Thứ bảy 06/12/2025 03:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Để có một thành phố, một đô thị đáng sống, cần khống chế mật độ dân cư

Nhân đọc bài: “Thưa Giáo sư Đặng Hùng Võ, ông có “nói đùa” không đấy” của nhà báo Bùi Hoàng Tám[1] - Đăng tải trên Báo Dân trí điện tử ngày 28/11/2019, tôi (tác giả bài viết) xin viết lên những suy nghĩ của mình liên quan tới bài báo.


Trong bài báo của mình, nhà báo Bùi Hoàng Tám bình luận ý “tăng thuế để hạn chế dân di cư vào Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh” của Giáo sư Đặng Hùng Võ trên báo Thanh niên ngày 22/11/2019[2] sau Hội thảo “Quản lý đất đai và phương hướng sử dụng đất hiệu quả trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”.

Trước hết, giống như tác giả bài báo, tôi cũng là dân “ngoại đạo”, không phải là chuyên gia quy hoạch hoặc chuyên gia kinh tế nên những nội dung trong bài viết này nằm trong giới hạn hiểu biết và nghiên cứu của cá nhân tôi.

Theo tôi, để hạn chế cư dân trong một vùng lãnh thổ, biểu hiện bằng mật độ dân cư, là một điều cần thiết khách quan, tôi tạm quy các lý do khách quan vào 04 yếu tố sau:

Một là, yếu tố sinh học: Chẳng hạn, con người cần một lượng không khí sạch, một không gian tối thiểu, cần được đáp ứng nhu cầu sinh hoạt… tối thiểu để sống. Các khả năng đó tỷ lệ nghịch với mật độ dân cư. Mặt khác, với mức độ ô nhiễm thấp, thiên nhiên có khả năng tự thanh lọc, nhưng đến một ngưỡng nào đó thì khả năng đó bị triệt tiêu. Lứa tuổi của tôi may mắn được chứng kiến hai thời kỳ: Thời kỳ ao hồ, mương lạch vẫn tồn tại ở thành phố, ở nông thôn trong xanh, mát mẻ, bởi khi ấy lượng chất thải xả vào nước ít đủ để thanh lọc tự nhiên. Còn ngày nay, cả thành thị và nông thôn đã có nhiều thay đổi.

Hai là, yếu tố quản lý: Bộ máy nhà nước sẽ phát huy hiệu quả cao nhất với một mật độ dân số thích hợp. Trong thời đại ngày nay, có sự hỗ trợ của công nghệ tin học, trí tuệ nhân tạo… với ngôi nhà thông minh, thành phố thông minh, năng lực quản lý của bộ máy nhà nước có được nâng lên nhưng không thể là vô hạn và càng không thể loại bỏ được các yếu tố sinh học, xã hội cũng như các yếu tố khác.

Ba là, yếu tố kinh tế: Ở đô thị người dân dễ kiếm sống hơn ở nông thôn “giàu nhà quê không bằng ngồi lê thành phố”. Mật độ càng đông thì người ta càng dễ sống dựa vào nhau. Nhưng ngược lại, mật độ dân số càng cao thì tỷ lệ giữa số người trực tiếp làm ra của cải vật chất và số người làm dịch vụ càng thấp, điều đó có nghĩa là tiềm lực kinh tế của Nhà nước càng yếu đi. Điều đó sẽ ảnh hưởng trở lại, ảnh hưởng gián tiếp tới người dân.

Bốn là, yếu tố văn hóa, tinh thần: Sống trên sa mạc thì cô đơn, nhưng đông người quá, ra đụng nhau, vào đụng nhau, nhích từng bước trên đoạn đường ùn, tắc… thì khó đem lại tâm trạng thoải mái, thanh thản được. Hay một công trình văn hóa, kiến trúc dù đẹp đến mấy mà “nhét” vào một không gian chật trội thì cũng phát huy được vẻ đẹp...

Nhưng cũng phải nói rằng, mật độ dân số cao cũng có những “mặt lợi”, chẳng hạn, đứng về phía Nhà nước: Tiết kiệm diện tích đất phi nông nghiệp (tất nhiên điều này cũng có mặt hại của nó), tiết kiệm chi phí cơ sở hạ tầng (điện, đường, nước..) chi phí giao thông công cộng… Đứng về phía người dân: Kiếm sống dễ hơn, tiếp cận với văn hóa, khoa học... thuận tiện hơn,... Nhưng tổng hợp lại, tôi cho rằng vẫn cần xem mật độ dân cư (bao nhiêu là do các nhà khoa học tính toán, cân nhắc) là căn cứ khoa học chủ yếu để định hướng, hoạch định chính sách, quy hoạch phân bố dân cư, phân vùng kinh tế, xã hội. Bởi vì:

Về phía Nhà nước: Phân bố dân cư đồng đều, hợp lý tạo tiền đề để khai thác hết thế mạnh của các vùng miền, xóa khoảng cách giữa các vùng miền, góp phần phát triển kinh tế của đất nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng.

Về phía người dân: Phân bố dân cư đồng đều, phát triển thế mạnh, vẻ đẹp riêng, nét độc đáo, kỳ thú riêng của mỗi vùng, người vùng này tham quan, du lịch vùng khác sẽ hơn là cả đời chỉ ngắm Hồ Gươm, Hồ Tây… Nếu nhìn xa hơn ta sẽ thấy, “bám” được vào thiên nhiên, có môi trường trong lành, đó là cái gốc để xây dựng những thành phố, những đô thị đáng sống.

Chúng ta cần hiểu đúng đắn về đô thị hóa. Đô thị hóa là biện pháp để nâng đời sống nông thôn văn minh hơn. Nhưng đô thị hóa không có nghĩa là thu hút dân vào các đô thị hiện có mà là tổ chức đời sống đô thị ở ngoài đô thị hiện tại, là xây dựng, phát triển đời sống đô thị theo kiểu “da báo” trên khắp cả nước.

Vậy phải giải thích thế nào về ba điểm nhà báo đã nêu ra: Quả thật đây là vấn đề phức tạp vì nó liên quan đến chính trị, quan điểm, cách tiếp cận vấn đề, nhận thức...

Chẳng hạn, trong bài viết đăng tải trên Báo điện tử Dân trí, tác giả cho rằng “việc dân cư dồn vào các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa… là một xu hướng tất yếu và tốt. “Đất lành, chim đậu”, “Nước dồn chỗ trũng”, nó thể hiện sức hấp dẫn về môi trường và điều kiện sống của các đô thị này”. Tôi lại có suy nghĩ khác, đất nước ta, mỗi nơi có một vẻ đẹp riêng, thế mạnh riêng: Hà Nội có Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm thì Lào Cai có Sa Pa, Hà Giang có Mã Pì Lèng... hay có thể nói vui với nhau là “không có phụ nữ xấu mà chỉ có phụ nữ không biết làm đẹp”.

Ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore tập trung phân nửa số dân vào thủ đô, toàn bộ dân vào một thành phố. Làm thế, chưa hẳn họ đã dựa trên cơ sở khoa học mà có thể vì phải ngả theo yêu cầu chính trị, đáp ứng đòi hỏi trước mắt của nhân dân nước họ. Với chúng ta, Nhà nước chủ trương phải khống chế mật độ dân số đô thị, quy hoạch chung thủ đô Hà Nội tầm nhìn đến năm 2050: 04 quận lõi trung tâm thành phố là 33.300 người/km2, các đô thị khác 10.000 người/km2. Sở dĩ như vậy vì về tầm nhìn, có một quy luật có thể tạm gọi là “quy luật tầm nhìn”: Nhìn vật ở gần thì to, ở xa thì nhỏ. Nếu không tỉnh táo, người ta sẽ chỉ thấy vật ở gần. Minh chứng cho điều này có vô vàn, chẳng hạn việc sử dụng đồ nhựa, túi ni lông. Ai cũng biết hậu quả của đồ nhựa, túi ni lông là rất khủng khiếp, nhưng rất khó tẩy chay nó vì nó vô cùng tiện ích mà lợi nhuận nó mang lại rất cao hoặc thuốc lá có hại cho sức khỏe nhưng nước nào cũng cho sản xuất…

Vấn đề thứ ba mà bài báo nêu lên là quyền tự do cư trú được quy định trong Hiến pháp. Đây là những chế định mang tính chất chính trị, cương lĩnh. Hiển nhiên công dân có quyền cân nhắc, tự lựa chọn ở thành phố hoặc bất kỳ ở đâu nhưng chính cuộc sống chứ không phải Hiến pháp sẽ hướng dẫn sự lựa chọn của họ. Chẳng hạn ở Úc, xu hướng rời bỏ thành phố lớn để sống ở các vùng ngoại ô ngày càng tăng[3]. Ở Trung Quốc, có người chán thành phố ngột ngạt, có người về quê sống trong ngôi nhà tuyệt đẹp giữa rừng cây[4]. Ở Việt Nam cũng vậy, có người bỏ thành phố lên núi, dựng nhà[5].

Vậy để giảm mật độ dân số cho Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta phải làm thế nào?

Để quản lý xã hội, Nhà nước có nhiều biện pháp: Giáo dục, thuyết phục, hành chính, tổ chức, kinh tế. Rõ ràng, trường hợp này phải loại bỏ phương pháp hành chính, còn:

- Phương pháp giáo dục, thuyết phục là để công dân giác ngộ, tự nguyện theo hướng dẫn của Nhà nước. Có nhiều hình thức giáo dục, thuyết phục: Dùng truyền thông, báo chí tuyên truyền, phân tích, lấy dẫn chứng khoa học, thực tiễn để người dân thấy rằng tăng mật độ dân số sẽ biến “đất lành” thành “đất dữ”, để người dân tìm được nơi ở tốt nhất cho mình. Tình trạng hạ tầng kém đi (do mật độ dân cư tăng, ô nhiễm không khí, ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông…) rõ ràng đã tác động đến lựa chọn của người dân như dẫn chứng trên đây.

- Phương pháp kinh tế: Cũng có nhiều hình thức. Dùng hàng rào kỹ thuật (như tăng thuế) cũng là một hình thức. Xây dựng các khu định cư hấp dẫn, thậm chí trợ cấp cho dân để khuyến khích họ di chuyển chỗ ở, đào tạo nghề, tạo việc làm cho di dân…

- Phương pháp tổ chức: Những phương pháp trên nói riêng và những chủ trương của Nhà nước nói chung phải được Nhà nước tổ chức thực hiện trên cơ sở khoa học, nghệ thuật tổ chức.

Chủ trương xây dựng 05 đô thị vệ tinh của Hà Nội là một chủ trương rất khoa học, rất đúng đắn nhằm giảm mật độ dân cư ở trung tâm Hà Nội.

Tuy vậy, việc giải tỏa mật độ dân số nói chung và triển khai Quy hoạch chung thủ đô Hà Nội nói riêng, vẫn còn ách tắc. Nguyên nhân có thể là chúng ta chưa kết hợp nhuần nhuyễn ba phương pháp quản lý trên đây và chưa gỡ được nút thắt chính là căn bệnh “tầm nhìn gần”: Nhà đầu tư không thỏa mãn về lợi nhuận khi đầu tư vào những dự án này, đầu tư vào đây lợi nhuận thấp hơn nhiều so với đầu tư vào những mảnh đất vàng ở trung tâm Hà Nội. Cho nên, Nhà nước và cả xã hội (với những người quan tâm) vẫn cần nỗ lực hơn nữa để khống chế mật độ dân cư đô thị hợp lý nhất./.

Nguyễn Văn Hoan


[1] https://dantri.com.vn/blog/thua-giao-su-dang-hung-vo-ong-co-noi-dua-khong-day-20191128015758643.htm.

[2] https://thanhnien.vn/thoi-su/gs-dang-hung-vo-can-co-chinh-sach-moi-hop-ly-ve-dat-dai-1151183.html.

[3] https://alouc.com/tin-nuoc-uc/uc-xu-huong-roi-bo-thanh-pho-lon-de-song-o-cac-vung-ngoai-o-ngay-cang-tang.

[4] https://dantri.com.vn/song-xanh/chan-thanh-pho-ngot-ngat-7-co-gai-ru-nhau-ve-que-song-trong-ngoi-nha-tuyet-dep-giua-rung-cay-20191205105525643.htm.

[5] https://dantri.com.vn/song-xanh/bo-thanh-pho-len-nui-doi-vo-chong-ha-noi-dung-nha-container-gia-3-ty-dong-20191208105337678.htm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Trị hiện nay

Một số giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Trị hiện nay

Quảng Trị là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung bộ, là địa phương chịu hậu quả nặng nề của hai cuộc chiến tranh và thiên tai khắc nghiệt, là địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số Bru - Vân Kiều, Tà Ôi. Quảng Trị có hơn 183.000 trẻ em dưới 16 tuổi (chiếm 30% dân số), có trên 20.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, trong đó, có khoảng 34.000 trẻ em sống ở vùng miền núi, dân tộc thiểu số .

Một số kết quả nổi bật trong công tác hòa giải ở cơ sở 06 tháng đầu năm 2023 trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trong 06 tháng đầu năm 2023, toàn thành phố Hà Nội đã hòa giải thành công 1.334/1.544 vụ việc, đạt tỷ lệ 86,4%, đáp ứng nhu cầu công tác hòa giải ở cơ sở, nhờ đó góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại các địa bàn dân cư.

Nâng cao hiệu quả thực hiện Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” từ thực tiễn Hà Nội

Thực hiện Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” (Đề án 06), ngày 17/02/2022, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 54/KH-UBND tổ chức triển khai thực hiện trên toàn Thành phố

Hiệu quả hoạt động và phối hợp trong công tác trợ giúp pháp lý tại tỉnh Tây Ninh

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 được thông qua với nhiều nội dung mới nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác trợ giúp pháp lý. Xác định được tầm quan trọng đó, ngay từ khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có hiệu lực

Thực trạng nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý tại tỉnh Đồng Tháp

Triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, trong những năm qua, Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức triển khai có hiệu quả các quy định pháp luật về trợ giúp pháp lý, trong đó tập trung nguồn lực thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả vụ việc trợ giúp pháp lý,...

Kết quả 05 năm thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 ra đời, khắc phục triệt để những vấn đề tồn tại trong công tác trợ giúp pháp lý, tạo bước đột phá trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý, đánh dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế công tác trợ giúp pháp lý.

Vị trí, vai trò của trợ giúp viên pháp lý trên địa bàn Thành phố Hà Nội - Thực trạng và giải pháp

Là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của cả nước, dân số của Thành phố Hà Nội cao thứ hai trong cả nước (khoảng 8,3 triệu người) với nhiều thành phần dân cư, lao động từ các địa phương khác tập trung về.

Một số kết quả nổi bật công tác tư pháp 06 tháng đầu năm trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Năm 2022, Thành phố Hà Nội xây dựng chủ đề công tác: “Kỷ cương, trách nhiệm, hành động, sáng tạo, phát triển”. Triển khai thực hiện chủ đề công tác trên, trong 06 tháng đầu năm Ngành Tư pháp Thủ đô đã triển khai thống nhất, đồng bộ trên các lĩnh vực công tác và cơ bản hoàn thành những nhiệm vụ đã đề ra, cụ thể như sau:

Bấp cập trong việc thực hiện quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 16/6/2020 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021. Việc thông qua Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án có ý nghĩa quan trọng, giúp cho các bên đương sự tự thỏa thuận, giải quyết toàn bộ vụ việc trên nguyên tắc tự nguyện, chia sẻ, đồng cảm với nhau; hàn gắn tình cảm, giữ mối quan hệ tình cảm giữa các đương sự, tình làng, nghĩa xóm và góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Nghệ An: Điểm sáng trong công tác thi hành án hành chính

Thi hành án nói chung là hoạt động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được thi hành trên thực tế; bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần ổn định an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Xét một cách tổng thể, trải qua các giai đoạn phát triển của đất nước, đặc biệt là trong những năm gần đây, công tác thi hành án nói chung và thi hành án dân sự, hành chính nói riêng đã đạt được nhiều kết quả, được Đảng và Nhà nước ghi nhận, từng bước tạo được niềm tin của người dân, doanh nghiệp đối với các cơ quan nhà nước. Trong những thành quả chung đó có sự đóng góp không nhỏ của công tác thi hành án chính.

Thực tiễn thi hành pháp luật về đấu giá tài sản tại Nam Định

Từ trước và sau khi Luật Đấu giá tài sản năm 2016 được ban hành, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định đã chỉ đạo triển khai thi hành các văn bản quy phạm pháp luật về đấu giá tài sản và tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.

Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên triển khai đồng bộ nhiều giải pháp theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại tạo sự hài lòng của tổ chức, công dân tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính

Trong thời gian qua, được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, tập thể lãnh đạo Sở Tư pháp, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính (Bộ phận Một cửa) thuộc Văn phòng Sở đã nỗ lực triển khai nhiều giải pháp, cách làm sáng tạo, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đơn vị và địa phương, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ các dịch vụ công cho cá nhân, tổ chức trên địa bàn tỉnh.

Cần bổ sung đối tượng được xét miễn nghĩa vụ thi hành án phần án phí

Quy định về xét miễn nghĩa vụ thi hành án dân sự cho người phải thi hành án đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành án, đã góp phần giải quyết tình trạng án tồn đọng, đồng thời, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người phải thi hành án.

Một số dạng vi phạm điển hình trong thực tiễn công tác kiểm sát thi hành án dân sự tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, đặc biệt là Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự được ban hành, tiếp tục hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự (THADS), tạo cơ sở pháp lý cho sự chuyển biến cơ bản, bền vững, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác THADS, theo đó, bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành. Để bảo đảm cho các bản án, quyết định được thi hành đầy đủ, kịp thời, đúng pháp luật, hạn chế vi phạm và tội phạm xảy ra trong lĩnh vực THADS, Ngành Kiểm sát được Quốc hội giao chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực THADS.

Thi hành án dân sự tại tỉnh Tiền Giang - Thực trạng và giải pháp

Bài viết dựa trên các quy định pháp luật liên quan đến công tác thi hành án dân sự; đồng thời tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. Từ đó, bài viết đề cập đến những kết quả, hạn chế, và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động THADS trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.

Theo dõi chúng tôi trên: