Thứ sáu 03/04/2026 07:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền điều hành kinh doanh của thành viên hợp danh trong công ty đấu giá hợp danh - So sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật Cộng hòa Pháp

Bài viết phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền điều hành kinh doanh của thành viên hợp danh trong công ty đấu giá hợp danh, trên cơ sở so sánh, đối chiếu với pháp luật của Cộng hòa Pháp. Từ đó, chỉ ra một số hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam, đồng thời, đề xuất các phương hướng sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

1. Quy định pháp luật Việt Nam về quyền điều hành kinh doanh của thành viên hợp danh trong công ty đấu giá hợp danh trong mối tương quan so sánh với pháp luật Cộng hòa Pháp

Một là, ở Việt Nam, Luật Đấu giá tài sản năm 2016 không có quy định đặc thù về quyền điều hành kinh doanh của thành viên hợp danh trong công ty đấu giá hợp danh. Do đó, vấn đề này chủ yếu được thực hiện theo các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020. Cụ thể:

- Thành viên hợp danh trong công ty đấu giá hợp danh có quyền tham gia họp, thảo luận và biểu quyết về các vấn đề của công ty. Tham gia họp theo quy định này là họp Hội đồng thành viên. Công ty hợp danh ở Việt Nam, không phân biệt quy mô, đều phải có Hội đồng thành viên trong cơ cấu tổ chức quản lý công ty. Hội đồng thành viên có quyền quyết định tất cả các công việc kinh doanh của công ty thông qua biểu quyết của thành viên (khoản 3 Điều 182 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Tính chất “đối nhân” của công ty hợp danh được thể hiện rất rõ thông qua quy định về tỷ lệ biểu quyết các vấn đề của công ty. Theo đó, tỷ lệ biểu quyết trong Hội đồng thành viên của công ty hợp danh không phụ thuộc vào tỷ lệ phần vốn góp mà mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết như nhau nếu Điều lệ công ty không có quy định khác.

Trong công ty hợp danh, các thành viên hợp danh là người đại diện theo pháp luật của công ty và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty. Các thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhận các chức danh quản lý và kiểm soát công ty. Trường hợp một số hoặc tất cả các thành viên hợp danh cùng thực hiện một số công việc kinh doanh của công ty thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số chấp thuận (khoản 1, khoản 2 Điều 184 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Nguyên tắc đa số mà Luật Doanh nghiệp năm 2020 đề cập ở đây là căn cứ vào biểu quyết của thành viên hợp danh. Thành viên hợp danh có thể thực hiện các hoạt động ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty và công ty chịu trách nhiệm về các hoạt động này nếu được sự chấp thuận của các thành viên còn lại (khoản 2 Điều 184 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2020 không quy định hình thức nào khác về việc chấp thuận của thành viên trong các trường hợp này ngoài cuộc họp Hội đồng thành viên.

Đối với công ty đấu giá hợp danh ở Việt Nam, công ty luôn phải có ít nhất một thành viên hợp danh là đấu giá viên (khoản 3 Điều 23 Luật Đấu giá tài sản năm 2016). Đấu giá viên với tư cách là thành viên hợp danh luôn là một trong những người quản lý công ty. Bởi lẽ, Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2020 không ghi nhận quyền thuê người quản lý đối với công ty hợp danh. Đây chính là điểm khác biệt giữa công ty hợp danh với doanh nghiệp tư nhân cũng như các loại hình công ty khác.

Ở Pháp, theo quy định của Bộ luật Thương mại, hợp danh thông thường (SNC) chỉ bao gồm thành viên hợp danh. Hợp danh thông thường là một trong những hình thức kinh doanh phổ biến nhất ở Pháp, đặc biệt là các công ty gia đình[1]. Thành viên của hợp danh thông thường có số lượng tối thiểu là 02 (Điều L221-1) và chịu trách nhiệm chung vô hạn đối với các khoản nợ của công ty. Hợp danh hữu hạn (SCS) có hai loại thành viên, đó là thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Trong hợp danh hữu hạn luôn phải có ít nhất là một thành viên hợp danh và một thành viên góp vốn. Hai loại thành viên này có tư cách pháp lý khác nhau. Thành viên hợp danh có trách nhiệm như thành viên hợp danh trong hợp danh thông thường (Điều L222-2). Thành viên góp vốn cũng có thể là cá nhân hoặc tổ chức, chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty đối với số tiền họ đóng góp (Điều L222-1). “Intuitu personae là một nguyên tắc chủ đạo trong quản trị công ty hợp danh hữu hạn. Theo đó, chỉ có các thành viên hợp danh mới được phép điều hành và quản lý hợp danh hữu hạn”[2].

Theo quy định của Bộ luật Thương mại Pháp, thành viên hợp danh trong công ty hợp danh thông thường hay công ty hợp danh hữu hạn có quyền trực tiếp điều hành và quản lý công ty hoặc thuê người quản lý. Trường hợp người quản lý là thành viên hợp danh, nếu công ty có một người quản lý và Điều lệ công ty không giới hạn quyền của thành viên hợp danh, người quản lý có thể thực hiện tất cả các hành vi quản lý vì lợi ích của công ty; nếu có nhiều hơn một người quản lý, mỗi người sẽ nắm giữ quyền hạn riêng biệt. Mỗi người quản lý có quyền phản đối bất kỳ giao dịch nào trước khi kết thúc (Điều L221-4). Các quyết định vượt quá quyền hạn được giao cho người quản lý sẽ được thực hiện theo sự nhất trí của các thành viên hợp danh (Điều L221-6). Như vậy, theo quy định của pháp luật Pháp, mỗi người quản lý sẽ có quyền hạn riêng biệt chứ không theo nguyên tắc đa số chấp thuận như pháp luật Việt Nam.

Pháp luật của Pháp không đặt ra điều kiện về loại hình doanh nghiệp đối với công ty đấu giá. Công ty đấu giá có thể được thành lập, tổ chức và hoạt động dưới hình thức của một trong các loại hình công ty thương mại được Bộ luật Thương mại Pháp điều chỉnh, trong đó có các mô hình hợp danh trên. Hơn nữa, khác với Việt Nam, pháp luật ở Pháp không bắt buộc người quản lý công ty đấu giá phải là đấu giá viên. Các công ty bán đấu giá phải có Giám đốc, thành viên hoặc nhân viên là người có trình độ chuyên môn cần thiết để tiến hành bán hàng hoặc có chứng chỉ, bằng cấp hoặc được Hội đồng đấu giá công nhận là tương đương để bán đấu giá theo các điều kiện nhất định (Điều L321-8).

Hai là, thành viên hợp danh có quyền yêu cầu công ty, thành viên hợp danh khác cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh của công ty, kiểm tra tài sản, sổ kế toán và tài liệu khác của công ty khi thấy cần thiết. Pháp luật Việt Nam không quy định tần suất thực hiện quyền này. Điều đó có nghĩa, quyền này của thành viên hợp danh được thực hiện bất cứ khi nào mà họ thấy cần thiết.

Ở Pháp, Bộ luật Thương mại quy định quyền nhận các thông báo về tài liệu và sổ sách kế toán của công ty hợp danh thông thường và công ty hợp danh hữu hạn chỉ dành cho thành viên hợp danh không điều hành công việc kinh doanh và thành viên góp vốn, với tần suất 02 lần/năm. Ngoài ra, các thành viên này còn có thể đặt câu hỏi bằng văn bản cho người quản lý công ty để được hồi đáp về bất kỳ vấn đề nào của công ty (Điều L221-8, Điều L222-2 và Điều L222-7). Đối với thành viên hợp danh là người quản lý công ty, mặc dù mỗi người có quyền hạn riêng biệt trong trường hợp công ty có nhiều người quản lý, nhưng mỗi người đều có quyền phản đối bất kỳ giao dịch nào do người quản lý thực hiện (Điều L221-4 và Điều L222-2).

2. Một số hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền điều hành kinh doanh của thành viên hợp danh trong công ty đấu giá hợp danh

Nhìn chung, mô hình công ty hợp danh ở Việt Nam chịu ảnh hưởng và tiếp thu nhiều từ các quy định pháp luật của Pháp. Tuy nhiên, công ty hợp danh theo quy định của pháp luật ở Pháp có hai loại hình như pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới (Nhật Bản, Hoa Kỳ...), trong khi đó, mô hình công ty hợp danh ở Việt Nam lại mang tính “hỗn hợp”. Chính vì vậy, vấn đề về quyền điều hành kinh doanh của thành viên hợp danh trong quy định pháp luật Việt Nam sẽ khó tránh khỏi những hạn chế nhất định. Cụ thể:

Một là, trong khi công ty hợp danh theo pháp luật các nước phân định rõ hai loại hợp danh cơ bản, đó là công ty hợp danh thông thường và công ty hợp danh hữu hạn, mô hình công ty hợp danh ở Việt Nam tuy chỉ có một nhưng bao hàm trong đó cả hai loại hình công ty đối nhân theo pháp luật các nước. Quy định mang tính “hỗn hợp” và cơ cấu tổ chức cồng kềnh - luôn phải có Hội đồng thành viên của công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam cũng gây ra không ít khó khăn cho việc hội nhập quốc tế của mô hình công ty này.

Với quy định hiện nay của pháp luật Việt Nam, cơ cấu tổ chức quản lý công ty đấu giá hợp danh cũng phải có Hội đồng thành viên. Việc quyết định các công việc kinh doanh của công ty cũng phải thông qua họp Hội đồng thành viên. Kinh doanh các ngành dịch vụ thường đòi hỏi vốn ít, quay vòng nhanh. Quy mô của doanh nghiệp, theo đó, cũng rất hạn chế. Với quy mô nhỏ nhưng lại phải có cơ cấu tổ chức quản lý cứng nhắc thì thực sự là không cần thiết.

Hai là, ở Việt Nam, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty hợp danh phải là một trong các thành viên hợp danh, tức là công ty không được thuê Giám đốc hoặc Tổng giám đốc như các loại hình doanh nghiệp khác. Riêng đối với công ty đấu giá hợp danh, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty phải là đấu giá viên. Ở đây, có hai vấn đề cần bàn: (i) Không ghi nhận quyền thuê Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đối với công ty hợp danh đã làm hạn chế đi quyền của công ty, đồng thời phần nào làm hạn chế bản chất “đối nhân” của công ty hợp danh. (ii) Đối với công ty đấu giá hợp danh, đấu giá tài sản là hoạt động nghề nghiệp của đấu giá viên, không thể đồng nhất hoạt động nghề nghiệp với hoạt động quản trị công ty. Một đấu giá viên có thể giỏi về chuyên môn nhưng không có nghĩa người đó có khả năng quản trị công ty tốt, bởi bên cạnh hoạt động kinh doanh đấu giá, trong công ty đấu giá hợp danh còn có nhiều hoạt động khác cần đến năng lực quản trị công ty như nhân sự, kế toán, tài chính, lao động...

Ba là, pháp luật Việt Nam không ghi nhận quyền của thành viên hợp danh phản đối bất kỳ hoạt động nào của các thành viên thực hiện hoạt động kinh doanh trước khi hoàn thành công việc đó. Đối với công ty đấu giá hợp danh, ít nhất một thành viên hợp danh là đấu giá viên, một hoặc các thành viên hợp danh còn lại không nhất thiết là đấu giá viên. Thành viên hợp danh là đấu giá viên, bên cạnh quyền quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, còn là người thực hiện các cuộc đấu giá. Trường hợp công ty chỉ có duy nhất một thành viên hợp danh là đấu giá viên thì thành viên hợp danh này đồng thời cũng là Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc công ty. Như vậy, sẽ dễ dẫn đến tình trạng thành viên hợp danh đó nắm nhiều quyền hành trong công ty. Đôi khi họ có những quyết định sai lầm mà không có sự phản đối kịp thời của các thành viên khác.

3. Một số đề xuất

Thứ nhất, đối với công ty hợp danh, Luật Doanh nghiệp Việt Nam cần ghi nhận hai loại hình công ty hợp danh là công ty hợp danh thông thường và công ty hợp danh hữu hạn. Khi đó, doanh nghiệp đấu giá tài sản có thể thành lập theo một trong các loại hình: Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh thông thường hoặc công ty hợp danh hữu hạn.

Thứ hai, pháp luật Việt Nam nên bỏ quy định về Hội đồng thành viên. Tức là, trong công ty hợp danh thông thường và công ty hợp danh hữu hạn, thành viên hợp danh đều nắm quyền điều hành và quản lý công ty. Việc lấy ý kiến biểu quyết để thông qua các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh của công ty cũng được thực hiện theo nguyên tắc đa số thành viên hợp danh tán thành. Hình thức lấy ý kiến có thể thông qua cuộc họp các thành viên hoặc các hình thức khác được quy định trong Điều lệ công ty. Cơ cấu tổ chức quản lý gọn nhẹ này cũng phù hợp với quy mô nhỏ và vừa của đại đa số công ty hợp danh nói chung, công ty đấu giá hợp danh nói riêng ở Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động đấu giá tài sản ở Việt Nam hiện nay chưa thực sự phổ biến và tạo được niềm tin cho các bên liên quan. Do đó, quy định công ty đấu giá hợp danh phải có ít nhất một thành viên hợp danh là đấu giá viên cần tiếp tục được duy trì. Tức là phải có ít nhất một người trong những người quản lý công ty là đấu giá viên.

Thứ ba, Luật Doanh nghiệp Việt Nam nên mở rộng ghi nhận quyền thỏa thuận của thành viên hợp danh trong việc thuê Giám đốc hoặc Tổng giám đốc quản lý và điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty hợp danh. Đã từng có ý kiến cho rằng, “điều kiện đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp là rất mơ hồ và khá chung chung. Vai trò của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong doanh nghiệp rất quan trọng, có thể tác động đến đến tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh, do đó tự bản thân doanh nghiệp sẽ lựa chọn các cá nhân có năng lực để bổ nhiệm. Nhà nước không cần/không nên can thiệp vào vấn đề này”[3]. Đối với công ty đấu giá hợp danh, hoạt động nghề nghiệp của đấu giá viên và hoạt động điều hành kinh doanh là hai phạm trù khác nhau, đòi hỏi kinh nghiệm, chuyên môn nghiệp vụ khác nhau. Chính vì vậy, quy định “Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của công ty đấu giá hợp danh là đấu giá viên” là không cần thiết, thậm chí còn có thể dẫn đến tình trạng thao túng quyền lực của đấu giá viên tại công ty đấu giá hợp danh, đặc biệt đối với những công ty chỉ có duy nhất một đấu giá viên. Khi Luật Doanh nghiệp ghi nhận quyền thỏa thuận thuê Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của thành viên hợp danh, công ty đấu giá hợp danh, các thành viên hợp danh cũng có thể thỏa thuận thuê Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

Thứ tư, Luật Doanh nghiệp Việt Nam nên bổ sung thêm quyền phản đối của thành viên hợp danh đối với bất kỳ hoạt động nào của thành viên hợp danh khác trước khi công việc kết thúc. Nếu thành viên hợp danh được ghi nhận quyền phản đối thì khả năng gây thiệt hại sẽ phần nào được ngăn chặn. Đối với thành viên hợp danh trong công ty đấu giá hợp danh, quyền này càng thực sự cần thiết, đặc biệt là phản đối thành viên hợp danh là đấu giá viên tiến hành cuộc đấu giá không đúng trình tự, thủ tục luật định, từ khâu ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản cho đến khi hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được ký kết. Theo đó, khoản 1 Điều 181 Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2020 nên bổ sung một điểm quy định về quyền này đối với thành viên hợp danh: “Phản đối bất kỳ hoạt động kinh doanh nào của thành viên hợp danh khác trước khi hoạt động đó kết thúc, khi có căn cứ cho rằng hoạt động đó có khả năng gây thiệt hại cho công ty”.

Vấn đề đặt ra hiện nay là, cơ chế điều chỉnh của pháp luật phải bảo vệ và thực thi được các quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên hợp danh - người thành lập chính của công ty và chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi nghĩa vụ của công ty đấu giá hợp danh. Khi nhận thấy quyền điều hành kinh doanh được bảo đảm, việc thu hút nhà đầu tư thành lập và kinh doanh dịch đấu giá tài sản là tất yếu.

Ths. Ngô Thị Phương Thảo

Trường Đại học Trà Vinh

[1]. Frank Wooldridge, The general partnership under French law, Amicus Curiae, số 77/2009, tr. 29.

[2]. Đồng Thị Huyền Nga, Các loại hình hợp danh theo pháp luật thương mại của Cộng hòa Pháp và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 46/2021, tr. 41.

[3]. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Ngân hàng Thế giới (WB), “Báo cáo rà soát điều kiện kinh doanh và quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam”, 2017, tr. 19.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định của Liên minh châu Âu về bảo vệ khách hàng trong thị trường tài sản mã hóa và đề xuất cho Việt Nam

Quy định của Liên minh châu Âu về bảo vệ khách hàng trong thị trường tài sản mã hóa và đề xuất cho Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa phát triển nhanh, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với khách hàng, việc xây dựng cơ chế bảo vệ người tham gia trở nên cấp thiết. Bài viết phân tích Quy định chung về thị trường tài sản mã hóa (MiCA) của Liên minh châu Âu trong bảo vệ khách hàng thông qua các nghĩa vụ đối với tổ chức cung cấp dịch vụ và yêu cầu minh bạch thông tin, đặc biệt trong sách trắng, tạo nền tảng an toàn cho thị trường. Qua phân tích, bài viết nhận diện những hạn chế trong cơ chế hiện hành tại Việt Nam, từ đó, đề xuất hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và bảo vệ quyền lợi người tham gia, đồng thời, thúc đẩy sự phát triển an toàn, bền vững của thị trường tài sản mã hóa trong nước.
Cam kết xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Cam kết xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Tóm tắt: Thời gian qua, Việt Nam ký kết một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ireland... Các hiệp định này đều đặt ra yêu cầu xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong lĩnh vực lao động thông qua thực thi đầy đủ nguyên tắc lao động cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế. Mặc dù Việt Nam đã nội luật hóa nhiều cam kết quốc tế, tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế nhất định, có thể chưa đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực lao động quốc tế mà các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đặt ra. Từ thực tế đó, bài viết phân tích mức độ tương thích giữa pháp luật Việt Nam và các nguyên tắc của Tổ chức Lao động Quốc tế về không phân biệt đối xử, xác định những bất cập còn tồn tại, đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia để đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế Việt Nam đã tham gia.
Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ và trở thành trụ cột của nền kinh tế số, vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng đặt ra ngày càng cấp thiết, đặc biệt, sau khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 có hiệu lực thi hành. Trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành và so sánh, tham chiếu các chuẩn mực pháp lý tiêu biểu của Liên minh châu Âu, Singapore và Nhật Bản, bài viết đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế về tính minh bạch, cơ chế bảo vệ quyền riêng tư và trách nhiệm của doanh nghiệp trong xử lý dữ liệu cá nhân và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử, nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định tình trạng việc làm của tài xế xe công nghệ theo Dự luật số 5 của Hội đồng bang California (2019), Đề xuất số 22 (2020) và khuyến nghị đối với Việt Nam

Xác định tình trạng việc làm của tài xế xe công nghệ theo Dự luật số 5 của Hội đồng bang California (2019), Đề xuất số 22 (2020) và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế chia sẻ, đặc biệt, dưới hình thức thị trường lao động nền tảng còn gọi là kinh tế việc làm tự do, đặt ra nhiều thách thức pháp lý trên phạm vi toàn cầu. Trong đó, xác định tình trạng việc làm của người lao động trong nền kinh tế này là vấn đề trung tâm, còn nhiều tranh luận cả về lý luận và thực tiễn. Nhóm lao động phổ biến và điển hình nhất cần được xác định tình trạng việc làm là tài xế xe công nghệ. Năm 2019, Hội đồng bang California, Hoa Kỳ ban hành Dự luật số 5 nhằm giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, chỉ sau một năm, Đề xuất số 22 đã được thông qua, loại trừ tài xế xe công nghệ ra khỏi phạm vi áp dụng của AB 5 và xác lập họ như một dạng lao động thứ ba với cơ chế điều chỉnh riêng. Bài viết phân tích nội dung của AB 5 và Proposition 22, từ đó, đề xuất một số khuyến nghị, chính sách đối với Việt Nam.
Pháp luật về bảo vệ nhân chứng trong vụ án hình sự ở Trung Quốc và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật về bảo vệ nhân chứng trong vụ án hình sự ở Trung Quốc và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Bảo vệ người làm chứng (nhân chứng) là một trong những yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm công lý và hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự. Tại Trung Quốc, cơ chế bảo vệ nhân chứng đã từng bước được hoàn thiện trong những năm gần đây, đặc biệt, thông qua việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản dưới luật. Bài viết phân tích khuôn khổ pháp lý hiện hành về bảo vệ nhân chứng trong tố tụng hình sự ở Trung Quốc, đánh giá những điểm tiến bộ, những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ nhân chứng.
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Nhật Bản và kinh nghiệm cho Việt Nam

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Nhật Bản và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Nhật Bản là một trong những quốc gia châu Á tiêu biểu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiệu quả và ổn định trong nhiều thập kỷ. Bài viết phân tích cấu trúc tổ chức, quyền hạn, phân bổ ngân sách và mối quan hệ giữa các cấp chính quyền tại Nhật Bản, rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại Việt Nam theo hướng hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển và hội nhập.
Phân tích và so sánh dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam với pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Đức và Anh

Phân tích và so sánh dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam với pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Đức và Anh

Việc nghiên cứu, tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm từ các hệ thống pháp luật tiên tiến của Hoa Kỳ, Pháp, Anh và việc tham gia tích cực vào các công ước quốc tế sẽ giúp Việt Nam xây dựng hệ thống tư pháp toàn diện, đáp ứng tốt các yêu cầu của hội nhập quốc tế. Điều này không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan trong các vụ việc dân sự mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp.
Kinh nghiệm của một số quốc gia về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự

Kinh nghiệm của một số quốc gia về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự

Bài viết phân tích một số quy định trong các điều ước quốc tế có liên quan, kinh nghiệm của một số quốc gia về các nội dung chính sách trên trong Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, từ đó, củng cố cơ sở khoa học cho việc xây dựng các quy định cụ thể trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự.
Tăng cường hợp tác tương trợ tư pháp về dân sự giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Tăng cường hợp tác tương trợ tư pháp về dân sự giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Bài viết nghiên cứu các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp dân sự mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là thành viên, thực tiễn triển khai giữa hai nước và đề xuất định hướng hợp tác giữa hai nước về lĩnh vực này trong thời gian tới.
Công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp - Thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp - Thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp vừa tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, vừa đóng vai trò “cầu nối” giữa pháp luật trong nước với pháp luật quốc tế. Vì vậy, công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp có tác động tích cực đến hội nhập quốc tế và phát triển của đất nước.
Hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp - Những thành tựu đạt được và định hướng trong kỷ nguyên mới

Hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp - Những thành tựu đạt được và định hướng trong kỷ nguyên mới

Nhìn lại chặng đường hơn 35 năm qua, đặc biệt, trong một thập kỷ gần đây, quan hệ hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp đã có bước phát triển mạnh mẽ và hiệu quả.
Xử lý hành vi sử dụng mã độc tống tiền theo pháp luật hình sự - Kinh nghiệm quốc tế và định hướng cho Việt Nam

Xử lý hành vi sử dụng mã độc tống tiền theo pháp luật hình sự - Kinh nghiệm quốc tế và định hướng cho Việt Nam

Hiện nay, các tội phạm sử dụng công nghệ cao để thực hiện các hành vi phạm tội diễn ra ngày càng phổ biến. Một trong những công nghệ cao để thực hiện các hành vi phạm tội, nguy hiểm, gây ra thiệt hại lớn cho xã hội được các tội phạm sử dụng nhiều nhất, chính là sử dụng mã độc tống tiền (Ransomware). Vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật để kịp thời phòng, chống những tác hại của Ransomware là thực sự cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật của Hoa Kỳ và Trung Quốc, từ đó, kiến nghị, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

Pháp luật về hòa giải thương mại của Việt Nam và Ấn Độ - Góc nhìn so sánh và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Việt Nam và Ấn Độ đều có khung pháp lý điều chỉnh hoạt động hòa giải thương mại, nhưng có sự khác biệt đáng kể về cơ chế vận hành và thực thi. Bài viết sử dụng phương pháp so sánh luật học để phân tích và đối chiếu quy định pháp luật giữa hai quốc gia, đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp luật về hòa giải thương mại tại Việt Nam.

Vai trò của Nội các Nhật Bản trong hoạt động lập pháp và giá trị tham khảo cho Việt Nam

Nội các Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong quá trình lập pháp với quyền đề xuất hầu hết các dự thảo luật trình lên Quốc hội. Bài viết nghiên cứu, phân tích vị trí, vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của Nội các Nhật Bản trong hoạt động lập pháp, từ sáng kiến đến soạn thảo, đánh giá và thông qua luật. Đồng thời, so sánh với quy trình lập pháp tại Việt Nam, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt quan trọng. Từ đó, đề xuất các giá trị mà Việt Nam có thể tham khảo nhằm nâng cao vị trí và vai trò của Chính phủ trong quá trình xây dựng pháp luật.

Hình phạt tiền - Dưới góc nhìn so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với Liên bang Úc và kinh nghiệm cho Việt Nam

Hình phạt tiền ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong hệ thống hình phạt của nhiều quốc gia, kể cả Việt Nam và Liên bang Úc, như một biện pháp hiệu quả để xử lý các hành vi phạm tội, đặc biệt là các tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm do pháp nhân thực hiện. Bài viết phân tích quy định pháp luật hình sự về hình phạt tiền của Việt Nam và Liên bang Úc, làm rõ sự khác biệt về đối tượng pháp nhân chịu trách nhiệm, phương pháp xác định mức phạt, các yếu tố Tòa án cân nhắc và cơ chế thi hành; từ đó, rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: