Thứ sáu 07/08/2026 17:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện các đặc điểm của nội luật hóa điều ước quốc tế dưới tư cách một hiện tượng pháp lý

Nội luật hóa điều ước quốc tế (ĐƯQT) - với cách hiểu thông dụng nhất là việc chuyển hóa các quy phạm điều ước vào hệ thống pháp luật quốc gia nhằm thực thi các cam kết quốc tế

Trên cơ sở tổng hợp và phân tích quan điểm của một số học giả về khái niệm nội luật hóa điều ước quốc tế, tác giả bài viết đóng góp một cách tiếp cận mới từ góc nhìn lý luận cơ bản tập trung vào việc làm rõ hơn các đặc điểm (thuộc tính) của hiện tượng pháp lý phức tạp này.

1. Tính ước lệ và sự đa dạng trong cách tiếp cận khái niệm nội luật hóa điều ước quốc tế

Nội luật hóa điều ước quốc tế (ĐƯQT) - với cách hiểu thông dụng nhất là việc chuyển hóa các quy phạm điều ước vào hệ thống pháp luật quốc gia nhằm thực thi các cam kết quốc tế - là một thuật ngữ tương đối phổ biến, xuất hiện thường xuyên trên các diễn đàn khoa học của nước ta thời gian gần đây. Tuy nhiên, có nhiều lý do khiến cho khái niệm này đến nay vẫn mang tính ước lệ khá cao. Lý do đầu tiên là chúng ta đang thiếu một định nghĩa pháp lý chính thức về “nội luật hóa”. Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969 cũng không nhắc trực tiếp đến vấn đề nội luật hóa. Việc tìm kiếm thuật ngữ tương đương trong các ngôn ngữ khác cũng không dễ dàng bởi ngay chính khái niệm “nội luật” hay “luật quốc gia” cũng đã có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau.

Ở Việt Nam, nhiều tác giả đã đưa ra quan niệm của mình về nội luật hóa ĐƯQT nhưng không phải ai cũng sử dụng cách tiếp cận trực diện. Với những người xây dựng định nghĩa trực tiếp về nội luật hóa ĐƯQT họ thường diễn đạt khái niệm này theo “công thức”: Nội luật hóa ĐƯQT là hoạt động của (ai) nhằm mục đích (gì) thông qua những thao tác (nào). Với những người tiếp cận nội luật hóa ĐƯQT như một thuật ngữ thay thế, họ không đưa ra định nghĩa cụ thể mà “dẫn chiếu” khái niệm này tới những khái niệm khác được họ xử lý sâu, ví dụ như: “Nội luật hóa là cách gọi khác của việc chuyển hóa quy phạm ĐƯQT vào hệ thống pháp luật quốc gia”[1] hoặc “nội luật hóa là cách áp dụng gián tiếp ĐƯQT”, đối lập với khả năng áp dụng trực tiếp[2]. Vấn đề nằm ở chỗ, bản thân cách hiểu thế nào là áp dụng trực tiếp, thế nào là chuyển hóa ở mỗi tác giả đã không giống nhau.

Nói riêng về sự liên hệ giữa nội luật hóa ĐƯQT và chuyển hóa ĐƯQT, dù quan niệm phổ biến hiện nay cho rằng hai khái niệm này đồng nghĩa, tương đương và có thể sử dụng thay thế cho nhau, tuy nhiên, đó không phải là cách hiểu duy nhất. Theo khảo cứu của tác giả, có ít nhất 03 cách xác định khác đối với mối quan hệ này:

(i) Nội luật hóa là một dạng chuyển hóa ĐƯQT: Theo cách hiểu này, chuyển hóa ĐƯQT là khái niệm rộng hơn còn nội luật hóa là khái niệm dùng để chỉ sự chuyển hóa thực chất từ các quy phạm luật quốc tế nằm trong các điều ước thành các quy phạm luật quốc gia nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật. Những sự chuyển hóa về tư cách cho phép một điều ước cụ thể được áp dụng trực tiếp trong môi trường luật quốc gia không được gọi là nội luật hóa[3].

(ii) Chuyển hóa ĐƯQT là một dạng nội luật hóa: Theo cách hiểu này, nội luật hóa ĐƯQT là khái niệm rộng hơn, bao hàm trong đó cả việc “chuyển hóa” mà kết quả của nó là tạo ra các quy phạm mới của luật quốc gia chứa đựng nội dung của quy phạm điều ước lẫn việc công nhận giá trị áp dụng của điều ước trong môi trường luật quốc gia thông qua một văn bản “cấp hiệu lực”. Như vậy, có trường hợp quốc gia tiến hành nội luật hóa một ĐƯQT mà không thông qua chuyển hóa[4].

(iii) Chuyển hóa ĐƯQT khác hoàn toàn với nội luật hóa ĐƯQT: Theo cách hiểu này, nội luật hóa ĐƯQT là cách mà quốc gia xây dựng các quy phạm pháp luật của mình cho phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế, còn chuyển hóa ĐƯQT là việc tạo ra khả năng áp dụng trực tiếp ĐƯQT trong môi trường luật quốc gia (cả trong trường hợp đương nhiên lẫn không đương nhiên), như vậy chúng là các khả năng biệt lập và không bao hàm lẫn nhau[5].

Khi xây dựng một định nghĩa khoa học, chúng ta thường quy khái niệm cần định nghĩa về một chủng (khái niệm lớn hơn) rồi mới chỉ ra các đặc điểm về loại. Phụ thuộc vào phương pháp nghiên cứu và nhu cầu nghiên cứu của từng chuyên ngành, các học giả có thể nhìn nhận nội luật hóa ĐƯQT ở những tư cách khác nhau, từ đó gắn nó vào các “chủng” khác nhau.

Theo tác giả, nội luật hóa ĐƯQT cần được nhìn nhận như là một hiện tượng pháp lý với những biểu hiện sống động có ý nghĩa cả trong đời sống thực tiễn cũng như dưới góc nhìn khoa học - thay vì chỉ xem xét nó như là một quy trình kỹ thuật cứng nhắc. Nội luật hóa chính là chuyển hóa nhưng bao gồm cả sự chuyển hóa về tư cách (tạo ra giá trị áp dụng của bản thân quy phạm điều ước trong môi trường luật quốc gia trong trường hợp giá trị đó không mặc nhiên phát sinh) lẫn sự chuyển hóa thực chất (tạo ra những quy phạm nội luật để đưa nội dung của quy phạm điều ước vào đời sống pháp luật quốc gia). Từ góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, theo tác giả nên định nghĩa về nội luật hóa ĐƯQT như sau: Nội luật hóa điều ước quốc tế là việc làm xuất hiện trong hệ thống pháp luật quốc gia những nguyên tắc, chế định hoặc quy phạm pháp luật có nội dung tương thích với nội dung của các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên cũng như tạo ra giá trị áp dụng cho các quy phạm điều ước quốc tế trong môi trường luật quốc gia thông qua một hoặc một số thao tác mang tính cá biệt của chủ thể trong nước có thẩm quyền.

2. Các đặc điểm của hiện tượng nội luật hóa điều ước quốc tế

2.1. Tính thích nghi tùy biến

Tính thích nghi tùy biến thể hiện ở việc nội luật hóa ĐƯQT không diễn ra một cách tuần tự, cố định, đều đặn, lặp đi lặp lại mà nó chỉ xuất hiện khi có yêu cầu nội luật hóa. Điều quan trọng hơn, quá trình ấy không chỉ thuần túy phụ thuộc vào yêu cầu nội luật hóa mà còn chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố kinh tế - chính trị, lịch sử - địa lý khác. Nội luật hóa ĐƯQT do đó có sự biến động khó lường theo cả không gian và thời gian.

Ở bình diện thế giới, cách quan niệm về nội luật hóa và cách tiến hành nội luật hóa ở các quốc gia khác nhau là rất khác nhau. Thậm chí các quốc gia trong cùng một “dòng họ” pháp luật, có hệ thống pháp luật tương tự nhau cũng vẫn có những nét riêng trong việc giải quyết vấn đề này. Ở bình diện quốc gia, vấn đề nội luật hóa pháp luật quốc tế ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn cũng (có thể) được nhìn nhận và giải quyết bởi những cách rất khác nhau. Cùng với thời gian, không chỉ quan niệm của một quốc gia có thể thay đổi mà thậm chí vị thế của quốc gia đó trên trường quốc tế cũng đã có sự thay đổi. Những sự thay đổi này khiến cho nội dung của nội luật hóa cũng như sự cần thiết của nó không thể tồn tại mãi mãi.

2.2. Tính đa dạng chủ thể

Ở góc độ quốc tế, chủ thể nội luật hóa ĐƯQT phải là quốc gia thành viên của điều ước đó, sự chuyển hóa quy phạm điều ước dù bằng phương thức nào suy cho cùng đều nhằm thực thi một cách thực chất các cam kết mà quốc gia đã chấp nhận sự ràng buộc. Trong một số trường hợp đặc biệt (thường rơi vào các điều ước song phương), quốc gia kết ước có thể nhận được đòi hỏi phải tiến hành nội luật hóa theo một hình thức nhất định từ phía chủ thể còn lại (bên đối tác).

Ở góc độ quốc gia, chủ thể nội luật hóa ĐƯQT là những cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước có thẩm quyền liên quan đến các thao tác nội luật hóa được xác định trong pháp luật quốc gia. Do pháp luật mỗi nước có quy định khác nhau về vấn đề ký kết, thực hiện ĐƯQT nói chung và nội luật hóa ĐƯQT nói riêng, chủ thể nội luật hóa ở các nước không thể hoàn toàn giống nhau. Một khó khăn nữa trong việc làm rõ chủ thể của chuỗi hoạt động phức tạp này đó là việc không nhiều quốc gia xây dựng nội luật hóa thành một quy trình khép kín và độc lập, chủ thể nội luật hóa bởi vậy hiếm khi được chỉ định một cách ràng trong luật. Nói cách khác, chủ thể nội luật hóa ĐƯQT thường là những chủ thể có thẩm quyền lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp nhưng được giao thêm nhiệm vụ nội luật hóa trong phạm vi chức năng của mình chứ không phải là một cơ quan chuyên trách về công tác nội luật hóa.

2.3. Tính mâu thuẫn nội tại

Một trong những mục tiêu quan trọng của quá trình nội luật hóa là việc làm triệt tiêu những xung đột nào đó trong việc lựa chọn áp dụng luật quốc tế hay luật quốc gia, nhưng ngược lại nó cũng rất dễ dẫn đến việc tạo ra những xung đột mới. Những xung đột, mâu thuẫn mới vô tình được tạo ra trong quá trình nội luật hóa thậm chí còn có thể xuất hiện ngay trong bản thân hệ thống pháp luật quốc gia. Hay như trường hợp một quy phạm điều ước được thừa nhận để áp dụng trực tiếp vào thời điểm phê chuẩn/phê duyệt/gia nhập điều ước rồi sau đó lại được chuyển hóa vào quy phạm luật trong nước (khi quốc gia ban hành văn bản mới về lĩnh vực đó) thì xung đột này sẽ được giải quyết như thế nào? Với nội dung hoàn toàn giống nhau, quy phạm gốc trong điều ước sẽ được áp dụng theo nguyên tắc về sự “ưu tiên/ ưu thế của luật quốc tế” hay quy phạm luật quốc gia sẽ được áp dụng theo nguyên tắc “luật ban hành sau”. Rõ ràng, nếu các nguyên tắc như trên không được dự liệu trước và được thể hiện nhất quán trong luật, việc tạo ra các xung đột ngoài ý muốn trong quá trình nội luật hóa là điều khó tránh khỏi.

Ở một góc độ khác, nội luật hóa ĐƯQT vừa là quá trình làm cho pháp luật quốc gia tương thích với pháp luật quốc tế nhưng đồng thời cũng là quá trình làm cho pháp luật quốc tế tương thích với pháp luật quốc gia. Chuyển hóa nhằm “nghiêm chỉnh” thực thi các quy phạm điều ước theo đó không có nghĩa là chuyển hóa vô điều kiện. Ngược lại, các quốc gia luôn phải tính đến và làm sao cân đối lợi ích của mình với lợi ích của các bên còn lại. Việc quốc gia quá nôn nóng, vội vàng trong việc nội luật hóa ĐƯQT sẽ dẫn đến những hiệu ứng xã hội bất lợi (dị ứng môi trường pháp luật, chống đối, tẩy chay…). Các tổ chức, cá nhân trong xã hội sẽ không thể thích nghi kịp với quá nhiều quy định mới được đưa vào pháp luật quốc gia một cách dồn dập, nhất là khi những quy định đó quá xa lạ với truyền thống trước nay của pháp luật trong nước. Hệ quả, hoặc là họ không biết cách thực hiện hoặc họ tìm cách để không phải thực hiện, mà trong cả hai trường hợp đó, mục đích của nội luật hóa đều không đạt được.

2.4. Tính ý chí quốc gia

Thứ nhất, chuyển hóa các quy phạm điều ước vào pháp luật quốc gia là một quá trình thể hiện rất rõ ý chí của quốc gia. Trước hết, quốc gia thể hiện ý chí của mình ở việc có đặt ra vấn đề nội luật hóa hay không, có quy định các thủ tục để tiến hành nội luật hóa hay không. Dù rằng chuyển hóa không phải là một nghĩa vụ bắt buộc từ phía quốc tế nhưng thông qua pháp luật quốc gia, mỗi nước có thể tự đặt ra nghĩa vụ cho chính mình. Một khi thủ tục nội luật hóa đã được quy định trong luật, các cơ quan có thẩm quyền cùng mọi cá nhân, tổ chức liên quan đều bắt buộc phải thực hiện.

Thứ hai, tính ý chí được thể hiện ở việc nhà làm luật (của từng quốc gia) xác định điều kiện để một ĐƯQT có thể được nội luật hóa: Căn cứ vào lĩnh vực điều chỉnh/tác động của điều ước hay căn cứ vào mức độ rõ ràng, cụ thể của bản thân nó? Căn cứ vào tính chất của toàn bộ điều ước hay căn cứ vào tính chất của từng phần nội dung trong điều ước?

Thứ ba, tính ý chí thể hiện ở việc quốc gia có ý thức trong việc giám sát sự thi hành các quy phạm “sau nội luật hóa” và xử lý các vi phạm hay không. Đưa các quy phạm của luật quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia là một việc nhưng có thực hiện được chúng hay không lại là một chuyện khác. Trên thực tế, nhiều quốc gia mới chỉ quan tâm đến việc cụ thể hóa các quyền, nghĩa vụ là nội dung của ĐƯQT mà chưa quan tâm xây dựng các chế tài cần thiết để bảo đảm cho các quyền, nghĩa vụ ấy được thực hiện nghiêm chỉnh, khiến cho hoạt động nội luật hóa chưa đem lại được hiệu quả cuối cùng. Nói cách khác, khía cạnh thứ ba của “tính ý chí” chúng ta đang xét nằm ở tính tự giác trong việc thực hiện pháp luật quốc tế của mỗi quốc gia sau khi đã tiến hành các thao tác nội luật hóa.

Cuối cùng, trong quá trình nội luật hóa, quốc gia có thể “uốn nắn” nội dung luật quốc tế ở một chừng mực nhất định nhằm tạo ra sự tương thích tối ưu mặc dù về nguyên tắc, nội dung đó phải được chuyển tải một cách chính xác, phải “chiếm toàn bộ hoặc đa số phần nội dung của quy phạm pháp luật trong nước”[6].

2.5. Tính ảnh hưởng quốc tế

Ký kết, gia nhập, thực hiện các ĐƯQT nói chung luôn gắn bó mật thiết với các yếu tố chính trị quốc tế, do vậy, hoạt động nội luật hóa dù được tiến hành bởi các chủ thể trong nước và thông qua các thao tác quy định bởi luật trong nước cũng vẫn luôn đưa tới những tác động vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Về nguyên tắc, một khi quốc gia đã tự quy định nghĩa vụ nội luật hóa cho mình thì phải có những biện pháp tích cực, khả thi để thực hiện nghiêm chỉnh những quy định được chuyển hóa ấy. Mọi sự chậm trễ, miễn cưỡng hay cẩu thả trong việc chuyển hóa các quy phạm luật quốc tế đều có thể được đưa ra như là những bằng chứng nhằm cáo buộc quốc gia vi phạm luật quốc tế. Trong quá trình nội luật hóa, việc không chuyển tải được chính xác nội dung của quy phạm điều ước (dịch sai, hiểu sai, giải thích sai) cũng có thể dẫn đến việc quốc gia cố ý hoặc vô ý vi phạm luật quốc tế. Nguy cơ này ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, vị thế của quốc gia trên trường quốc tế. Bởi vậy, việc thực hiện ĐƯQT nói chung và nội luật hóa ĐƯQT nói riêng cần phải được thực hiện một cách khéo léo và thận trọng.

ThS. Phạm Vĩnh Hà

Trường Đại học Luật Hà Nội

Ảnh minh họa, nguồn: internet

[1] Có thể tìm thấy cách dẫn chiếu này trong phần lớn các công trình nghiên cứu về nội luật hóa ở Việt Nam.

[2] Xem: Trần Thị Thu Phương, “Áp dụng điều ước quốc tế trên lãnh thổ Việt Nam”, Tạp chí Luật học, Số 2/2013, tr. 64-72.

[3] Xem: Lê Thị Mai Anh, Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội, 2011.

[4] Quan niệm trước đây của chính tác giả, trình bày trong Luận văn thạc sĩ “Nội luật hóa điều ước quốc tế - Tiếp cận từ góc độ của lý luận chung về Nhà nước và pháp luật” (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012).

[5] Xem: Nguyễn Trung Tín, “Về việc giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia trong pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/2004, tr. 39-49.

[6]Hoàng Phước Hiệp và đ.t.g, "Nội luật hóa các điều ước quốc tế Việt Nam ký kết và tham gia phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ (bản tóm tắt), Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, 2007.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

15 luật và 04 nghị quyết sẽ được xem xét, thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất

15 luật và 04 nghị quyết sẽ được xem xét, thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất

Sáng ngày 03/8, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI khai mạc trọng thể. Kỳ họp dự kiến xem xét, thông qua 15 luật, 04 nghị quyết; cho ý kiến lần đầu đối với 07 dự án luật. Kỳ họp dự kiến kéo dài khoảng 17 ngày, được chia thành 2 đợt: Đợt 1 diễn ra từ ngày 03 - 13/8/2026; đợt 2 từ ngày 19 - 24/8/2026.
Quyết tâm hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030

Quyết tâm hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030

Ngày 29/7, Đảng bộ Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị sơ kết công tác Đảng 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả

Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả

Sáng 29/7, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối từ điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội đến các điểm cầu ở các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương, các địa phương, cơ quan, đơn vị. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3

Sáng ngày 29/7, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước
Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp tổ chức Lễ thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ

Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp tổ chức Lễ thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ

Chiều ngày 26/7, thực hiện Kế hoạch số 12-KH/ĐTN ngày 16/7/2026 của Ban Chấp hành Đoàn bộ Tư pháp về việc tổ chức các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp giao Chi đoàn Tạp chí Dân chủ và Pháp luật và Đoàn cơ sở Cục Quản lý Thi hành án dân sự chủ trì, phối hợp cùng Đoàn Thanh niên các cơ quan Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ tổ chức Lễ thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Mai Dịch.
Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 03 pháp lệnh được Ủy ban Thường vụ khóa XVI thông qua tại Phiên họp thứ 4

Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 03 pháp lệnh được Ủy ban Thường vụ khóa XVI thông qua tại Phiên họp thứ 4

Chiều ngày 25/7, tại Văn phòng Chủ tịch nước, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Cấn Đình Tài chủ trì họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 03 Pháp lệnh đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI thông qua tại Phiên họp thứ 4 gồm: Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; Pháp lệnh Trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Chi phí tố tụng.
Chiến dịch 500 ngày đêm: Hành trình đưa người lính trở về bằng trách nhiệm và lòng biết ơn

Chiến dịch 500 ngày đêm: Hành trình đưa người lính trở về bằng trách nhiệm và lòng biết ơn

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng hành trình đưa những người đã ngã xuống trở về với tên tuổi, quê hương và gia đình vẫn chưa thể khép lại. Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ không chỉ thể hiện quyết tâm thực hiện trọn vẹn trách nhiệm đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc, mà còn tiếp nối và lan tỏa truyền thống tri ân một giá trị bền vững trong văn hóa dân tộc Việt Nam.
Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Ngày 24/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu bài phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Ngày Thương binh Liệt sĩ: Từ đạo lý tri ân đến sức mạnh phát triển của dân tộc

Ngày Thương binh Liệt sĩ: Từ đạo lý tri ân đến sức mạnh phát triển của dân tộc

Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) không chỉ là dịp tri ân những người đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc, mà còn là cơ hội khẳng định giá trị bền vững của truyền thống biết ơn trong đời sống dân tộc. Trong tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, việc phát huy văn hóa tri ân càng có ý nghĩa trong xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam.
Dự kiến sửa đổi quy định về đối tượng không chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Dự kiến sửa đổi quy định về đối tượng không chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Ngày 22/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú và Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn đồng chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Phát biểu Khai mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Phát biểu Khai mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Sáng ngày 20/7, Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu chỉ đạo, định hướng quan trọng. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước.
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc gặp gỡ lực lượng làm nhiệm vụ tại công viên Lê Thị Riêng

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc gặp gỡ lực lượng làm nhiệm vụ tại công viên Lê Thị Riêng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu bài Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc gặp gỡ lực lượng làm nhiệm vụ tại công viên Lê Thị Riêng
TUẦN PHIM KỶ NIỆM 79 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SĨ

TUẦN PHIM KỶ NIỆM 79 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SĨ

Thực hiện Quyết định số 1461/QĐ-BVHTTDL ngày 24/6/2026 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tuần phim Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) sẽ chính thức diễn ra trên phạm vi toàn quốc. Đây là hoạt động chính trị - văn hóa mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nhằm tuyên truyền về lịch sử hào hùng của dân tộc và bồi đắp lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ.
Sửa đổi, bổ sung Luật Kinh doanh bất động sản đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường bất động sản

Sửa đổi, bổ sung Luật Kinh doanh bất động sản đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường bất động sản

Ngày 08/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Hội đồng thẩm định dự án Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi).
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 50 năm thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 50 năm thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 02/7/2026, tại Hội trường Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự và phát biểu tại Lễ kỷ niệm 50 năm thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (02/7/1976 - 02/7/2026). Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Theo dõi chúng tôi trên: