Thứ tư 11/03/2026 09:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XII) để đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh vào năm 2030

Với mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nhiều chủ trương và giải pháp quan trọng được đề ra trong Nghị quyết.

1. Mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Xác định rõ tiềm năng và thế mạnh của biển, đảo Việt Nam, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XII) đã xác định mục tiêu tổng quát: Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng; những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển.

Bên cạnh đó, mục tiêu cụ thể được xác định là xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế biển; xã hội, khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực biển; về môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Phấn đấu đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước, góp phần xây dựng nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương.

2. Chủ trương để phát triển bền vững kinh tế biển

Để phát triển bền vững kinh tế biển, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XII) đã xác định một số chủ trương lớn, cụ thể:

Thứ nhất, phát triển kinh tế biển và ven biển

- Phát triển các ngành kinh tế biển: Đến năm 2030, phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển theo thứ tự ưu tiên: (i) Du lịch và dịch vụ biển; (ii) Kinh tế hàng hải; (iii) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (iv) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (v) Công nghiệp ven biển; (vi) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới.

- Phát triển đồng bộ, từng bước hình thành khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị sinh thái ven biển: Tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái ven biển gắn với hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh; khu kinh tế ven biển phải đóng vai trò chủ đạo trong phát triển vùng và gắn kết liên vùng; đổi mới tư duy trong xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống đô thị ven biển có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại theo mô hình, tiêu chí tăng trưởng xanh, đô thị thông minh; đẩy nhanh xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển theo hướng tiếp cận mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái; giải quyết tốt vấn đề môi trường, xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

Thứ hai, phát triển các vùng biển dựa trên lợi thế về điều kiện tự nhiên, hài hòa giữa bảo tồn và phát triển

Chủ trương quy hoạch không gian biển theo các vùng bảo vệ - bảo tồn, vùng đệm và vùng phát triển kinh tế - xã hội để phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, bản sắc văn hóa, tính đa dạng của hệ sinh thái, bảo đảm tính liên kết vùng, giữa địa phương có biển và không có biển: Vùng biển và ven biển phía Bắc (Quảng Ninh - Ninh Bình); vùng biển và ven biển Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ (Thanh Hóa - Bình Thuận); vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ (Bà Rịa - Vũng Tàu – TP. Hồ Chí Minh); vùng biển và ven biển Tây Nam Bộ (Tiền Giang - Cà Mau - Kiên Giang).

Thứ ba, bảo vệ môi trường, bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học biển; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phòng, chống thiên tai

- Mở rộng diện tích, thành lập mới các khu vực bảo tồn biển trên cơ sở quy hoạch không gian biển quốc gia; chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái, đặc biệt là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển; bảo đảm tính toàn vẹn và mối quan hệ tự nhiên giữa các hệ sinh thái đất liền và biển.

- Xây dựng các tiêu chí, yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt theo chuẩn quốc tế về môi trường đối với các dự án đầu tư có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao khu vực ven biển; đầu tư xây dựng, củng cố lực lượng, trang thiết bị giám sát, cảnh báo tự động về chất lượng môi trường, ứng phó với sự cố môi trường, hoá chất độc hại trên biển; quản lý rác thải biển, nhất là rác thải nhựa; cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường biển.

- Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, động đất, sóng thần, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, đặc biệt là áp dụng các mô hình thông minh có khả năng thích ứng, chống chịu với thiên tai và tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu; đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống biển xâm thực, xói lở bờ biển, ngập lụt, xâm nhập mặn...

Thứ tư, nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng văn hoá biển, xã hội gắn bó, thân thiện với biển

Chú trọng nâng cao đời sống, bảo đảm an ninh, an toàn cho dân cư vùng ven biển, trên đảo và những người lao động trên biển; phát triển các thiết chế văn hoá cho cộng đồng dân cư biển và ven biển; phát huy bản sắc, giá trị lịch sử và văn hóa dân tộc, tri thức tốt đẹp trong ứng xử với biển, coi đây là nền tảng quan trọng để xây dựng văn hoá biển; bảo tồn không gian văn hóa, kiến trúc và di sản thiên nhiên; nâng cao nhận thức về biển và đại dương, xây dựng xã hội, ý thức, lối sống, hành vi văn hóa gắn bó, thân thiện với biển; phát huy tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng dân cư vùng biển, ven biển; bảo đảm quyền tiếp cận, tham gia, hưởng lợi và trách nhiệm của người dân đối với biển một cách công bằng, bình đẳng.

Thứ năm, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế

- Xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng chính quy, tinh nhuệ theo hướng hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng thực thi pháp luật trên biển; bảo đảm năng lực xử lý tốt các tình huống trên biển, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên các vùng biển; nâng cao năng lực ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng các vấn đề về biển, đảo để chống phá.

- Kiên trì xây dựng và duy trì môi trường hòa bình, ổn định và trật tự pháp lý trên biển, tạo cơ sở cho việc khai thác và sử dụng biển an toàn, hiệu quả; tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế, chủ động tham gia và đóng góp tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc bảo tồn, sử dụng bền vững biển và đại dương.

Bên cạnh đó, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XII) cũng nhấn mạnh đến một số khâu đột phá trong phát triển bền vững kinh tế biển, cụ thể: Hoàn thiện thể chế phát triển bền vững kinh tế biển, hoàn thiện cơ chế quản lý tổng hợp và thống nhất về biển, rà soát, điều chỉnh, bổ sung và lập mới các quy hoạch liên quan đến biển, bảo đảm tính liên kết, đồng bộ giữa các ngành, địa phương; phát triển khoa học, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực biển chất lượng cao; phát triển kết cấu hạ tầng đa mục tiêu, đồng bộ, mạng lưới giao thông kết nối các trung tâm kinh tế lớn của cả nước, các khu công nghiệp, khu đô thị, các vùng biển với các cảng biển dựa trên hệ sinh thái kinh tế và tự nhiên…

3. Một số giải pháp chủ yếu để phát triển bền vững kinh tế biển

Để phát triển bền vững kinh tế biển đạt được mục tiêu đã đề ra, cùng với việc phát huy những thành tựu đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém, việc phát triển kinh tế biển cần gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ quốc phòng, an ninh quốc gia, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển. Trong thời gian tới, theo Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XII), cần chú trọng tập trung vào một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển bền vững biển, tạo đồng thuận trong toàn xã hội, cụ thể: Nâng cao nhận thức, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện các chủ trương, giải pháp về phát triển bền vững kinh tế biển; nâng cao hiệu quả, đa dạng hóa các hình thức, nội dung tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam trong toàn hệ thống chính trị, trong nhân dân, đồng bào ta ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế; khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam là duy trì môi trường hòa bình, ổn định, tôn trọng luật pháp quốc tế trên biển; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức đoàn thể các cấp trong công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân giám sát và phản biện xã hội việc thực hiện Nghị quyết.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về phát triển bền vững kinh tế biển, cụ thể: Rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về biển theo hướng phát triển bền vững, bảo đảm tính khả thi, đồng bộ, thống nhất, phù hợp với chuẩn mực luật pháp và điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển từ trung ương đến địa phương bảo đảm hiện đại, đồng bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, chuyên môn cao; kiện toàn cơ quan điều phối liên ngành chỉ đạo thống nhất việc thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu; kiện toàn mô hình tổ chức, nâng cao năng lực quản lý các đảo, quần đảo và vùng ven biển; rà soát, bổ sung và xây dựng mới đồng bộ các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch liên quan đến biển, đảo theo hướng quản lý tổng hợp, phù hợp với hệ sinh thái biển, bảo đảm sự gắn kết hài hòa, đồng bộ giữa bảo tồn và phát triển các vùng đất liền, vùng ven bờ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Thứ ba, phát triển khoa học, công nghệ và tăng cường điều tra cơ bản biển, cụ thể: Thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến; đẩy mạnh nghiên cứu, xác lập luận cứ khoa học cho việc hoạch định, hoàn thiện chính sách, pháp luật về phát triển bền vững kinh tế biển; ưu tiên đầu tư cho công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực biển; hình thành các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học biển, khai thác đáy biển sâu, công nghệ vũ trụ trong giám sát biển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực; đánh giá tiềm năng và lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, hệ sinh thái và các ngành, lĩnh vực kinh tế biển như hàng hải, khai thác, nuôi trồng, chế biến thuỷ, hải sản, năng lượng tái tạo, thông tin và công nghệ số, sinh dược học biển, thiết bị tự vận hành ngầm…

Bên cạnh đó, xây dựng và thực hiện có hiệu quả Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; mở rộng nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong điều tra, nghiên cứu ở các vùng biển quốc tế. Đầu tư đội tàu nghiên cứu biển tiên tiến, thiết bị ngầm dưới biển có khả năng nghiên cứu ở các vùng biển sâu.

Thứ tư, đẩy mạnh giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực biển, cụ thể: Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, kiến thức, hiểu biết về biển, đại dương, kỹ năng sinh tồn, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, phòng, tránh thiên tai cho học sinh, sinh viên trong tất cả các bậc học, cấp học. Phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao phù hợp với nhu cầu thị trường; có cơ chế, chính sách đặc biệt thu hút nhân tài, từng bước hình thành đội ngũ các nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia đạt trình độ quốc tế, có chuyên môn sâu về biển và đại dương.

Ngoài ra, có cơ chế hỗ trợ, nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo nguồn nhân lực biển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu lao động của các ngành kinh tế biển và việc chuyển đổi nghề của người dân.

Thứ năm, tăng cường năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển, cụ thể: Hoàn thiện tổ chức các lực lượng bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển. Đầu tư trang thiết bị hiện đại, chú trọng đào tạo nhân lực, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và tăng cường khả năng hiệp đồng, tác chiến của các lực lượng tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đất nước. Xây dựng lực lượng công an khu vực ven biển, đảo, các khu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển vững mạnh, làm nòng cốt bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội vùng biển, đảo; nâng cao năng lực hoạt động của các lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ phòng, tránh và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, cứu nạn, cứu hộ, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng khu vực biển, đảo; bảo đảm an ninh, an toàn cho dân cư, người lao động và các hoạt động kinh tế khu vực biển; xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vùng biển, đảo.

Thứ sáu, chủ động tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, cụ thể: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; chủ động, nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền và các lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia trên biển, đồng thời chủ động, tích cực giải quyết, xử lý các tranh chấp, bất đồng trên Biển Đông bằng các biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tăng cường quan hệ với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các nước bạn bè truyền thống, các nước có tiềm lực về biển, các nước có chung lợi ích trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi và phù hợp với luật pháp quốc tế; phối hợp với các nước thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông, thúc đẩy ký Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông; thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế về quản lý, sử dụng, bảo tồn bền vững biển, đại dương; thực hiện nghiêm túc các điều ước, thỏa thuận khu vực và quốc tế về biển, đại dương mà Việt Nam đã tham gia; đẩy mạnh tham gia nghiên cứu khoa học, khảo sát, thăm dò, khai thác tài nguyên tại các vùng biển quốc tế.

Thứ bảy, huy động nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cho phát triển bền vững biển, xây dựng các tập đoàn kinh tế biển mạnh, cụ thể: Đẩy mạnh thu hút nguồn lực từ các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; chủ động thu hút các nhà đầu tư lớn, có công nghệ nguồn, trình độ quản lý tiên tiến từ các nước phát triển; ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước cho phát triển các huyện đảo, xã đảo tiền tiêu, xa bờ; xã hội hóa đầu tư kết cấu hạ tầng biển, đảo, các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển; khuyến khích phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các tập đoàn kinh tế biển mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh trên biển, đặc biệt là ở các vùng biển xa bờ, viễn dương; tiếp tục cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành kinh tế biển, bảo đảm nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh.

Minh Minh

Ảnh: vov.vn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát biểu của Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết tại Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII

Phát biểu của Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết tại Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tại Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII.
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật sinh hoạt chuyên đề về Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật sinh hoạt chuyên đề về Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị

Ngày 06/3/2026, tại tỉnh Bắc Ninh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp đã tổ chức sinh hoạt chuyên đề về Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong khuôn khổ chương trình, đoàn đã tổ chức sinh hoạt thực tế tại Nhà hát Dân ca quan họ Bắc Ninh.
Ngày hội của toàn dân - Cử tri cả nước sẵn sàng cho bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp

Ngày hội của toàn dân - Cử tri cả nước sẵn sàng cho bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp

Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đang bước vào giai đoạn cao điểm chuẩn bị, tạo nên không khí chính trị sôi nổi trên khắp cả nước. Đây là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong việc lựa chọn những đại biểu tiêu biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình.
Hội nghị Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp quý I/2026

Hội nghị Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp quý I/2026

Chiều 02/3/2026, Đoàn Thanh niên Cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đoàn Bộ lần thứ III (quý I/2026).
TS. Chu Mạnh Hùng: Kiến tạo chính sách vì Nhân dân, đồng hành cùng Tây Ninh phát triển bền vững

TS. Chu Mạnh Hùng: Kiến tạo chính sách vì Nhân dân, đồng hành cùng Tây Ninh phát triển bền vững

Ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 1, tỉnh Tây Ninh, TS. Chu Mạnh Hùng, Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Luật Hà Nội, nhấn mạnh định hướng hành động nếu được cử tri tín nhiệm: Giữ vững bản lĩnh, gần dân, lắng nghe dân và kiên trì theo đuổi mục tiêu xây dựng, giám sát chính sách lấy con người làm trung tâm, góp phần đưa Tây Ninh phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu tiếp xúc cử tri tại đơn vị bầu cử số 2, tỉnh Cà Mau:

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu tiếp xúc cử tri tại đơn vị bầu cử số 2, tỉnh Cà Mau: 'Khoảng cách địa lý không thể là khoảng cách trách nhiệm'

Ngày 2/3, tại Đảng ủy xã Cái Nước, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri với các ứng cử viên ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2026 - 2031. Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu trình bày chương trình hành động với cam kết hoàn thiện thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn phát triển, đồng hành cùng địa phương xây dựng Cà Mau phát triển nhanh, bền vững.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế

Nhân kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955-27/2/2026), Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài phát biểu khi đến thăm, chúc mừng ngành y tế và tập thể cán bộ, y bác sĩ và nhân viên Bệnh viện Hữu Nghị. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế được Tổng Bí thư nhấn mạnh là một trong bốn nhiệm vụ có ý nghĩa cấp thiết và chiến lược phát triển ngành y tế ngày càng cao hơn, nhân văn, hiện đại hơn. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Tăng cường

Tăng cường 'nội lực vật chất' và củng cố 'nội lực tinh thần'

Hai nghị quyết mới là sự bổ sung những quyết sách lớn của Đảng, được hình thành trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và phát triển tư duy lý luận trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, đồng thời giải quyết hai yêu cầu có tính nền tảng là tăng cường “nội lực vật chất” và củng cố “nội lực tinh thần”.
Chinh phục niềm tin của cử tri bằng tài năng, tâm huyết, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức

Chinh phục niềm tin của cử tri bằng tài năng, tâm huyết, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức

Theo danh sách chính thức những người ứng cử trong cả nước, có 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khoá XVI tại 182 đơn vị bầu cử trong cả nước để bầu 500 ĐBQH khóa XVI.
Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết 79 và Nghị quyết 80

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết 79 và Nghị quyết 80

Sáng 25/2, tại Hà Nội, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI thuộc khối Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI thuộc khối Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hội đồng Bầu cử Quốc gia vừa công bố danh sách chính thức 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI. Trong đó, khối Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam gồm 27 người ứng cử thuộc khối MTTQ Việt Nam và 9 người ứng cử thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố.
Danh sách chính thức ứng cử viên đại biểu Quốc hội Khoá XVI

Danh sách chính thức ứng cử viên đại biểu Quốc hội Khoá XVI

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn - Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia, vừa ký ban hành Nghị quyết số 151/NQ-HĐBCQG ngày 14/2/2026 công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Khoá XVI theo từng đơn vị trong cả nước.
Toàn hệ thống chính trị khẩn trương hoạt động trở lại bình thường ngay sau kỳ nghỉ Tết

Toàn hệ thống chính trị khẩn trương hoạt động trở lại bình thường ngay sau kỳ nghỉ Tết

Văn phòng Trung ương Đảng ban hành Công văn số 539-CV/VPTW về Kết luận của Ban Bí thư về tình hình tổ chức Tết Bính Ngọ 2026.
Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới

Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề: “Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới”.

Theo dõi chúng tôi trên: