Thứ năm 25/06/2026 11:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh tế ban đêm - Nhận diện và đề xuất hoàn thiện chính sách, pháp luật trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam

Kinh tế ban đêm (night - time economy) không phải là vấn đề mới đối với nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam. Sự phát triển của kinh tế ban đêm như một tất yếu trong quá trình vận hành của nền kinh tế. Bài viết phân tích các khía cạnh nhận diện kinh tế ban đêm cũng như thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay điều chỉnh vấn đề này, từ đó, đưa ra các kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật điều chỉnh kinh tế ban đêm hướng đến phát triển bền vững.

1. Đặt vấn đề

Kinh tế ban đêm được ghi nhận ra đời từ giữa những năm thuộc nửa cuối thế kỷ XX[1]. Khi đó, kinh tế ban đêm được gọi theo nhiều thuật ngữ khác nhau nhưng phổ biến và sau này được sử dụng thống nhất là “night - time economy”. Tại Việt Nam, nhiều con phố đêm đã hình thành và phát triển nhanh chóng, đặc biệt gắn với hoạt động du lịch. Bên cạnh sự đóng góp về góc độ kinh tế thì những tác động tích cực như lan truyền nét đẹp văn hóa truyền thống, tận dụng nguồn lực lao động… cũng đã minh chứng cho thấy tầm quan trọng của kinh tế ban đêm. Chính vì lẽ đó, ngày 27/7/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1129/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam (sau đây gọi tắt là Quyết định số 1129/QĐ-TTg) cho thấy định hướng rõ nét về việc duy trì, phát triển kinh tế ban đêm song hành cùng với kinh tế truyền thống diễn ra vào ban ngày. Tuy nhiên, một sự phát triển mạnh mẽ, ổn định, bền vững phải được xây dựng trên nền tảng nhận diện rõ nét bản chất của kinh tế ban đêm cũng như xây dựng hệ thống đồng bộ từ chính sách cho đến pháp luật điều chỉnh các hoạt động của loại hình kinh tế này.

2. Khái quát chung về kinh tế ban đêm

Trước khi đưa ra được định nghĩa về kinh tế ban đêm, cần xem xét các quan niệm khác nhau về kinh tế ban đêm.

Trong bài viết “Cities and the Night - time Economy”, kinh tế ban đêm không được tác giả đưa ra một khái niệm cụ thể nhưng các nhà nghiên cứu đi sâu vào nhận diện những hoạt động được thực hiện trong hoạt động kinh tế này với câu hỏi: “Cái gì được thực hiện đối với kinh tế ban đêm?”[2]. Các tác giả đã khẳng định ngay đó là các lễ hội. Tại các lễ hội này, các hoạt động văn hóa mang đầy đủ màu sắc hướng đến cho các cá nhân khi tham gia kinh tế ban đêm sẽ luôn “ấn tượng” với các dấu hiệu như đời sống sôi động của các thành phố, các hoạt động văn hóa, sự quảng bá cho đời sống nội thị, sự vui chơi, sự hòa nhập xã hội, sự gặp gỡ, sự giao lưu giữa con người với con người và con người với văn hóa tại nơi có kinh tế ban đêm đó. Đặc biệt hơn tất cả, những lễ hội, những hoạt động sôi nổi này chỉ diễn ra khi màn đêm buông xuống. Quan niệm này được đưa ra trong bối cảnh những năm cuối của thế kỷ XX, thế nên, hình thái, dấu hiệu của kinh tế ban đêm trong thời điểm này có sự khác biệt so với thời điểm hiện nay.

Trong cuốn hướng dẫn bổ sung quy hoạch về “Văn hóa và kinh tế ban đêm”[3] của thành phố London (Vương quốc Anh), quan niệm về kinh tế ban đêm không được đưa ra cụ thể nhưng Lời tựa của Thị trưởng thành phố đã nhấn mạnh về thành phố London với hoạt động “24 giờ” cho thấy đời sống, nền kinh tế vận hành không có giây phút nghỉ, không có khái niệm “ngày làm, đêm nghỉ ngơi” hay ngược lại. Quan trọng hơn, khi nói đến sự phát triển kinh tế ban đêm, Thị trưởng thành phố nhấn mạnh đến chính sách phát triển ổn định và thúc đẩy sự “giàu có văn hóa” của London vào kinh tế ban đêm. Các khía cạnh được nhấn mạnh như các nhà hàng, khu chợ ẩm thực, phòng tập thể dục, cửa hàng gội đầu, cắt tóc, thư viện, bảo tàng đều là các cấu thành nên đời sống ban đêm tại London. Đối tượng chính thụ hưởng đời sống ban đêm ngoài chính cư dân của London còn là khách du lịch - những người đến và dừng lại tại London có thể vì nhiều mục đích khác nhau. Trong cuốn hướng dẫn này, mục tiêu của đời sống ban đêm được nhấn mạnh qua việc trích dẫn quan điểm của Phillip Kolvin, trong đó khẳng định: “Sau những sức ép của một ngày dài làm việc mệt mỏi, chúng ta gặp, ăn uống, hòa đồng xã hội, nhảy, học hành, cười nói, được yêu thương, ăn mừng và ứng xử như thể chúng ta được sinh ra để cư xử, như thực thể của xã hội”[4]. Suy cho cùng, kinh tế ban đêm đang được hiểu là các hoạt động kinh tế diễn ra vào thời điểm khi trời đã tối, gồm các hoạt động tương đối đặc thù vì hướng đến cung cấp các giá trị giúp con người giải trí.

Trong công bố về “Tình hình phát triển kinh tế ban đêm tại Trung Quốc”[5], các nhà nghiên cứu khẳng định, kinh tế ban đêm có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có những dấu hiệu cơ bản để nhận diện gồm: Thời gian diễn ra thường là từ 06 giờ tối đến 06 giờ sáng (tương thích quan niệm về ban đêm), các hoạt động này “mang tính kinh tế, góp phần tái tạo đô thị và tăng trưởng kinh tế, thu lợi nhuận chính”. Trong đó, tác giả cũng nhấn mạnh đến các hoạt động tiêu biểu của kinh tế ban đêm như “hoạt động của các quán bar, câu lạc bộ, chợ đêm, rạp chiếu phim, nhà hát, các lễ hội văn hóa và các sự kiện hay dịch vụ ngân hàng, tài chính…”.

Nhóm các nhà nghiên cứu trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện chính sách và pháp luật về “kinh tế ban đêm” ở Việt Nam” cũng khẳng định: “Khái niệm “kinh tế ban đêm” là một khái niệm động, có thể thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của bản thân các hoạt động của nó cũng như chính sách thúc đẩy từ các chính phủ”. Các nhà nghiên cứu không đưa ra một định nghĩa cụ thể về kinh tế ban đêm nhưng lại đưa ra các dấu hiệu đặc trưng bao gồm:

(i) Đặc trưng về thời gian khi các hoạt động kinh tế ban đêm diễn ra từ 06 giờ tối đến 06 giờ sáng.

(ii) Đặc trưng về lĩnh vực trọng tâm như “ẩm thực, mua sắm, giải trí và các dịch vụ văn hóa”. Đặc biệt, các tác giả khẳng định, kinh tế ban đêm không bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh làm trong đêm theo ca. Như vậy, kết cấu kinh tế ban đêm cốt lõi nằm ở thương mại và dịch vụ, sản phẩm văn hóa là kết quả tất yếu của của kinh tế ban đêm.

(iii) Kinh tế ban đêm diễn ra ở khu đô thị lớn hoặc những khu du lịch phát triển.

Thông qua việc phân tích các quan điểm nêu trên có thể thấy, kinh tế ban đêm mang các đặc trưng nổi bật đã được đa số các công trình nghiên cứu không chỉ dựa trên các học thuyết kinh tế mà còn dựa trên thực tiễn phát triển của loại hình kinh tế này. Các đặc trưng này bao gồm:

Thứ nhất, kinh tế ban đêm được diễn ra khi “màn đêm” buông xuống và theo quan niệm chung thì sẽ bắt đầu từ 06 giờ tối đến 06 giờ sáng ngày hôm sau. Khung thời gian này hoàn toàn tách biệt với quan niệm chung hiện nay về giờ lao động, giờ hành chính là từ sáng đến chiều tối (thường kéo dài 08 tiếng liên tục vào ban ngày). Tất nhiên, nhiều doanh nghiệp, tổ chức tiến hành sản xuất theo ca nhưng vẫn bảo đảm thời gian tối đa giờ làm việc, sản xuất.

Thứ hai, kết cấu trọng tâm của kinh tế ban đêm là các hoạt động hướng vào cung cấp dịch vụ, sản phẩm phục vụ các nhu cầu về vui chơi, giải trí, ăn uống. Đây là trụ cột chính, cốt lõi của kinh tế ban đêm. Các hoạt động này phải gắn với việc phát huy thế mạnh, tính độc đáo của văn hóa tại địa phương diễn ra kinh tế ban đêm.

Thứ ba, kinh tế ban đêm gắn với đô thị, khu du lịch hoặc cả hai. Tại đây thường đáp ứng đầy đủ các điều kiện để kinh tế ban đêm vận hành như lượng cư dân tham gia vào kinh tế ban đêm ở cả vai trò nhà cung cấp cũng như vai trò người tiêu dùng, có cơ sở hạ tầng phù hợp như nhà cửa, điện, nước…

Thứ tư, đối tượng thụ hưởng các sản phẩm của kinh tế ban đêm không chỉ dừng lại là người dân sinh sống tại chính địa phương đó mà còn hướng đến các khách tham quan, du lịch. Đây là các chủ thể luôn mong muốn được khám phá văn hóa của địa phương nơi mình đi qua, thậm chí công tác. Khi đó, các khách tham quan, du lịch hoặc người đi công tác có điều kiện khám phá, sử dụng các sản phẩm độc đáo của địa phương có kinh tế ban đêm.

Thứ năm, kinh tế ban đêm cũng đòi hỏi sự vận hành như các hoạt động kinh tế ban ngày truyền thống như phải có đầy đủ nền tảng để vận hành gồm cơ sở vật chất cho đến con người, sự đồng bộ trong hoạt động quản lý nhà nước. Đây cũng chính là lý do khi phát triển kinh tế ban đêm, các đô thị, địa phương đều có sự đồng bộ trong chính sách quản lý, triển khai hoạt động quản lý, sự chuẩn bị đầy đủ các nguồn lực về con người, cơ sở vật chất… làm đầu vào cho các hoạt động kinh tế ban đêm diễn ra.

Với những nét đặc trưng trên, kinh tế ban đêm có thể được định nghĩa như sau: Là sự đồng bộ của các hoạt động kinh tế diễn ra vào ban đêm mà cốt lõi là thương mại, dịch vụ tại các khu vực phổ biến là thành phố lớn hoặc khu du lịch hướng đến cung cấp nhu cầu cho các chủ thể là cư dân sinh sống tại địa phương cũng như những khách tham quan, du lịch, trọng tâm cung cấp các hoạt động, sản phẩm văn hóa, giải trí, ẩm thực.

3. Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật Việt Nam điều chỉnh về kinh tế ban đêm

3.1. Định hướng phát triển, vận hành kinh tế ban đêm

Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương phát triển kinh tế đô thị để làm động lực cho phát triển kinh tế tại mỗi địa phương, tập trung phát triển ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa, khẳng định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn… ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của kinh tế ban đêm. Trên cơ sở đường lối của Đảng cũng như thực trạng, nhu cầu phát triển thực tế, ngày 27/7/2020, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam tại Quyết định số 1129/QĐ-TTg. Tại Đề án này, những định hướng thống nhất đối với phát triển, vận hành kinh tế ban đêm chính thức được ghi nhận bao gồm:

Thứ nhất, mục tiêu Đề án hướng đến là “khai thác tiềm năng phát triển kinh tế ban đêm nhằm tận dụng tối đa cơ hội phát triển kinh tế mới, nâng cao thu nhập và đời sống của người dân; đồng thời hạn chế những rủi ro, tác động tiêu cực đối với công tác đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội”. Như vậy, kinh tế ban đêm sẽ là một trong các cách thức để khai thác các cơ hội phát triển kinh tế và đương nhiên hướng đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung cũng như nâng cao thu nhập cho người dân.

Thứ hai, Đề án đưa ra các yêu cầu cho phát triển kinh tế ban đêm như ưu tiên tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, gắn kết cộng đồng, giao lưu xã hội cho người dân Việt Nam, người nước ngoài và khách du lịch. Đề án cũng đưa ra yêu cầu trong phát triển ngành nghề/hoạt động mới, trong đó nhấn mạnh đến công nghiệp sáng tạo, du lịch, bán lẻ, ẩm thực, đồ uống.

Thứ ba, Đề án khẳng định quan điểm của Chính phủ trong việc phát triển kinh tế ban đêm, trong đó nhấn mạnh, chủ động phát triển kinh tế ban đêm là phù hợp với xu hướng phát triển của quốc tế; kinh tế ban đêm không phải là một bộ phận tách rời của nền kinh tế và mục tiêu trước mắt là thúc đẩy tiêu dùng, phát triển du lịch; tôn trọng và hài hòa cả cung và cầu trên thị trường khi phát triển kinh tế ban đêm; đổi mới trong tư duy và phương thức quản lý xã hội trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm quốc tế; các chính quyền địa phương chủ động nghiên cứu, thực hiện kế hoạch/ chương trình cũng như giải pháp thúc đẩy kinh tế ban đêm và đối với hoạt động kinh tế ban đêm sau 10 giờ tối phải được khuyến khích phát triển một cách có trọng tâm, trọng điểm. Quan điểm này hoàn toàn đúng đắn vì phải đặt trong mối quan hệ cân bằng với thói quen, nền nếp sinh hoạt của người dân.

Thứ tư, Đề án cũng đưa ra các nhóm giải pháp để thực hiện phát triển kinh tế ban đêm, trong đó có nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về lợi ích, rủi ro khi phát triển kinh tế ban đêm; nhóm giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách, khung pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế ban đêm và kiểm soát rủi ro; nhóm giải pháp sử dụng quy hoạch để quản lý các hoạt động kinh tế ban đêm; nhóm giải pháp thí điểm kéo dài thời gian tổ chức hoạt động dịch vụ ban đêm tại một số thành phố và một số khu du lịch lớn trên cả nước, trong đó nhấn mạnh các địa điểm thí điểm như Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hội An, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ, Đà Lạt, Phú Quốc. Bên cạnh đó, Đề án cũng đưa các giải pháp khác tại điểm đ khoản 4 Điều 1.

Thứ năm, Đề án đưa ra các nội dung tổ chức thực hiện, trong đó nhấn mạnh việc các bộ, ngành, địa phương có các nhiệm vụ cụ thể; các chính quyền địa phương (cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) thực hiện các nhiệm vụ chi tiết; nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Công an và một số bộ khác có liên quan trong từng vấn đề từ cơ sở hạ tầng cho đến quản lý an ninh, trật tự…

Mặc dù mới dừng lại ở mức độ là một đề án nhưng rõ ràng, sự ban hành Đề án kèm Quyết định số 1129/QĐ-TTg đã tạo nên khung pháp lý nhất định trong việc xác định đường hướng, cách thức phát triển kinh tế ban đêm, đặc biệt cho các địa phương chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình phát triển của riêng mình.

Trên cơ sở Quyết định này của Thủ tướng Chính phủ, các địa phương có điều kiện phù hợp phát triển kinh tế ban đêm đã có các chính sách cụ thể của riêng mình. Quận Hoàn Kiếm (Thành phố Hà Nội) đã triển khai Đề án số 11-ĐA/QU ngày 01/11/2021 của Ban Thường vụ Quận ủy về phát triển kinh tế ban đêm trên địa bàn quận Hoàn Kiếm và kết quả tất yếu có thể nhìn thấy là các khu kinh tế ban đêm hình thành như phố đi bộ khu vực Hồ Hoàn Kiếm, phố ẩm thực Tống Duy Tân, bia Tạ Hiện… Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng cũng ban hành Quyết định số 3613/QĐ-UBND ngày 28/9/2020 phê duyệt Đề án “Phát triển kinh tế ban đêm tại thành phố Đà Nẵng”. Đặc biệt, thành phố Đà Nẵng đã ban hành quyết định nhấn mạnh Đề án “Tổ chức các sự kiện, lễ hội văn hóa trong giai đoạn 2022 - 2026” gắn với chuỗi sự kiện, lễ hội về đêm. Như vậy, thành phố Đà Nẵng đã bước đầu có kế hoạch tương đối hoàn chỉnh để phát triển kinh tế ban đêm và nhấn mạnh đến mục tiêu phát triển du lịch, tạo nên sự đặc sắc cho người đến tham quan Đà Nẵng về các giá trị văn hóa. Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, tuy chưa có đề án cụ thể nhưng những hành động cụ thể về phát triển kinh tế ban đêm đã được thực hiện trong thực tế. Chính vì thế, nhiều khu dành cho kinh tế ban đêm đã hình thành và triển khai trong thực tiễn như Quận 5, Quận 7 hay Quận 11 đều có. Bên cạnh các thành phố lớn, một số tỉnh cũng đã triển khai phát triển kinh tế ban đêm như Bắc Giang, Hà Giang…

Xét trong một số khía cạnh có liên quan đến phát triển kinh tế ban đêm, pháp luật cũng có những quy định điều chỉnh trong các lĩnh vực cụ thể. Đơn cử, trong lĩnh vực về du lịch - đây là lĩnh vực liên quan mật thiết với kinh tế ban đêm. Hiện nay, các quy định chung dành cho phát triển du lịch nói chung cũng đã có sự hoàn thiện nhất định như Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Hệ thống văn bản luật gồm Luật Du lịch năm 2017; Quyết định số 2743/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”. Ngoài ra, một số quy định pháp luật về hoạt động có tác động gián tiếp nhất định tới kinh tế ban đêm như hoạt động của quán karaoke, casino… hiện nay còn chưa phù hợp, bởi lẽ, karaoke chỉ được mở đến 12 giờ đêm. Như vậy, karaoke tham gia kinh tế đêm thực tế chỉ từ 06 giờ tối đến 12 giờ đêm.

3.2. Thực trạng pháp luật về kinh tế ban đêm

Với một số phác họa cơ bản nêu trên, thực trạng pháp luật về kinh tế ban đêm có thể được đánh giá với những nét khái lược sau:

Một là, chính sách, pháp luật đồng bộ trong việc phát triển và bảo đảm cho kinh tế ban đêm vận hành còn chưa có. Ngoài Đề án do Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2020, cho đến thời điểm hiện nay, các địa phương đang triển khai theo dạng mô hình thí điểm với địa phương mình. Tuy có ưu điểm là phát huy thế mạnh của từng địa phương nhưng cũng cho thấy nhiều điểm chưa phù hợp vì để phát triển kinh tế ban đêm đòi hỏi sự thống nhất từ quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch đô thị, quy hoạch khu du lịch… Hơn nữa, nhiều lĩnh vực như cấp phép hoạt động các dịch vụ karaoke, quán bar, quán pub, casino… đòi hỏi quy chế chung thống nhất.

Hai là, thiếu vắng quy định nhận diện các vấn đề kinh tế ban đêm để tạo thành khuôn khổ cho các địa phương xác định và là nền tảng để thực thi. Trong Đề án được ban hành kèm Quyết định số 1129/QĐ-TTg cũng chưa có những khuôn khổ nhất định nhận diện kinh tế ban đêm cũng như nguyên tắc cơ bản điều chỉnh về hoạt động kinh tế này. Mặc dù trong Đề án có nhấn mạnh việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế nhưng các kinh nghiệm hoặc chuẩn mực của bất kỳ quốc gia nào cũng không thể trở thành chuẩn mực để áp dụng chung trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Ba là, thiếu sự đồng bộ và phù hợp các quy định về quy hoạch đô thị. Đô thị được coi là cái “nôi” để kinh tế ban đêm phát triển, thế nên việc quy hoạch đô thị rất quan trọng. Tuy nhiên, các quy định về quy hoạch đô thị còn “chồng chéo, nhiều văn bản quy phạm pháp luật chưa thống nhất”, quy định quy hoạch tổng thể quốc gia còn chưa rõ về mặt nội dung, “quy chuẩn quy hoạch quốc gia cũng chưa thống nhất”… Thực tế, nếu các vấn đề thuộc về quy hoạch, pháp luật về quy hoạch chưa được hoàn thiện sẽ không bảo đảm yếu tố đầu tiên, mang tính tổng thể để tạo nền tảng cho việc phát triển các khu đô thị, khu du lịch và tất yếu cũng khó khăn trong việc hình thành các khu kinh tế ban đêm. Nếu các khu này ra đời, vận hành thì chỉ mang tính manh mún, nhỏ lẻ, không đồng bộ trong từng địa phương, khu vực và phạm vi toàn quốc.

Bốn là, pháp luật về ngành du lịch - một trong những ngành được coi là không thể tách rời với kinh tế ban đêm mặc dù có sự phát triển, đồng bộ nhất định nhưng rõ ràng “các hoạt động du lịch thúc đẩy kinh tế ban đêm chưa được coi là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên phát triển trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030”. Điều này được minh chứng trong Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 mới chỉ đề cập đến “tiếp tục phát triển sản phẩm du lịch đô thị, du lịch hội nghị, hội thảo, sự kiện (MICE); du lịch kết hợp mua sắm, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, giải trí, đặc biệt là giải trí về đêm” (tiểu mục 6 phần III). Như vậy, thực tế pháp luật về du lịch còn chưa có quy định cụ thể, các văn bản hướng dẫn liên quan đến điều chỉnh hoạt động du lịch phục vụ cho phát triển kinh tế ban đêm cũng còn hạn chế. Nhiều vấn đề liên quan đến du lịch gắn với phát triển kinh tế ban đêm như sản phẩm du lịch, chính sách khuyến khích khách du lịch (đặc biệt khách du lịch nước ngoài) trong việc sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của du lịch trong kinh tế ban đêm… vẫn còn đang bỏ ngỏ, chưa được điều chỉnh chi tiết.

Năm là, pháp luật về những ngành đặc thù gắn với kinh tế ban đêm như kinh doanh dịch vụ karaoke, các loại chất kích thích như bia, rượu, thuốc lá, biểu diễn nghệ thuật, mua sắm trong các khu kinh tế ban đêm… vẫn đang thiếu vắng các chính sách chung điều chỉnh quan hệ này một cách thống nhất với mục tiêu khuyến khích phát triển kinh tế ban đêm. Đặc biệt, kinh tế ban đêm có nét đặc thù riêng nên bắt buộc muốn khuyến khích phát triển thì các quy định liên quan đến thuế, hoàn thuế, thanh toán… cũng phải có những nét đặc thù và quan trọng là có đầy đủ cơ sở hạ tầng để vận hành và thực hiện.

Sáu là, pháp luật về những vấn đề như quan hệ lao động, y tế, an ninh trật tự… cũng cần phải được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cụ thể, chi tiết hướng đến điều chỉnh riêng biệt các vấn đề này trong các khu kinh tế ban đêm. Hiện nay, các quy định này có thể nói “cực kỳ mờ nhạt” khi đang áp dụng các quy định chung của pháp luật về những nội dung này, không có sự phân định giữa kinh tế truyền thống (ban ngày) với kinh tế ban đêm.

3.3. Một số kiến nghị

Từ một vài điểm nêu trên cho thấy, yêu cầu hoàn thiện về chính sách, pháp luật là một trong các vấn đề tất yếu cần phải thực hiện ngay, thuộc về hoàn thiện kiến trúc thượng tầng nhằm hướng đến phát triển kinh tế ban đêm tại Việt Nam. Việc hoàn thiện này cần tiến hành đồng bộ, từ chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Để phát triển kinh tế ban đêm hiệu quả và an toàn, tác giả có một số kiến nghị như sau:

(i) Nghiên cứu, phát triển các mô hình kinh tế đêm đặc thù đối với từng khu vực. Cần thể hiện nhất quán mục tiêu và định hướng phát triển của kinh tế ban đêm trong các văn kiện của Đảng làm nền tảng, kim chỉ nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

(ii) Cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật đúng tầm (nghị định) để điều chỉnh kinh tế ban đêm tại các khu vực thí điểm. Trước mắt, khi kinh tế ban đêm vẫn còn chưa được phát triển đồng bộ, nhiều vấn đề chưa được nắm bắt đầy đủ và toàn diện, do vậy, các cơ quan chức năng nên có hướng dẫn riêng biệt về kinh tế ban đêm tại một số địa phương thí điểm. Sự thống nhất trong việc nhận diện kinh tế ban đêm, về các nguyên tắc dành cho kinh tế ban đêm… cần được quy định thống nhất, chi tiết.

(iii) Các lĩnh vực đặc thù cũng cần pháp luật điều chỉnh phù hợp để khuyến khích kinh tế ban đêm phát triển, đặc biệt như lĩnh vực du lịch, ẩm thực, giải trí… Đây là yêu cầu tất yếu trong bài toán đồng bộ, thống nhất quy định pháp luật.

Tóm lại, kinh tế ban đêm trong tương lai tất yếu sẽ là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế nói chung cũng như kinh tế một địa phương mà gắn liền với đô thị, du lịch hoặc cả hai. Tuy nhiên, muốn phát triển đồng bộ kinh tế ban đêm, tạo hành lang pháp lý để các chủ thể tham gia vào kinh tế ban đêm, kể cả với cơ quan quản lý nhà nước đòi hỏi chính sách, pháp luật phải cụ thể, đồng bộ./.

TS. Kiều Thị Thùy Linh

Khoa luật, Học viện Phụ nữ Việt Nam

Bài viết thực hiện trong khuôn khổ Đề tài cấp Bộ “Nhận diện kinh tế ban đêm và định hướng hoàn thiện khung chính sách, pháp luật cho phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam” năm 2024 của Học viện Phụ nữ Việt Nam.

[1]. Andy Lovatt & Justin O’Connor (1995), Cities and the Night - time Economy, Planning Practice and Research, Vo.10, No.2, 1995, trang truy cập: Https://www. academia.edu/4147568/Cities_and_the_Night_time_Economy, truy cập ngày 20/4/2024.

[2]. Câu hỏi được đưa ra là “What has this got to do with the night - time economy?”, nguồn: https://www.academia.edu/4147568/Cities_and_the_Night_time_Economy, truy cập ngày 20/4/2024.

[3]. Mayor of London (2017), Culture and the night - time economy được công bố tại trang thông tin điện tử của thành phố London tại: https://www.london.gov.uk/sites/ default/files/culture_and_night-time_economy_spg_final.pdf, truy cập ngày 20/4/2024.

[4]. Nguyên gốc: “After the stresses of ever longer working days, we meet, eat, socialise, drink, dance, learn, laugh, fall in love, celebrate, and behave as we were born to behave, as social animals”, https://www.london.gov.uk/sites/default/files/culture_and_nighttime_economy_spg_final.pdf, truy cập ngày 20/4/2024.

[5].https://www.researchgate.net/publication/343212049_phat_trien_kinh_te_ban_ dem_tai_bac_kinh_trung_quoc/link/5f1c3e6f92851cd5fa455166/download, truy cập ngày 20/4/2024.

(Nguồn: Ấn phẩm “Các vấn đề pháp lý mới trong bối cảnh chuyển đổi số” của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: