 9/1940, phát xít Nhật kéo quân vào Đông Dương, từ đây Nhân dân ta lâm vào tình thế “một cổ hai tròng”. Tháng 11/1940, bọn quân phiệt Thái Lan theo lệnh phát xít Nhật tiến đánh Campuchia. Thực dân Pháp bắt lính Nam Bộ ra trận làm bia đỡ đạn cho chúng. Căm thù thực dân Pháp và được cổ vũ bởi tiếng súng khởi nghĩa Bắc Sơn, Nhân dân Nam Bộ sục sôi tranh đấu.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Ðảng lần thứ bảy (khóa I) từ ngày 6 đến ngày 8/11/1939 tại Bà Ðiểm (Hóc Môn, Gia Ðịnh) nhận định: Nhật sẽ xâm chiếm Đông Dương và Pháp sẽ đầu hàng Nhật, cách mạng Đông Dương sẽ bùng nổ; do vậy, phải đoàn kết thực hiện bằng được nhiệm vụ chính cốt là đánh đổ đế quốc, giải phóng dân tộc; chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp, giai cấp, dân tộc và các cá nhân yêu nước.

Tinh thần Nghị quyết đã sớm đi vào đảng viên, quần chúng. Phong trào cách mạng ở Nam Kỳ ngày càng phát triển mạnh mẽ, liên tiếp diễn ra nhiều cuộc mít tinh, biểu tình, đấu tranh. Đặc biệt là các cuộc đấu tranh chống bắt lính diễn ra mạnh mẽ kể từ khi thực dân Pháp bắt thêm lính Việt Nam đem sang chiến trường biên giới Ai Lao (Lào) - Cao Miên (Campuchia) để chống Xiêm (Thái Lan). Khí thế chiến đấu diễn ra hầu khắp Nam Kỳ, đặc biệt là ở Mỹ Tho, Vĩnh Long, Long Xuyên, Chợ Lớn, Gia Định, Tân An, Vũng Tàu, Trà Vinh...

Trên cơ sở đó, tháng 3/1940, Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư thảo ra Đề cương chuẩn bị bạo động. Từ tháng 7 đến tháng 10/1940, Ðảng bộ Nam Kỳ liên tiếp tổ chức nhiều cuộc họp để bàn chủ trương và gấp rút lãnh đạo Nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, thông qua Đề cương; chủ trương thành lập Ban Chỉ huy và Ban Quân sự các cấp; xác định hình thức chính quyền, quốc kỳ, khẩu hiệu; vạch các chính sách đối với Nhân dân…

Ðến giữa tháng 11/1940, trước tinh thần đấu tranh của quần chúng, đặc biệt là tinh thần phản chiến của binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp, Xứ ủy Nam Kỳ quyết định phát động toàn Nam Kỳ nổi dậy đánh đổ chính quyền thuộc địa, giành chính quyền về tay Nhân dân. Ngày 21/11/1940, Thường vụ Xứ ủy ra thông báo cho các cấp bộ Đảng nhất loạt phát động Nhân dân nổi dậy vào lúc 24 giờ ngày 22/11/1940. Thời điểm hành động nhất loạt ở các tỉnh Nam Kỳ là lúc 0 giờ ngày 22, rạng 23/11/1940, hiệu lệnh là đèn Sài Gòn tắt hoặc có tiếng súng nổ.

Hội nghị Trung ương Ðảng họp tại Ðình Bảng (Bắc Ninh) từ ngày 6 đến 9/11/1940 nhận định điều kiện khởi nghĩa ở Nam Kỳ và trong cả nước chưa chín muồi, đề nghị Xứ ủy Nam Kỳ chưa nên phát động khởi nghĩa. Trung ương phái đồng chí Phan Đăng Lưu trở về truyền đạt quyết định của Trung ương cho Xứ ủy Nam Kỳ. Nhưng khi đồng chí Phan Ðăng Lưu về tới Sài Gòn thì lệnh khởi nghĩa đã ban hành tới các địa phương không thể thu hồi; một số cán bộ chủ chốt của Xứ ủy đã bị địch bắt, Cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra theo kế hoạch.

2. Diễn biến, kết quả Cuộc khởi nghĩa

Chỉ trong một thời gian ngắn kể từ khi Thường vụ Xứ uỷ ra Đề cương chuẩn bị bạo động (tháng 3/1940), công tác chuẩn bị khởi nghĩa được triển khai rất khẩn trương; các tổ chức phản đế xuất hiện nhiều nơi, nhất là ở vùng nông thôn. Mít tinh, biểu tình liên tiếp nổ ra. Nhiều nơi địch đến đánh phá, Nhân dân nổi trống mõ, uy hiếp địch, bảo vệ cán bộ. Các đội tự vệ, du kích phát triển ngay trong những xí nghiệp lớn ở Sài Gòn như Ba Son, nhà máy đèn Chợ Quán, trường Bách Nghệ... Ở nông thôn, phần lớn các xã đều có từ một tiểu đội đến một trung đội du kích. Các cơ sở sản xuất vũ khí làm việc suốt ngày đêm. Nhân dân quyên góp kim khí để đúc đạn; xuất hiện những cơ sở làm bom, lựu đạn xi măng, súng thô sơ ở Móp Xanh (Tân An), Bà U (Mỹ Tho), chùa Hòa Thượng Đồng (Rạch Giá)… Phong trào chống chiến tranh, chống bắt lính với khẩu hiệu “không một đồng xu, không một người lính cho đế quốc chiến tranh” ngày càng lan rộng. Công tác binh vận được tổ chức ráo riết, phần lớn trong số 15.000 binh lính người Việt trong quân đội Pháp đóng ở Sài Gòn sẵn sàng phối hợp nổi dậy.

Tuy nhiên, vì kế hoạch khởi nghĩa bị địch biết trước nên chúng lùng sục bắt bớ, giữ binh lính người Việt ở trong trại, tước vũ khí của binh lính phản chiến. Dù vậy, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn diễn ra theo đúng kế hoạch vào đêm 22 rạng sáng 23/11/1940.

Khởi nghĩa bùng nổ đồng loạt tại hầu hết các tỉnh Nam Kỳ với tinh thần quyết liệt, mạnh nhất là ở Gia Ðịnh, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long... Lực lượng vũ trang và quần chúng đã nổi dậy tiến công địch ở các xã, tập kích nhiều đồn bốt, tiến đánh một số quận lỵ, phá hỏng nhiều cầu, đường... Tại một số xã, quận, chính quyền địch hoang mang, tan rã, chính quyền cách mạng được thành lập. Lần đầu tiên cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở những nơi đã thành lập chính quyền cách mạng và trong nhiều cuộc biểu tình. Bọn phản cách mạng bị xét xử. Ruộng, thóc của địa chủ phản động được chia cho dân cày nghèo.

Hóc Môn, dưới sự chỉ huy của đồng chí Mười Đen - Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, quân du kích và hàng nghìn đồng bào kéo đến vây công đồn, chặn đánh địch tiếp viện ở Cầu Bông, giết chết tên Chánh xứ tỉnh Tây Ninh, thu được hơn chục súng trường. Do quân của địch kéo đến nhiều, du kích không chiếm được đồn, tạm rút lên Truông Mít, Tây Ninh.

Tại Chợ Lớn, du kích tập trung ở Đức Hoà, Trung Quận, Cần Giuộc, mỗi nơi khoảng 400 đến 500 người. Ở Đức Hoà, quân du kích đánh tan toán lính địch tại Giồng Đa, giết chết tên đầu sỏ phản động. Tại Trung Quận, du kích cùng Nhân dân diệt tề, trừ gian, lập chính quyền cách mạng ở các xã dọc hai bên đường xe lửa. Ở Bến Lức, quân du kích dùng mưu dụ lính ra khỏi đồn, xông vào chiếm đồn lấy súng. Tại Cần Giuộc, du kích do đồng chí Nguyễn Thị Bẩy, Tỉnh uỷ viên chỉ huy, cùng Nhân dân đánh chiếm trụ sở hội tề, tịch thu sổ sách, bằng triện, lập chính quyền cách mạng ở các xã Phước Lai, Phước Vĩnh Đông, Tân Lập, Long Hậu, Long Đức.

Tại Vĩnh Long, quân du kích Vũng Liêm đánh chiếm quận lỵ, công đồn. Quân địch hoảng sợ bỏ chạy, nghĩa quân lập Ủy ban cách mạng và giữ được đồn trong ba ngày.

Tại Tân An Mỹ Tho, các xã thuộc hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông và hai bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, chính quyền đều về tay Nhân dân. Hàng nghìn du kích dưới sự lãnh đạo của Bí thư Tỉnh uỷ Mỹ Tho đã tiến đánh nhiều nơi, mở rộng vùng giải phóng. Chỉ tính riêng hai quận Châu Thành và Cai Lậy, ta đã giải phóng được 54/56 xã. Lo sợ trước phong trào nổi dậy ở Mỹ Tho, ngày 14/12/1940 địch phải dùng thủy, lục, không quân tiến công nhưng mãi đến 14/1/1941 chúng mới chiếm lại được các đồn, bốt. Trong tình thế đó, quân du kích tạm rút vào Đồng Tháp Mười. Mỹ Tho là nơi giữ được chính quyền lâu nhất.

Ngay từ khi được tin Nam Kỳ khởi nghĩa, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra thông báo khẩn cấp, chỉ thị cho các địa phương “chia lửa” với Nam Kỳ. Từ việc rải truyền đơn, bãi khóa, bãi thị đến việc phát động du kích, nếu có điều kiện phá đường, cầu cống ngăn quân thù đàn áp. Nhưng thực dân Pháp khủng bố khốc liệt, càn quét các vùng khởi nghĩa, tiêu diệt chính quyền cách mạng, cho máy bay dội bom xuống làng mạc, thôn xóm. Tính từ ngày 22/11 đến ngày 31/12/1940, thực dân Pháp gây ra hơn 5.000 vụ bắt bớ; hàng ngàn người bị xử tử, tù đày, tra tấn vô cùng tàn bạo.

Tháng 12/1940, Xứ ủy Nam Kỳ họp ở Bà Quẹo (Gia Định) quyết định rút lui cuộc khởi nghĩa để tránh tổn thất, đưa lực lượng còn lại xây dựng căn cứ U Minh và Đồng Tháp Mười.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị dập tắt. Thực dân Pháp nhân cơ hội này xử bắn nhiều đồng chí cán bộ kiên trung của Ðảng bị bắt từ trước khởi nghĩa, như: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Nguyễn Hữu Tiến, Phan Ðăng Lưu...

3. Ý nghĩa lịch sử

Diễn ra trong một thời gian ngắn nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ là cuộc khởi nghĩa vũ trang có phạm vi rộng nhất và mức độ quyết liệt nhất kể từ khi thực dân Pháp xâm chiếm lục tỉnh Nam Kỳ năm 1867 đến thời điểm đó. Tuy thất bại nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ có ý nghĩa lịch sử sâu sắc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Nhân dân ta:

- Cùng với khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ “là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu tranh đấu bằng võ lực của các dân tộc ở một nước Ðông Dương”[1]. Cuộc khởi nghĩa đã thể hiện sức mạnh quật khởi, lòng tin tưởng và sẵn sàng hy sinh của Nhân dân các tỉnh Nam Bộ trong cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Chính vì lẽ đó, ngày 14/11/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh 163-SL tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất cho Đội quân khởi nghĩa Nam Bộ năm 1940. Đó là sự khắc ghi của dân tộc đối với công lao và sự hy sinh của quân và dân Nam Kỳ.

- Từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, nhiều cán bộ của Đảng được rèn luyện, thử thách. Sau khởi nghĩa, một đội ngũ cán bộ, đảng viên trung thành với lý tưởng của Ðảng, gương mẫu chiến đấu hy sinh vì quyền lợi của dân tộc, của Nhân dân đã trưởng thành và đảm đương những trọng trách mà Đảng ta giao phó về sau. Từ đây, có hàng vạn quần chúng Nhân dân yêu nước được thử thách trong đấu tranh, tiếp tục đi theo Ðảng thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc tiến tới giành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945.

- Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ mang tính chất một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, tính nhân dân rộng rãi và sâu sắc. Đó là minh chứng sinh động cho chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu của Ðảng với phương pháp đấu tranh vũ lực là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo. Ðồng thời, khởi nghĩa Nam Kỳ cũng là cơ sở thực tiễn để Đảng ta hoàn thiện con đường chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Từ kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa ở Bắc Sơn, Nam Kỳ, binh biến Ðô Lương, Đảng đã có những bước đi cẩn trọng, chu đáo trong đánh giá, xác định thời cơ, chuẩn bị lực lượng... đi tới giải phóng toàn dân tộc.

- Với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, từ trong quá trình chuẩn bị và diễn ra, lần đầu thiết chế “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” được đề cập trong truyền đơn rải ở thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn và tiêu ngữ “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quốc” được viết trên các băng zôn treo trước trụ sở các ủy ban cách mạng ở Long Hưng, Vĩnh Kim (Mỹ Tho). Lá cờ đỏ sao vàng năm cánh xuất hiện trong khởi nghĩa Nam Kỳ đã trở thành biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân, biểu tượng của tinh thần và ý chí đấu tranh cách mạng của Nhân dân. Cờ đỏ sao vàng năm cánh sau đó đã được Ðảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn làm biểu tượng của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh và đến ngày 9/11/1946 được ghi chính thức trong Hiến pháp, thông qua tại kỳ họp Quốc hội thứ hai (khóa I).

4. Bài học kinh nghiệm

Khởi nghĩa Nam Kỳ là thực tiễn sinh động về phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân và để lại những bài học quý báu, đó là:

Một là, bài học về cụ thể hóa đường lối của Đảng phù hợp với thực tiễn địa phương, phải đặt địa phương trong mối tương quan với cả nước và có sự phối hợp khởi nghĩa giữa các địa phương trong cả nước. Một trong những nguyên nhân thất bại của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là vì chưa được đặt trong sức mạnh chung của toàn quốc.

Hai là, bài học về công tác chuẩn bị các điều kiện cầnđủ cho một cuộc khởi nghĩa nổ ra có thể giành được thắng lợi, đặc biệt là chuẩn bị về lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh du kích, xây dựng và kiểm tra kế hoạch, phát hiệu lệnh khởi nghĩa.

Ba là, bài học về xây dựng đội quân chủ lực, xác định rõ các lực lượng phối hợp của cuộc khởi nghĩa và đánh giá đúng vai trò của các lực lượng. Lực lượng vũ trang của binh lính là quan trọng nhưng quyết định vẫn là quần chúng công nông.

Bốn là, bài học về việc giữ vững sự gắn bó máu thịt giữa Đảng và quần chúng; không ngừng xây dựng lực lượng cách mạng trong quần chúng; khơi dậy và nhân lên sức mạnh vĩ đại từ sự đồng tâm, hiệp lực của quần chúng.

Năm là, bài học về tính khoa học của kế hoạch lãnh đạo khi tiến công và thoái thủ; dự trù các phương án thắng - thua và khả năng giải quyết nếu khởi nghĩa thất bại; kế hoạch rút lui bảo toàn cơ sở và lực lượng.

Vinh Nguyễn

Ảnh sưu tầm: Internet

(Theo tài liệu Hướng dẫn tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Ngày Nam Kỳ khởi nghĩa 23/11/1940 - 23/11/2020 của Ban Tuyên giáo Trung ương)


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.109.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng Bắc Ninh phát triển nhanh, bền vững, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước 2030

Xây dựng Bắc Ninh phát triển nhanh, bền vững, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước 2030

Trong không khí Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Nguyễn Hồng Thái, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh đã trả lời phỏng vấn các cơ quan báo chí trung ương và địa phương về tầm nhìn, mục tiêu và những định hướng lớn nhằm xây dựng Bắc Ninh phát triển nhanh, bền vững, hiện đại, giàu bản sắc; phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030.
Bảo đảm Văn kiện Đại hội XIV trở thành động lực đổi mới tư duy và hành động, khơi dậy khát vọng phát triển

Bảo đảm Văn kiện Đại hội XIV trở thành động lực đổi mới tư duy và hành động, khơi dậy khát vọng phát triển

Việc chuẩn bị và xây dựng Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ là bước tổng kết 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước (năm 1991), 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, mà còn hoạch định tầm nhìn, định hướng chiến lược cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đồng chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV đã trao đổi với báo chí về những quan điểm, chủ trương mới, đột phá trong dự thảo các văn kiện.
Bồi đắp niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc

Bồi đắp niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc

Trong công tác chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thông tin, tuyên truyền có vai trò đặc biệt quan trọng trong định hướng dư luận, củng cố niềm tin và lan tỏa tầm nhìn, khát vọng phát triển. Trao đổi với báo chí, đồng chí Lại Xuân Môn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Giám đốc Trung tâm Báo chí Đại hội XIV đã làm rõ những kết quả nổi bật, định hướng trọng tâm và yêu cầu đặt ra đối với báo chí trong đợt tuyên truyền cao điểm hướng tới Đại hội XIV.
Công tác tuyên giáo và dân vận phải thực sự “đi trước mở đường” trong giai đoạn mới

Công tác tuyên giáo và dân vận phải thực sự “đi trước mở đường” trong giai đoạn mới

Nhiệm kỳ Đại hội XIII, công tác Tuyên giáo và Dân vận đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ với nhiều dấu ấn nổi bật, có tính đột phá trong tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên và Nhân dân đoàn kết thống nhất, thực hiện thắng lợi các quyết sách chiến lược của Đảng và Nhà nước. Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã dành thời gian trao đổi với báo chí về chủ đề này.
Khai trương Trung tâm Báo chí và họp báo quốc tế của Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam

Khai trương Trung tâm Báo chí và họp báo quốc tế của Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam

Chiều ngày 14/01, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia (Hà Nội), Trung tâm Báo chí Đại hội XIV của Đảng chính thức khai trương. Đây là sự kiện mở đầu trong chuỗi các hoạt động chính tại Đại hội XIV.
Tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất, toàn diện đầu tiên tại Việt Nam về công dân số

Tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất, toàn diện đầu tiên tại Việt Nam về công dân số

Ngày 13/01, Bộ Tư pháp tổ chức Hội đồng thẩm định độc lập dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về phát triển công dân số (dự thảo Nghị quyết). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì phiên họp.
Nhiều đề xuất lớn hoàn thiện Luật Thủ đô trong giai đoạn mới

Nhiều đề xuất lớn hoàn thiện Luật Thủ đô trong giai đoạn mới

Chiều 12/01, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị đánh giá thi hành Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 và đề xuất nội dung cơ chế, chính sách đặc thù xây dựng dự án Luật Thủ đô (sửa đổi). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu chủ trì Hội nghị.
Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai công tác năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai công tác năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương

Sáng ngày 08/01, Chính phủ tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai công tác năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại trụ sở Chính phủ, trực tuyến với điểm cầu 34 tỉnh, thành phố trong cả nước. Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư.
Công bố lệnh của Chủ tịch nước về 12 luật đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10

Công bố lệnh của Chủ tịch nước về 12 luật đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10

Sáng 07/01, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về việc công bố 12 luật vừa được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10. Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Trợ lý Chủ tịch nước Cấn Đình Tài chủ trì Họp báo.
Công bố Lệnh của Chủ tịch nước: 12 luật liên quan lĩnh vực  kinh tế

Công bố Lệnh của Chủ tịch nước: 12 luật liên quan lĩnh vực kinh tế

Sáng 06/01/2026, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố 12 luật đã được Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua. Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Trợ lý Chủ tịch nước Cấn Đình Tài, chủ trì Họp báo.
Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Sáng 06/01/2026, Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2026) được tổ chức trọng thể tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội. Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.
06 luật được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10 sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026

06 luật được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10 sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026

Chiều 5/1, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về việc công bố 13 luật vừa được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10. Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Trợ lý Chủ tịch nước Cấn Đình Tài chủ trì Họp báo.
Tổng Bí thư Tô Lâm: Phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới

Tổng Bí thư Tô Lâm: Phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới

Trước thềm năm mới 2026 - năm khởi đầu nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã dành thời gian trả lời phỏng vấn của Thông tấn xã Việt Nam. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu nội dung trả lời phỏng vấn của Tổng Bí thư.
Công bố Lệnh của Chủ tịch nước với 14 luật, 01 pháp lệnh

Công bố Lệnh của Chủ tịch nước với 14 luật, 01 pháp lệnh

Chiều 31/12, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố các luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV thông qua.
Đổi mới tư duy, phát huy sức mạnh báo chí đa nền tảng trong tuyên truyền Đại hội XIV của Đảng

Đổi mới tư duy, phát huy sức mạnh báo chí đa nền tảng trong tuyên truyền Đại hội XIV của Đảng

Chiều 30/12, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tổ chức Hội nghị tập huấn báo chí tuyên truyền Đại hội XIV của Đảng, nhằm thống nhất nhận thức, nâng cao kỹ năng và đổi mới phương thức tuyên truyền trong giai đoạn cao điểm chuẩn bị Đại hội.

Theo dõi chúng tôi trên: