![]() |
| Toàn cảnh Phiên họp |
Tháo gỡ kịp thời các vướng mắc sau sắp xếp đơn vị hành chính
Vấn đề thời sự được cử tri, Nhân dân quan tâm đã được đại biểu Nguyễn Đặng Ân – Đoàn ĐBQH tỉnh Lạng Sơn phản ánh tại nghị trường Quốc hội, đó là tiếp tục giải quyết các vướng mắc sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, để cán bộ sau sắp xếp yên tâm công tác.
Đại biểu Nguyễn Đặng Ân khẳng định, sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp là chủ trương lớn, rất đúng đắn và thực tế cấp xã đã đi vào hoạt động dần ổn định và hiệu quả; việc phục vụ người dân và doanh nghiệp thuận lợi hơn. Tuy nhiên, việc bố trí nhân lực và cơ cấu tổ chức cũng bộc lộ một số bất cập cần điều chỉnh kịp thời để bộ máy hoạt động hiệu quả hơn.
Đại biểu nêu thực tế, số lượng các phòng chuyên môn tại đơn vị hành chính cấp xã hiện nay có hai phòng là phòng Kinh tế và phòng Văn hóa - Xã hội chưa chuyên sâu. Một phòng chịu sự quản lý, hướng dẫn chuyên môn của 5 đến 6 sở, dẫn đến quá tải. Việc thực hiện tổ chức các phòng theo Nghị định 370 của Chính phủ rất cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể, định hướng để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong phạm vi cả nước.
Hơn nữa, cán bộ công chức cấp xã một số nơi còn thiếu về số lượng và rất thiếu công chức có chuyên môn sâu như: xây dựng, giao thông, công nghệ thông tin. Trong khi chức năng nhiệm vụ và khối lượng công việc được giao rất lớn và thực hiện trực tiếp với người dân, doanh nghiệp nhiều hơn so với cán bộ công chức cấp xã trước khi sắp xếp.
Do đó, đại biểu Nguyễn Đặng Ân đề nghị nghiên cứu lộ trình đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ cấp xã để đáp ứng yêu cầu; rà soát tổng thể các địa phương trên các tiêu chí: diện tích, dân số, có tính đến các yếu tố đặc thù như miền núi, biên giới, bãi ngang, hải đảo để giao biên chế phù hợp với thực tiễn.
Đối với người hoạt động không chuyên trách và quy mô thôn, tổ dân phố, đại biểu đề nghị xem xét bổ sung tiêu chuẩn của tổ dân phố hình thành do thực hiện sáp nhập giữa xã và phường phải chuyển từ thôn thành tổ dân phố để phù hợp với thực tiễn chính quyền địa phương hai cấp. Chính phủ sớm ban hành Nghị định quy định về hoạt động của thôn, tổ dân phố, chế độ chính sách với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố để địa phương kịp thời tham mưu các nội dung về sắp xếp, ban hành quy định về chế độ chính sách.
Đại biểu nhấn mạnh, việc tiếp tục tinh gọn thôn, tổ dân phố theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ rất cần các địa phương tiến hành ngay và các chính sách kèm theo cần được ban hành đồng bộ, kịp thời.
Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?
Phát biểu về tiến trình cải cách chính sách tiền lương, đại biểu Thạch Phước Bình – Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long khẳng định, việc điều chỉnh mức lương cơ sở không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật, mà còn là yếu tố quyết định trực tiếp đến đời sống, động lực làm việc và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Trong những năm gần đây, Nhà nước đã có những bước điều chỉnh tích cực khi nâng mức lương cơ sở từ 1,49 triệu đồng lên 1,8 triệu đồng, 2,34 triệu đồng/tháng và dự kiến tiếp tục tăng lên 2,53 triệu đồng từ ngày 1/7/2026.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay không còn là “có tăng hay không”, mà là tăng ở mức nào để vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách, đồng thời tạo động lực phát triển khu vực công. Đại biểu Thạch Phước Bình đánh giá mức 2,53 triệu đồng/tháng từ 1/7/2026 là một bước tăng hợp lý về mặt kỹ thuật, nhưng chưa đủ mạnh để bảo đảm đời sống cho đa số người làm khu vực công. Đại biểu nêu thực tế, một công chức mới vào nghề với hệ số 1,86 chỉ đạt khoảng 4,7 triệu đồng/tháng (trước khi trừ bảo hiểm). Trong khi chi phí sinh hoạt tối thiểu tại đô thị phổ biến khoảng 6-7 triệu đồng/tháng. Điều này cho thấy một khoảng cách đáng kể giữa thu nhập và nhu cầu sống cơ bản. Hệ quả là, người lao động khó sống độc lập bằng lương, phải phụ thuộc vào nguồn thu nhập bổ sung; giảm động lực và chất lượng cuộc sống. Do đó, mức 2,53 triệu đồng chỉ đạt mục tiêu ổn định, chưa đạt mục tiêu bảo đảm đời sống.
Mặt khác, từ ngày 01/01/2026, lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp đã lên 5,31 triệu đồng ở vùng I, 4,73 triệu ở vùng II, 4,14 triệu ở vùng III, 3,70 triệu ở vùng IV; bình quân 4 vùng là khoảng 4,47 triệu đồng/tháng. Nếu lấy mức lương cơ sở mới 2,53 triệu nhân với hệ số khởi điểm thấp thường gặp 1,86, tiền lương theo công thức cũ chỉ khoảng 4,706 triệu đồng/tháng; với hệ số 2,10 thì khoảng 5,313 triệu đồng/tháng. Nói cách khác, người ở nhóm thấp nhất chỉ vừa nhỉnh hơn mức lương tối thiểu vùng bình quân, còn người nhóm 2,10 chỉ vừa chạm ngưỡng vùng I. Với mặt bằng chi phí đô thị, đó là mức “cầm cự”, chưa phải mức “bảo đảm cuộc sống ổn định”.
Bên cạnh đó, áp lực chi tiêu cũng không hề nhỏ. Ngay trong năm 2025, nhiều nhóm chi phí thiết yếu tăng nhanh hơn CPI chung, như nhà ở, điện, nước và vật liệu xây dựng tăng 8,30%, còn thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,92%. Điều này rất quan trọng vì đây là các khoản chi “khó né” của hộ gia đình công chức, viên chức. Vì vậy, dù lương cơ sở tăng 8,12%, cảm nhận thực tế của nhiều người vẫn có thể là “đỡ hơn trước” chứ chưa đạt mức an tâm, nhất là khi còn nuôi con, thuê nhà, đi lại, học hành và chăm sóc y tế.
Từ các phân tích thực tiễn về thu nhập và chi phí sống, đại biểu Thạch Phước Bình cho rằng, mức 2,65 – 2,70 triệu đồng/tháng như một phương án hợp lý và khả thi hơn trong giai đoạn hiện nay. Về mặt thu nhập thực tế, với mức này người có hệ số 1,86 có thể đạt khoảng 4,9 – 5,0 triệu đồng/tháng, người hệ số 2,1 đạt trên 5,5 triệu đồng/tháng. So với mức 2,53 triệu thì thu nhập tăng thêm khoảng 200.000 – 400.000 đồng/tháng. Đây là mức tăng có ý nghĩa rõ rệt đối với nhóm thu nhập thấp. Quan trọng hơn, mức này giúp thu hẹp khoảng cách với lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp; giảm áp lực thiếu hụt chi tiêu thiết yếu.
Về mặt đời sống và tâm lý xã hội, mức tăng lên 2,65 – 2,70 triệu đồng tuy chưa thể bảo đảm hoàn toàn “sống được bằng lương” ở đô thị lớn, nhưng có ý nghĩa quan trọng: giúp người lao động giảm phụ thuộc vào nguồn thu nhập ngoài lương; tạo cảm nhận rõ ràng về sự cải thiện thu nhập, thay vì chỉ “tăng danh nghĩa”; góp phần ổn định tâm lý và nâng cao động lực làm việc. Đặc biệt, trong bối cảnh giá các mặt hàng thiết yếu như nhà ở, y tế, điện nước tăng nhanh hơn CPI chung, thì việc tăng lương ở mức đủ lớn để “cảm nhận được” là rất cần thiết.
Về mặt cân đối ngân sách, đại biểu Thạch Phước Bình phân tích, mức 2,65 - 2,70 triệu có ưu điểm không tạo áp lực quá lớn lên ngân sách nhà nước; có thể thực hiện nếu đi kèm tinh giản biên chế, cơ cấu lại chi tiêu công, giảm các khoản chi kém hiệu quả. Điểm mấu chốt là đạt được sự cân bằng giữa khả năng chi trả và yêu cầu cải thiện đời sống.
Đại biểu Quốc hội lo ngại tình trạng già hóa dân số gia tăng
Thống nhất với báo cáo của Chính phủ, cũng như báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, tình hình triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội những tháng đầu năm 2026, đại biểu Lê Ngọc Linh – Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau quan tâm đến vấn đề già hóa dân số nhanh, tỷ suất sinh giảm thấp hơn mức sinh thay thế.
Đại biểu nêu số liệu, tổng tỷ suất sinh của Việt Nam hiện chỉ còn khoảng 1,91 con/phụ nữ, thấp hơn mức sinh thay thế là 2,1 con. Đây là dấu hiệu cho thấy quy mô gia đình ngày càng thu nhỏ, số trẻ em sinh ra không đủ để duy trì quy mô dân số ổn định trong dài hạn.
Trong đó, năm 2022, mức sinh tương đối ổn định quanh mức thay thế gần 2,1 con; năm 2023, mức sinh giảm xuống còn khoảng 1,96 con/phụ nữ; năm 2024 tỷ lệ này tiếp tục giảm xuống còn 1,91 con/phụ nữ. Đại biểu nhận định, những con số này cho thấy xu hướng giảm nhanh trở lại trong 2 năm gần đây, trong đó tỷ lệ sinh ở thành thị thấp hơn ở vùng nông thôn. Bên cạnh đó, Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn dân số vàng sang dân số già với tốc độ nhanh; tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên ngày càng tăng, trong khi lực lượng lao động trẻ lại có xu hướng giảm mạnh.
Để từng bước khắc phục tình trạng mức sinh thấp và những hệ lụy đi kèm, đại biểu Lê Ngọc Linh đề xuất Chính phủ, Quốc hội điều chỉnh chính sách dân số theo hướng chuyển mạnh từ kế hoạch hóa gia đình sang duy trì mức sinh thay thế một cách bền vững. Cần phân vùng chính sách rõ ràng, tập trung ưu tiên các địa phương có mức sinh thấp, đô thị lớn, khu công nghiệp; khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con, coi đây là trách nhiệm xã hội gắn với phát triển bền vững của đất nước.
Cùng với đó, Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ tài chính dài hạn cho các gia đình sinh con và nuôi con nhỏ như: hỗ trợ chi phí sinh con, chăm sóc trẻ em, mở rộng chính sách miễn giảm chi phí y tế cho trẻ em; có chính sách thuế ưu đãi đối với hộ gia đình nuôi con nhỏ.
Tập trung đầu tư hệ thống dịch vụ đồng bộ, chất lượng; mở rộng mạng lưới nhà trẻ, trường mầm non (đặc biệt tại khu đô thị và khu công nghiệp). Phát triển các dịch vụ trông trẻ ngoài giờ, dịch vụ linh hoạt. Song song đó, có chính sách hỗ trợ nhà ở, tạo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho các cặp vợ chồng trẻ để họ yên tâm lập gia đình và sinh con.
"Đại biểu cũng đề nghị phải chuyển mạnh sang chính sách khuyến sinh chủ động, đồng bộ và dài hạn, lấy gia đình và phụ nữ làm trung tâm, tôn trọng quyền lựa chọn sinh con nhưng tạo môi trường thuận lợi để người dân "muốn sinh và có thể sinh". Bên cạnh đó, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến dân số, lao động, an sinh xã hội để đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất", đại biểu Lê Ngọc Linh đề xuất.
Lan Hương - Cao Hoàng - Vũ Hiếu
Nguồn: Quochoi.vn