Thứ sáu 20/03/2026 04:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Góp ý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013

Ngày 05/5/2025, Ủy ban Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 ban hành Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến Nhân dân, các ngành, các cấp về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Việc lấy ý kiến Nhân dân, các ngành, các cấp về dự thảo Nghị quyết nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động trí tuệ, tâm huyết và tạo sự đồng thuận, thống nhất cao của toàn dân trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013, bảo đảm Hiến pháp phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.

Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (dự thảo Nghị quyết)[1] gồm 02 điều, trong đó, Điều 1 dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung 08 điều của Hiến pháp năm 2013, Điều 2 quy định về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp. Về cơ bản tác giả nhất trí với nội dung dự thảo Nghị quyết, bên cạnh đó, tác giả có một số góp ý như sau:

Về sửa đổi, bổ sung Điều 9 Hiến pháp năm 2013 (khoản 1 Điều 1 dự thảo Nghị quyết)

Điều 9 Hiến pháp năm 2013 quy định về các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoản 1), Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam (khoản 2). Như vậy, để tạo ra sự nhất quán thì các nội dung trong Điều 9 chỉ nên đề cập đến các chủ thể này mà không cần mở rộng thêm các chủ thể khác. Nội dung này cũng được thể hiện nhất quán trong khoản 1 và 2 Điều 9. Tuy nhiên, đến khoản 3 Điều 9 lại mở rộng thêm đối tượng là “các tổ chức xã hội khác”. Điều này là không cần thiết bởi phạm vi của Điều 9 đang tập trung điều chỉnh các tổ chức chính trị - xã hội.

Do mở rộng thêm “các tổ chức xã hội khác” nên khoản 3 Điều 9 bổ sung quy định “các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, điều lệ của mỗi tổ chức”. Các tổ chức xã hội khác được thành lập theo quy định pháp luật nên đương nhiên phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Các tổ chức xã hội này có điều lệ, tôn chỉ hoạt động riêng nhưng điều lệ, tôn chỉ phải tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật. Các tổ chức này khi được thành lập phải có điều lệ phù hợp quy định pháp luật. Do đó, có viết ra hay không trong dự thảo Nghị quyết thì vấn đề cũng không thay đổi.

Vì vậy, tác giả kiến nghị sửa đổi khoản 3 Điều 9 như sau: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận hoạt động”.

Về sửa đổi, bổ dung Điều 110 Hiến pháp năm 2013 (khoản 2 Điều 1 dự thảo Nghị quyết)

Một là, theo khoản 1 Điều 110 Hiến pháp năm 2013 thì các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:

“Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương;

Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường.

Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập”.

Thực hiện các Kết luận của Bộ Chính trị (Kết luận số 126-KL/TW, Kết luận số 127-KL/TW, Kết luận số 130-KL/TW) về chủ trương xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp (cấp tỉnh và cấp cơ sở, không tổ chức cấp huyện), dự thảo Nghị quyết sửa đổi, một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã có những điều chỉnh cụ thể.

Hiện nay, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 vẫn quy định chính quyền địa phương gồm 03 cấp là cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Tuy nhiên, Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) được Bộ Nội vụ đưa ra lấy ý kiến đã có những điều chỉnh thích hợp. Theo đó, Điều 1 dự thảo lần thứ 4 Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) quy định:

“1. Đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có:

a) Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh);

b) Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện);

c) Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);

d) Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quyết định thành lập.

2. Tùy theo điều kiện địa lý, dân cư, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, các đảo, quần đảo là đơn vị hành chính cấp huyện có thể không tổ chức đơn vị hành chính cấp xã”.

Với quy định này, có thể thấy, đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp cơ sở). Do đó, quy định tại khoản 1 Điều 110 là chưa thật sự hợp lý bởi đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ có một nên không thể sử dụng thuật ngữ “các đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”.

Hiện nay, khoản 8 Điều 74 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”. Quy định trên không sử dụng thuật ngữ “các” với hàm ý là có nhiều đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Do đó, để bảo đảm sự thống nhất về thẩm quyền điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tác giả kiến nghị sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 110 tại Điều 1 Dự thảo Nghị quyết: “Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” sẽ được sửa đổi thành “Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”.

Hai là, theo khoản 2 Điều 110 Hiến pháp năm 2013 thì “Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương và theo trình tự, thủ tục do luật định”. Quy định về việc “phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương” đối với việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính trong Hiến pháp năm 2013 là một điểm tiến bộ so với các bản Hiến pháp trước đây vì thể hiện tư duy gần dân, trọng dân. Tuy nhiên, dự thảo Nghị quyết đã bỏ quy định này. Việc bỏ quy định “phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương” đối với việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cần phải cân nhắc thấu đáo.

Trên thế giới, lấy ý kiến của Nhân dân được chia thành hai loại là lấy ý kiến nhân dân mang tính quyết định (gọi là trưng cầu ý dân) và lấy ý kiến nhân dân có tính chất tham vấn. Nếu như trưng cầu ý dân dẫn tới hệ quả tất yếu là chính quyền phải thực hiện theo đúng kết quả bỏ phiếu thì lấy ý kiến nhân dân có tính chất tham vấn dẫn tới hệ quả là chính quyền vẫn là chủ thể ra quyết định cuối cùng sau khi xem xét các ý kiến từ cuộc tham vấn.

Theo Luật Trưng cầu ý dân năm 2015 thì “trưng cầu ý dân là việc Nhà nước tổ chức để cử tri cả nước trực tiếp biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước”. Trong khi đó, lấy ý kiến của Nnhân dân được quy định trong nhiều văn bản khác nhau như Hiến pháp năm 2013, Luật Thực hiện dân chủ cơ sở năm 2022, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025… nhưng lại chưa có một khái niệm pháp lý rõ ràng.

Trưng cầu ý dân và lấy ý kiến Nhân dân cùng là hình thức để Nhân dân phát huy quyền dân chủ trực tiếp khi thể hiện ý kiến với Nhà nước. Tuy nhiên, giữa trưng cầu ý dân và lấy ý kiến Nhân dân vẫn có sự khác biệt về nội dung, hình thức và giá trị pháp lý:

Về nội dung, vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân là những vấn đề quan trọng của đất nước, có phạm vi toàn quốc và do Quốc hội quyết định. Trong khi đó, vấn đề được lấy ý kiến nhân dân rất đa dạng và thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan. Theo Điều 11 Luật Thực hiện dân chủ cơ sở năm 2022 thì cơ quan có thẩm quyền phải lấy ý kiến Nhân dân về những vấn đề như: dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; dự thảo đề án thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính, đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính; dự thảo quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân cấp xã có liên quan đến lợi ích cộng đồng…

Về hình thức, trong trưng cầu ý dân, Nhân dân thể hiện ý chí của mình thông qua việc bỏ phiếu kín, còn trong việc lấy ý kiến Nhân dân thì các hình thức để người dân thể hiện ý chí thường linh hoạt hơn. Theo Điều 26 Luật Thực hiện dân chủ cơ sở năm 2022 thì việc lấy ý kiến nhân dân có thể thực hiện thông qua các hình thức hội nghị trao đổi, đối thoại; phát phiếu lấy ý kiến; lấy ý kiến thông qua cổng thông tin điện tử…

Về giá trị pháp lý, trưng cầu ý dân có giá trị quyết định, tức là Nhà nước đưa một vấn đề quan trọng để Nhân dân trực tiếp quyết định thông qua việc bỏ phiếu. Trong khi đó, đối với lấy ý kiến của Nhân dân thì ý kiến của người dân chỉ mang tính chất tham khảo với cơ quan nhà nước.

Trong hoạt động lấy ý kiến của Nhân dân thì quyết định của các cơ quan nhà nước vẫn là quyết định có giá trị cuối cùng. Tuy nhiên, không phải vì thế mà các ý kiến của Nhân dân không được quan tâm và tiếp thu. Không phải ngẫu nhiên mà Hiến pháp năm 2013 - văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất hai lần nhắc đến thuật ngữ “lấy ý kiến Nhân dân” (khoản 2 Điều 110 và khoản 3 Điều 120). Thuật ngữ “lấy ý kiến Nhân dân” được nhắc đến trong Hiến pháp năm 2013 có ý nghĩa quan trọng là Nhà nước muốn được Nhân dân cho ý kiến về một vấn đề, xem xét ý kiến tư vấn đó để ra quyết định cuối cùng.

Các cơ quan nhà nước phải tạo các kênh khác nhau để ý chí Nhân dân được phản ánh vào quá trình quyết định chính sách, pháp luật. Một trong những giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm tính khả thi trong quyết sách của cơ quan nhà nước là phải tạo điều kiện để đông đảo Nhân dân tham gia đóng góp ý kiến. Đơn cử, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 quy định khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến Nhân nhân là những người chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo văn bản pháp luật. Thông qua việc đóng góp ý kiến đối với các dự thảo văn bản pháp luật, Nhân dân được trực tiếp tham gia thảo luận, xây dựng pháp luật, từ đó có cơ hội bày tỏ thái độ, quan điểm của mình trước Nhà nước. Khi còn ở giai đoạn dự thảo, nếu Nhân dân được tham gia đóng góp ý kiến để góp phần điều chỉnh lợi ích của mình thì khi đã ban hành thành văn bản pháp luật chính thức, họ sẽ tự nguyện thực hiện văn bản này. Từ đó, văn bản pháp luật sẽ được thực thi một cách hiệu quả mà không cần phải tốn kém cho công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục để đưa văn bản pháp luật vào cuộc sống.

Nhìn chung, việc tham gia đóng góp ý kiến của Nhân dân đối với các dự thảo đề án, phương án, văn bản là đòi hỏi mang tính khách quan. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”. Như vậy, Nhân dân thực hiện quyền lực của mình bằng cách tham gia vào các công việc của Nhà nước, trong đó có việc tham gia đóng góp ý kiến về các dự thảo đề án, phương án, văn bản. Việc đóng góp ý kiến của nhân dân sẽ mang lại lợi ích to lớn, vì thông qua đó, cơ quan soạn thảo có điều kiện tính toán, cân nhắc để từ đó có những điều chỉnh kịp thời. Hơn nữa, thông qua việc tiếp nhận các ý kiến đóng góp, cơ quan soạn thảo có thể huy động được trí tuệ tập thể vào việc hình thành các chính sách đúng đắn. Việc tăng cường lấy ý kiến Nhân dân trong quá trình xây dựng dự thảo không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nội dung dự thảo, mà còn tăng cường tính công khai, minh bạch của chính sách, pháp luật. Từ đó, Nhân dân có thể biết được chính sách, pháp luật ngay trong quá trình soạn thảo. Điều này sẽ tránh được tình trạng cá nhân, tổ chức cảm thấy bỡ ngỡ hay bị áp đặt khi một chính sách, pháp luật được ban hành và có hiệu lực. Do đó, tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 110 từ “Việc xác định các loại đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và trình tự, thủ tục thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính do Quốc hội quy định” thành “Việc xác định các loại đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và trình tự, thủ tục thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính do Quốc hội quy định. Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương”.

Về sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 114 Hiến pháp năm 2013 (khoản 7 Điều 1 dự thảo Nghị quyết)

Khoản 7 Điều 1 dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 114 quy định: “Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”. Về nguyên lý, Hội đồng nhân dân là cơ quan dân cử, còn Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân. Do đó, quy định Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là hợp lý. Tuy nhiên, trong bối cảnh nước ta đang áp dụng chính quyền đô thị thì ở nhiều nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân.

Hiện nay, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 131/2020/QH14 ngày 16/11/2020 về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 169/2024/QH15 ngày 30/11/2024 về tổ chức chính quyền đô thị tại thành phố Hải Phòng. Theo Nghị quyết số 131/2020/QH14 thì Thành phố Hồ Chí Minh không thực hiện thí điểm mà tổ chức luôn chính quyền đô thị với mô hình không tổ chức Hội đồng nhân dân tại quận, phường mà chỉ tổ chức Ủy ban nhân dân quận, phường. Theo Nghị quyết số 169/2024/QH15 thì thành phố Hải Phòng cũng tổ chức chính quyền đô thị với mô hình không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường. Ủy ban nhân dân quận, Ủy ban nhân dân phường thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn, hoạt động theo chế độ thủ trưởng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc trung ương bổ nhiệm, còn Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường do Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận bổ nhiệm.

Ở những nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân thì sẽ không có chủ thể bầu ra Ủy ban nhân dân. Do đó, nếu khoản 1 Điều 114 không quy định ngoại lệ về việc thành lập Ủy ban nhân dân khi không tổ chức Hội đồng nhân dân là một sự thiếu sót và các nghị quyết về tổ chức chính quyền đô thị dễ rơi vào tình trạng vi phạm hiến pháp. Do đó, tác giả kiến nghị quy định ngoại lệ khi sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 114 như sau: “Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Trường hợp chính quyền đô thị không tổ chức Hội đồng nhân dân thì việc thành lập Ủy ban nhân dân được Quốc hội quy định trong nghị quyết”.

Về sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 115 Hiến pháp năm 2013 (khoản 8 Điều 1 dự thảo Nghị quyết)

Khoản 2 Điều 115 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân”.

Trong bối cảnh các nguồn lực đều có giới hạn và số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân không thể tăng thêm thì cần tập trung giám sát cũng như chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân. Đối với Chánh án Tòa án nhân dân và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thì sự chất vấn không phải là ưu tiên hàng đầu. Theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 thì Chánh án Tòa án nhân dân phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Chánh án Tòa án nhân dân cấp trên. Các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân có thể bị Tòa án nhân dân cấp trên xem xét phúc thẩm. Khi các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật thì vẫn chịu sự kiểm tra của Tòa án nhân dân cấp trên, thậm chí còn có thể được xem xét lại theo thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm, tái thẩm. Trong tổ chức và hoạt động, Tòa án nhân dân chịu sự thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ cũng như thực hiện biên chế, quản lý cán bộ từ Tòa án nhân dân tối cao nhằm bảo đảm việc tuân thủ pháp luật[2]. Tương tự, Viện kiểm sát nhân dân cũng chịu sự thanh tra, kiểm tra từ phía nhiều chủ thể, bản thân Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân phải báo cáo công tác và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên[3]. Do đã có nhiều chủ thể thanh tra, kiểm tra đối với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nên việc giám sát của Hội đồng nhân dân và chất vấn của Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể không cần phải đặt nặng. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả hoạt động không cao của Hội đồng nhân dân là tình trạng “ôm đồm”, dẫn đến dàn trải[4]. Do đó, thay vì dàn trải giám sát cả Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng nhân dân cần tập trung nhân lực, vật lực giám sát Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân. Do đó, dự thảo Nghị quyết không quy định cho đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân là một sự tiến bộ.

Tuy nhiên, dự thảo Nghị quyết sửa đổi khoản 2 Điều 115 quy định: “Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân và người đứng đầu cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân” vẫn cần phải được điều chỉnh. Như vậy, ngoài Chủ tịch Ủy ban nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân còn có quyền chất vấn “các thành viên khác của Ủy ban nhân dân” và “người đứng đầu cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân”.

Theo Điều 37 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 thì các thành viên khác của Ủy ban nhân dân bao gồm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Ủy viên. Trước đây, Điều 20 và Điều 41 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định Ủy viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm các Ủy viên là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an. Như vậy, Ủy viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ có hai tư cách: vừa là thành viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, vừa là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tương tự, Ủy viên Ủy ban nhân dân cấp huyện cũng sẽ có hai tư cách: vừa là thành viên Ủy ban nhân dân cấp huyện, vừa là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Hiện nay, tuy Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 không có quy định cụ thể về vấn đề này nhưng vẫn “ngụ ý” người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân sẽ là Ủy viên Ủy ban nhân dân cùng cấp. Cụ thể, khoản 4 Điều 37 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 quy định: “Chính phủ quy định trình tự, thủ tục đề nghị Hội đồng nhân dân bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Ủy viên Ủy ban nhân dân, bảo đảm liên thông, kết nối với thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức người đứng đầu cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân”. Việc Hội đồng nhân dân bầu Ủy viên Ủy ban nhân dân phải bảo đảm tính liên thông, kết nối với thủ tục bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân. Điều này đã phần nào thể hiện rõ “ý định” của nhà làm luật là Hội đồng nhân dân bầu Ủy viên Ủy ban nhân dân, rồi sau đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân sẽ bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân, bảo đảm tính liên thông, kết nối.

Như vậy, có thể khẳng định, theo các quy định pháp luật hiện hành, người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân sẽ là Ủy viên Ủy ban nhân dân cùng cấp (giám đốc các Sở phải là Ủy viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trưởng các phòng phải là Ủy viên Ủy ban nhân dân huyện). Do đó, quy định đại biểu Hội đồng nhân dân còn có quyền chất vấn người đứng đầu cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân là không cần thiết bởi có sự trùng lặp nội hàm với quy định đại biểu Hội đồng nhân dân còn có quyền chất vấn các thành viên khác của Ủy ban nhân dân.

Do đó, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 115 như sau: “Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân”.

TS. Cao Vũ Minh

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh


[1] https://quochoi.vn/tintuc/Pages/su-kien-noi-bat.aspx?ItemID=93901.

[2] Điều 46, 55, 58, 77 Luật Tổ chức Tòa án nhân nhân năm 2024.

[3] Điều 65, 66, 67 Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2014.

[4] Nguyễn Hải Long, “Bàn về quy định Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2, năm 2010, tr. 14.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: