Thứ tư 20/05/2026 08:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vị thế thương hiệu nông sản Việt Nam cần phải nâng cao trên thị trường quốc tế

Đây là mục tiêu chung trong đề nghị xây dựng Nghị định xây dựng và phát triển nhãn hiệu, thương hiệu nông sản Việt Nam đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xin ý kiến góp ý đối với 04 chính sách đề xuất.

Trên thế giới hiện nay, nhiều quốc gia có nền nông nghiệp phát triển đã xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu nông sản quốc gia, góp phần định vị sản phẩm của các quốc gia trên thị trường quốc tế, thể hiện được ưu thế về chất lượng, uy tín và những giá trị về văn hóa; bảo vệ tài sản trí tuệ trên thị trường quốc tế trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh quyết liệt như hiện nay; nâng cao trách nhiệm và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nông sản trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Việt Nam là nước có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu nông sản. Trong những năm qua, xuất khẩu nông sản đã có bước phát triển nhanh, xuất khẩu tới trên 190 quốc gia và vùng lãnh thổ với kim ngạch năm 2023 đạt trên 53 tỷ USD. Bên cạnh đó, vấn đề xây dựng, đăng ký bảo hộ, phát triển nhãn hiệu, thương hiệu nông sản đã và đang được cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam xác định là một trong những vấn đề cốt lõi trong chiến lược phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nông nghiệp trên thị trường quốc tế.

Mặc dù có những thuận lợi như vậy nhưng vấn đề về xây dựng và đăng ký bảo hộ, phát triển nhãn hiệu, thương hiệu nông sản của nước ta cũng còn không ít khó khăn, bất cập. Hiện nay, Việt Nam chưa có thương hiệu nông sản mạnh cho dù đã có những chính sách về xây dựng, phát triển nhãn hiệu, thương hiệu hàng hóa bao gồm cả nông sản nhưng nhìn chung, các văn bản chỉ đạo, chính sách pháp luật hiện hành về vấn đề này còn chung chung, phân tán, chưa phù hợp với đặc thù của sản phẩm nông nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ lẻ, khó ổn định chất lượng. Đồng thời, trên thực tế, nhiều sản phẩm nông sản sau khi có nhãn hiệu được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ lại chưa được khai thác sử dụng, chưa phát huy được giá trị để phát triển thành thương hiệu.

Chính vì vậy, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nhãn hiệu và thương hiệu nông sản tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Việt Nam, bảo đảm thị trường phát triển minh bạch, lành mạnh, nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế, từ đó, góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm nông lâm thủy sản, tăng thu nhập cho nông dân, doanh nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị xây dựng Nghị định xây dựng và phát triển nhãn hiệu, thương hiệu nông sản Việt Nam với các chính sách được đề xuất như sau:

1. Chính sách 1 - Hỗ trợ chuẩn hóa quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản

Hiện nay, Việt Nam chưa xây dựng được nhãn hiệu, thương hiệu đủ mạnh cho các mặt hàng nông sản do một số nguyên nhân chính như: chưa chuẩn hóa quy trình sản xuất, chế biến, bao gói, vận chuyển, bảo quản, bày bán đặc thù làm cơ sở định hình và duy trì lâu dài phẩm cấp xác định của sản phẩm theo các tiêu chí nhận diện thương hiệu; chưa có vùng sản xuất tập trung để có nguồn nguyên liệu đủ lớn và ổn định về chất lượng gắn với mã số vùng nuôi trồng, truy xuất nguồn gốc làm cơ sở cung ứng hàng hóa thường xuyên, ổn định về khối lượng, chất lượng cho người tiêu dùng;... Do đó, Bộ Nông nghiệp và Pháp triển nông thôn đề xuất Chính sách Hỗ trợ chuẩn hóa quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản.

Để thực hiện được Chính sách này, cần thực hiện các giải pháp như sau:

Một là, nghiên cứu, xây dựng, đưa tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng đối với sản phẩm nông sản được chứng nhận nhãn hiệu, thương hiệu Việt Nam, vùng miền, địa phương.

Hai là, bổ sung sản xuất sản phẩm nông sản đạt nhãn hiệu nông sản Việt Nam; vùng miền là lĩnh vực được ưu tiên đối với các chính sách khuyến khích đầu tư nông nghiệp và nông thôn đã ban hành (kinh phí khoa học, khuyến nông; tín dụng, đất đai; các chính sách khác liên quan).

Ba là, bổ sung chính sách riêng, đặc thù cho đối tượng hợp tác xã, tổ hợp tác, hiệp hội, trang trại, hộ gia đình: quy định hỗ trợ 100% xây dựng mô hình sản xuất tập trung theo quy mô lớn (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y được phép sử dụng).

Khi Chính sách Hỗ trợ chuẩn hóa quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản được thực hiện sẽ có những tác động tích cực là tạo thuận lợi cho các tổ chức, cơ sở sản xuất ổn định về chất lượng, truy suất được nguồn gốc, xuất xứ; giảm chi phí giá thành sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm, nâng cao thu nhập cho người nông dân sản xuất nông nghiệp… Tuy nhiên, bên cạnh đó, Chính sách cũng có tác động không mong muốn như có thể xảy ra tình trạng một số bộ phận, tổ chức lợi dụng chính sách để trục lợi; tạo áp lực đối với công tác tổ chức giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm.

2. Chính sách 2 - Hỗ trợ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, thương hiệu nông sản ở trong và ngoài nước

Có thể thấy thực trạng ở Việt Nam hiện nay là nhận thức, hiểu biết của doanh nghiệp, kể cả nhà quản lý các cấp về luật pháp quốc tế cũng như của từng quốc gia, nhất là tại các quốc gia phát triển về sở hữu trí tuệ chưa đầy đủ, chính xác, dẫn đến tình trạng chưa đăng ký bảo hộ cho các nhãn hiệu, thương hiệu ở trong nước, đặc biệt là thị trường quốc tế, dẫn đến “sơ hở” bị doanh nghiệp tại nước ngoài lợi dụng, xâm phạm.

Trước thực trạng trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất Chính sách Hỗ trợ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, thương hiệu nông sản ở trong và ngoài nước nhằm hỗ trợ các tổ chức, cơ sở kinh doanh đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, thương hiệu nông sản ở trong và ngoài nước; thúc đẩy đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ, tránh bị xâm phạm, tranh chấp. Theo đó, kinh phí thực hiện chính sách được bảo đảm từ nguồn sự nghiệp khoa học và công nghệ phân bổ hàng năm; mức hỗ trợ kinh phí từ nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ dưới hình thức đề xuất thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ hàng năm.

Thực hiện giải pháp này sẽ khuyến khích, thúc đẩy đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ (nhãn hiệu, chỉ dẫn địa phương); tránh bị xâm phạm, tranh chấp trên thị trường. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý vấn đề bất lợi có thể phát sinh, đó là một số bộ phận tổ chức, cá nhân trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước cũng như giảm sự chủ động của chủ sở hữu trong việc bảo hộ tài sản trí tuệ đã tạo dựng.

3. Chính sách 3 - Hỗ trợ nâng cao năng lực cho các chủ sở hữu, đơn vị tổ chức quản lý sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu nông sản

Trên thực tế, nhiều sản phẩm nông sản sau khi có nhãn hiệu, thương hiệu được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ lại chưa được khai thác sử dụng. Bên cạnh đó, tổ chức quản lý và duy trì, gia hạn đăng ký bảo hộ tại thị trường trong nước và quốc tế còn gặp khó khăn về nguồn nhân lực và tài chính, dẫn đến chưa phát huy được giá trị để phát triển thành nhãn hiệu, thương hiệu nông sản mạnh. Do đó, nhằm nâng cao năng lực cho các tổ chức, hiệp hội, đơn vị quản lý và phát triển các nhãn hiệu, thương hiệu nông sản đã được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được duy trì, sử dụng hiệu quả trong thực tiễn; phát huy giá trị của nhãn hiệu và thương hiệu, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm nông sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất giải pháp khắc phục như sau: ngân sách trung ương, các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương và địa phương bố trí ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các chủ sở hữu kinh phí gia hạn bảo hộ nhãn hiệu nông sản ở trong nước; hỗ trợ cho các chủ sở hữu kinh phí gia hạn bảo hộ nhãn hiệu nông sản tại nước ngoài; hỗ trợ, bố trí kinh phí các chương trình tổ chức đào tạo, tập huấn, tư vấn, tuyên truyền, phổ biến.

Thực hiện điều này sẽ nâng cao năng lực cho các chủ sở hữu, đơn vị được giao quản lý và sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu nông sản; duy trì và sử dụng hiệu quả tài sản trí tuệ đã được bảo hộ. Tuy nhiên, cũng có thể phát sinh tiêu cực như một số bộ phận tổ chức, cá nhân trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước; không tự khai thác, huy động, phát triển nguồn lực nội tại.

4. Chính sách 4 - Hỗ trợ các chương trình truyền thông, quảng bá, phát triển thị trường

Một trong những nguyên nhân cản trở việc xây dựng thương hiệu mạnh của Việt Nam là chúng ta chưa tổ chức thường xuyên, bảo đảm cả về quy mô và tần suất; chưa có nguồn ngân sách được bố trí riêng, đặc thù cho các chương trình truyền thông, quảng bá, phát triển thị trường cho các sản phẩm mang nhãn hiệu, thương hiệu nông sản Việt Nam và vùng, miền, địa phương. Chính vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất Chính sách Hỗ trợ các chương trình truyền thông, quảng bá, phát triển thị trường. Theo đó, hàng năm, ngân sách trung ương, các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương và địa phương cần phải ưu tiên bố trí kinh phí tổ chức các chương trình truyền thông, quảng bá, phát triển thị trường trong nước và quốc tế; hỗ trợ, bố trí kinh phí các chương trình tư vấn, kết nối, phát triển thị trường tiêu thụ trong nước và quốc tế.

Uyên Nhi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Theo dõi chúng tôi trên: