Thứ sáu 23/10/2026 07:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vị thế thương hiệu nông sản Việt Nam cần phải nâng cao trên thị trường quốc tế

Đây là mục tiêu chung trong đề nghị xây dựng Nghị định xây dựng và phát triển nhãn hiệu, thương hiệu nông sản Việt Nam đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xin ý kiến góp ý đối với 04 chính sách đề xuất.

Trên thế giới hiện nay, nhiều quốc gia có nền nông nghiệp phát triển đã xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu nông sản quốc gia, góp phần định vị sản phẩm của các quốc gia trên thị trường quốc tế, thể hiện được ưu thế về chất lượng, uy tín và những giá trị về văn hóa; bảo vệ tài sản trí tuệ trên thị trường quốc tế trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh quyết liệt như hiện nay; nâng cao trách nhiệm và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nông sản trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Việt Nam là nước có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu nông sản. Trong những năm qua, xuất khẩu nông sản đã có bước phát triển nhanh, xuất khẩu tới trên 190 quốc gia và vùng lãnh thổ với kim ngạch năm 2023 đạt trên 53 tỷ USD. Bên cạnh đó, vấn đề xây dựng, đăng ký bảo hộ, phát triển nhãn hiệu, thương hiệu nông sản đã và đang được cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam xác định là một trong những vấn đề cốt lõi trong chiến lược phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nông nghiệp trên thị trường quốc tế.

Mặc dù có những thuận lợi như vậy nhưng vấn đề về xây dựng và đăng ký bảo hộ, phát triển nhãn hiệu, thương hiệu nông sản của nước ta cũng còn không ít khó khăn, bất cập. Hiện nay, Việt Nam chưa có thương hiệu nông sản mạnh cho dù đã có những chính sách về xây dựng, phát triển nhãn hiệu, thương hiệu hàng hóa bao gồm cả nông sản nhưng nhìn chung, các văn bản chỉ đạo, chính sách pháp luật hiện hành về vấn đề này còn chung chung, phân tán, chưa phù hợp với đặc thù của sản phẩm nông nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ lẻ, khó ổn định chất lượng. Đồng thời, trên thực tế, nhiều sản phẩm nông sản sau khi có nhãn hiệu được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ lại chưa được khai thác sử dụng, chưa phát huy được giá trị để phát triển thành thương hiệu.

Chính vì vậy, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nhãn hiệu và thương hiệu nông sản tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Việt Nam, bảo đảm thị trường phát triển minh bạch, lành mạnh, nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế, từ đó, góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm nông lâm thủy sản, tăng thu nhập cho nông dân, doanh nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị xây dựng Nghị định xây dựng và phát triển nhãn hiệu, thương hiệu nông sản Việt Nam với các chính sách được đề xuất như sau:

1. Chính sách 1 - Hỗ trợ chuẩn hóa quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản

Hiện nay, Việt Nam chưa xây dựng được nhãn hiệu, thương hiệu đủ mạnh cho các mặt hàng nông sản do một số nguyên nhân chính như: chưa chuẩn hóa quy trình sản xuất, chế biến, bao gói, vận chuyển, bảo quản, bày bán đặc thù làm cơ sở định hình và duy trì lâu dài phẩm cấp xác định của sản phẩm theo các tiêu chí nhận diện thương hiệu; chưa có vùng sản xuất tập trung để có nguồn nguyên liệu đủ lớn và ổn định về chất lượng gắn với mã số vùng nuôi trồng, truy xuất nguồn gốc làm cơ sở cung ứng hàng hóa thường xuyên, ổn định về khối lượng, chất lượng cho người tiêu dùng;... Do đó, Bộ Nông nghiệp và Pháp triển nông thôn đề xuất Chính sách Hỗ trợ chuẩn hóa quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản.

Để thực hiện được Chính sách này, cần thực hiện các giải pháp như sau:

Một là, nghiên cứu, xây dựng, đưa tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng đối với sản phẩm nông sản được chứng nhận nhãn hiệu, thương hiệu Việt Nam, vùng miền, địa phương.

Hai là, bổ sung sản xuất sản phẩm nông sản đạt nhãn hiệu nông sản Việt Nam; vùng miền là lĩnh vực được ưu tiên đối với các chính sách khuyến khích đầu tư nông nghiệp và nông thôn đã ban hành (kinh phí khoa học, khuyến nông; tín dụng, đất đai; các chính sách khác liên quan).

Ba là, bổ sung chính sách riêng, đặc thù cho đối tượng hợp tác xã, tổ hợp tác, hiệp hội, trang trại, hộ gia đình: quy định hỗ trợ 100% xây dựng mô hình sản xuất tập trung theo quy mô lớn (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y được phép sử dụng).

Khi Chính sách Hỗ trợ chuẩn hóa quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản được thực hiện sẽ có những tác động tích cực là tạo thuận lợi cho các tổ chức, cơ sở sản xuất ổn định về chất lượng, truy suất được nguồn gốc, xuất xứ; giảm chi phí giá thành sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm, nâng cao thu nhập cho người nông dân sản xuất nông nghiệp… Tuy nhiên, bên cạnh đó, Chính sách cũng có tác động không mong muốn như có thể xảy ra tình trạng một số bộ phận, tổ chức lợi dụng chính sách để trục lợi; tạo áp lực đối với công tác tổ chức giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm.

2. Chính sách 2 - Hỗ trợ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, thương hiệu nông sản ở trong và ngoài nước

Có thể thấy thực trạng ở Việt Nam hiện nay là nhận thức, hiểu biết của doanh nghiệp, kể cả nhà quản lý các cấp về luật pháp quốc tế cũng như của từng quốc gia, nhất là tại các quốc gia phát triển về sở hữu trí tuệ chưa đầy đủ, chính xác, dẫn đến tình trạng chưa đăng ký bảo hộ cho các nhãn hiệu, thương hiệu ở trong nước, đặc biệt là thị trường quốc tế, dẫn đến “sơ hở” bị doanh nghiệp tại nước ngoài lợi dụng, xâm phạm.

Trước thực trạng trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất Chính sách Hỗ trợ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, thương hiệu nông sản ở trong và ngoài nước nhằm hỗ trợ các tổ chức, cơ sở kinh doanh đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, thương hiệu nông sản ở trong và ngoài nước; thúc đẩy đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ, tránh bị xâm phạm, tranh chấp. Theo đó, kinh phí thực hiện chính sách được bảo đảm từ nguồn sự nghiệp khoa học và công nghệ phân bổ hàng năm; mức hỗ trợ kinh phí từ nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ dưới hình thức đề xuất thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ hàng năm.

Thực hiện giải pháp này sẽ khuyến khích, thúc đẩy đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ (nhãn hiệu, chỉ dẫn địa phương); tránh bị xâm phạm, tranh chấp trên thị trường. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý vấn đề bất lợi có thể phát sinh, đó là một số bộ phận tổ chức, cá nhân trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước cũng như giảm sự chủ động của chủ sở hữu trong việc bảo hộ tài sản trí tuệ đã tạo dựng.

3. Chính sách 3 - Hỗ trợ nâng cao năng lực cho các chủ sở hữu, đơn vị tổ chức quản lý sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu nông sản

Trên thực tế, nhiều sản phẩm nông sản sau khi có nhãn hiệu, thương hiệu được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ lại chưa được khai thác sử dụng. Bên cạnh đó, tổ chức quản lý và duy trì, gia hạn đăng ký bảo hộ tại thị trường trong nước và quốc tế còn gặp khó khăn về nguồn nhân lực và tài chính, dẫn đến chưa phát huy được giá trị để phát triển thành nhãn hiệu, thương hiệu nông sản mạnh. Do đó, nhằm nâng cao năng lực cho các tổ chức, hiệp hội, đơn vị quản lý và phát triển các nhãn hiệu, thương hiệu nông sản đã được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được duy trì, sử dụng hiệu quả trong thực tiễn; phát huy giá trị của nhãn hiệu và thương hiệu, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm nông sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất giải pháp khắc phục như sau: ngân sách trung ương, các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương và địa phương bố trí ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các chủ sở hữu kinh phí gia hạn bảo hộ nhãn hiệu nông sản ở trong nước; hỗ trợ cho các chủ sở hữu kinh phí gia hạn bảo hộ nhãn hiệu nông sản tại nước ngoài; hỗ trợ, bố trí kinh phí các chương trình tổ chức đào tạo, tập huấn, tư vấn, tuyên truyền, phổ biến.

Thực hiện điều này sẽ nâng cao năng lực cho các chủ sở hữu, đơn vị được giao quản lý và sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu nông sản; duy trì và sử dụng hiệu quả tài sản trí tuệ đã được bảo hộ. Tuy nhiên, cũng có thể phát sinh tiêu cực như một số bộ phận tổ chức, cá nhân trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước; không tự khai thác, huy động, phát triển nguồn lực nội tại.

4. Chính sách 4 - Hỗ trợ các chương trình truyền thông, quảng bá, phát triển thị trường

Một trong những nguyên nhân cản trở việc xây dựng thương hiệu mạnh của Việt Nam là chúng ta chưa tổ chức thường xuyên, bảo đảm cả về quy mô và tần suất; chưa có nguồn ngân sách được bố trí riêng, đặc thù cho các chương trình truyền thông, quảng bá, phát triển thị trường cho các sản phẩm mang nhãn hiệu, thương hiệu nông sản Việt Nam và vùng, miền, địa phương. Chính vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất Chính sách Hỗ trợ các chương trình truyền thông, quảng bá, phát triển thị trường. Theo đó, hàng năm, ngân sách trung ương, các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương và địa phương cần phải ưu tiên bố trí kinh phí tổ chức các chương trình truyền thông, quảng bá, phát triển thị trường trong nước và quốc tế; hỗ trợ, bố trí kinh phí các chương trình tư vấn, kết nối, phát triển thị trường tiêu thụ trong nước và quốc tế.

Uyên Nhi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).

Theo dõi chúng tôi trên: