Thứ năm 24/09/2026 14:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện cơ chế tiếp cận thông tin, thích ứng với công cuộc chuyển đổi số

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ và yêu cầu minh bạch hóa hoạt động quản lý nhà nước ngày càng cao, việc sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của các đại biểu Quốc hội. Nhiều ý kiến tại nghị trường sáng ngày 12/4 đã tập trung làm rõ những vấn đề cốt lõi như bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở, thúc đẩy chuyển đổi số gắn với chất lượng dữ liệu, cũng như hoàn thiện quy trình cung cấp thông tin theo hướng minh bạch, thuận lợi và giảm thiểu thủ tục hành chính.
Hoàn thiện cơ chế tiếp cận thông tin, thích ứng với công cuộc chuyển đổi số
Các đại biểu tham dự phiên họp

Đảm bảo quyền tiếp cận thông tin và nâng cao trách nhiệm cấp cơ sở

Một trong những nội dung được nhiều Đại biểu nhấn mạnh là việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cần được cụ thể hóa rõ ràng, thực chất hơn trong dự thảo luật.

Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà – Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh khẳng định: “Quyền được tiếp cận thông tin của công dân đã được quy định trong Hiến pháp. Việc công dân được tiếp cận thông tin chính là nền tảng cơ bản để minh bạch hoạt động của xã hội.” Từ đó, Đại biểu đề nghị tiếp tục mở rộng các đối tượng được hỗ trợ tiếp cận thông tin, đặc biệt là nhóm yếu thế như người nghèo, trẻ em, người có hoàn cảnh khó khăn.

Không chỉ dừng lại ở việc mở rộng đối tượng, nhiều ý kiến cũng cho rằng cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế tại cơ sở. Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà cũng lưu ý, việc cung cấp thông tin chủ yếu trên môi trường số có thể trở thành rào cản đối với người dân ở vùng sâu, vùng xa, nơi hạ tầng công nghệ còn hạn chế. Vì vậy, cần duy trì các hình thức cung cấp thông tin truyền thống như hệ thống truyền thanh cơ sở, niêm yết tại cộng đồng, đồng thời cho phép linh hoạt giữa các hình thức trực tiếp và trực tuyến.

Ở góc độ tổ chức thực thi, Đại biểu Nguyễn Thái Học – Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk bày tỏ băn khoăn về việc dự thảo luật thu hẹp trách nhiệm cung cấp thông tin của chính quyền cấp xã. Ông cho rằng: “Chính quyền cấp xã phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin do mình có được và do mình tạo ra.” Theo Đại biểu, nếu chỉ quy định cung cấp thông tin do mình tạo ra mà không bao gồm thông tin do mình tiếp nhận, sẽ gây bất cập trong thực tiễn và làm giảm khả năng tiếp cận thông tin của người dân.

Cùng quan điểm này, nhiều đại biểu nhấn mạnh yêu cầu xây dựng chính quyền cơ sở theo hướng “gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân”, trong đó việc cung cấp thông tin phải là trách nhiệm chủ động, không thể đẩy về cấp trên hoặc né tránh.

Ngoài ra, đại biểu Trần Thị Oanh – Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng đề xuất mở rộng chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin, bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, việc mở rộng này cần đi kèm với quy định rõ phạm vi, mức độ để tránh tạo áp lực hành chính quá lớn.

Thúc đẩy chuyển đổi số gắn liền với chất lượng và tính chính xác của dữ liệu

Chuyển đổi số được xác định là xu hướng tất yếu trong quản trị nhà nước, song nhiều đại biểu cho rằng việc số hóa thông tin phải đi đôi với bảo đảm chất lượng, tính chính xác và an toàn dữ liệu.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga – Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng nhận định, trong bối cảnh thông tin ngày càng tồn tại dưới dạng dữ liệu số, việc sửa đổi luật cần hướng tới hoàn thiện nền tảng pháp lý cho quản trị công khai, minh bạch. Tuy nhiên, Đại biểu cũng lưu ý thực tế hiện nay có tình trạng thông tin được công khai nhưng khó tra cứu, khó khai thác, khiến hiệu quả tiếp cận thấp. Vì vậy, thông tin công khai cần bảo đảm “dễ tìm kiếm, dễ truy cập, dễ khai thác”.

Ở góc độ bảo đảm an toàn thông tin, Đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm – Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng cảnh báo: “Nếu thiết kế không chặt chẽ, cơ chế tiếp cận thông tin có thể bị lợi dụng… phục vụ cho mục đích xâm phạm an ninh quốc gia và thực hiện các hoạt động tội phạm.” Do đó, luật cần thiết lập nguyên tắc xuyên suốt là minh bạch nhưng không tạo ra lỗ hổng về bảo mật và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Một vấn đề nổi lên là các quy định về thông tin không được tiếp cận hoặc tiếp cận có điều kiện hiện vẫn mang tính định tính, dễ dẫn đến cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan. Đại biểu Nguyễn Đặng Ân – Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lạng Sơn cho rằng việc giao quyền quyết định cho người đứng đầu cơ quan có thể dẫn đến tình trạng tùy tiện trong cung cấp thông tin. Ông đề nghị cần có tiêu chí rõ ràng và cơ chế giám sát độc lập đối với các quyết định từ chối cung cấp thông tin.

Đại biểu Phạm Thúy Chinh – Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng cũng đề nghị bổ sung quy định về trách nhiệm bảo đảm tính chính xác của thông tin, coi đây là yêu cầu song hành với bảo mật thông tin.

Một nội dung khác được quan tâm là cơ chế thu phí cung cấp thông tin. Đại biểu Lý Anh Thư – Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang đề nghị cần đánh giá kỹ tác động của chính sách này, đồng thời xây dựng cơ chế miễn, giảm phù hợp đối với nhóm yếu thế.

Cần quy trình cung cấp thông tin rõ ràng và giảm thiểu thủ tục hành chính

Bên cạnh nội dung về quyền và phạm vi thông tin, nhiều đại biểu tập trung góp ý vào quy trình cung cấp thông tin – yếu tố quyết định tính khả thi của luật.

Đại biểu Phạm Thúy Chinh – Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng cho rằng việc quy định cứng về phiếu yêu cầu có thể tạo ra rào cản không cần thiết. Đại biểu nhấn mạnh: “Đây là quyền hiến định và cần được tạo điều kiện tối đa để công dân thực hiện.”

Quan điểm này cũng được nhiều đại biểu đồng tình khi cho rằng không nên biến quyền tiếp cận thông tin thành “cơ chế xin - cho”. Đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm – Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng cảnh báo việc yêu cầu chứng minh mục đích sử dụng thông tin có thể phát sinh thủ tục không cần thiết.

Nhìn tổng thể, các ý kiến tại nghị trường đều thống nhất về sự cần thiết sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số. Tuy nhiên, việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật cần được thực hiện toàn diện, bảo đảm hài hòa giữa quyền tiếp cận thông tin và yêu cầu bảo vệ lợi ích nhà nước, an ninh quốc gia, cũng như quyền riêng tư của mỗi cá nhân. Nếu được hoàn thiện đúng hướng, Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) sẽ là nền tảng quan trọng để xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân trong kỷ nguyên số.

Hoàn thiện cơ chế tiếp cận thông tin, thích ứng với công cuộc chuyển đổi số
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng

Thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết sẽ nghiêm túc tiếp thu, tổng hợp đầy đủ các ý kiến góp ý của đại biểu Quốc hội, đồng thời phối hợp với các cơ quan liên quan để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).

Theo đó, nhiều nội dung quan trọng sẽ được rà soát, chỉnh lý, như: làm rõ trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước, nhất là ở cấp cơ sở; nghiên cứu mở rộng các đối tượng yếu thế được hỗ trợ tiếp cận thông tin; bảo đảm thông tin công khai phải chính xác, dễ tiếp cận. Bên cạnh đó, cơ quan soạn thảo cũng sẽ tiếp thu ý kiến về việc quy định thời hạn cung cấp thông tin theo từng loại nội dung, tính chất và hình thức thông tin; đồng thời xem xét hoàn thiện quy định về trách nhiệm của chính quyền cấp xã, bao gồm cả thông tin do mình quản lý, nắm giữ.

Đối với các đề xuất tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát, cơ quan chủ trì cho biết sẽ tiếp tục nghiên cứu để bảo đảm các quy định của luật có tính khả thi, đi vào cuộc sống.

Dự thảo sau khi hoàn thiện sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại đợt hai của kỳ họp.

Anh Thư - Nguyễn Hùng

Nguồn: quochoi.vn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Chiều 21/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược, Luật Người cao tuổi và Luật Bảo hiểm y tế. Tham dự cuộc họp có Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cùng đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp. Tại cuộc họp, Hội đồng tập trung trao đổi, góp ý đối với các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Khám bệnh, chữa bệnh và Luật Dược.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Ngày 18/9, ông Nguyễn Duy Thắng, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tham dự cuộc họp có đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ theo vị trí việc làm cho công chức thực hiện nhiệm vụ tư pháp xã, phường, đặc khu (Chương trình) tập trung vào tập huấn kỹ năng, đặc biệt các kỹ năng liên quan đến chuyển đổi số, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu và xử lý tình huống gắn với những khó khăn, vướng mắc trong thực tế triển khai thực hiện công việc.
Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày 15/9/2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1788/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Sáng ngày 16/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì Hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Ngô Quỳnh Hoa.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Chiều ngày 15/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc làm việc với các đơn vị có liên quan về việc triển khai Trang Thông tin điện tử Hiến kế xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới trên Cổng Pháp luật quốc gia (Trang Hiến kế).

Theo dõi chúng tôi trên: