Thứ tư 29/04/2026 21:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về hàng giả và hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố - bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Bài viết phân tích quy định pháp luật và một số vụ việc vi phạm pháp luật về hàng giả và hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố, nhận xét thực tiễn xử lý hành vi vi phạm, từ đó, đưa ra đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật và cơ chế xử lý hành vi vi phạm pháp luật về nội dung này.

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế và các doanh nghiệp chưa phân định rõ về hàng giả và hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố vì quy định pháp luật còn nhiều bất cập. Trong quá trình sản xuất, nhập khẩu hàng hóa là thực phẩm, doanh nghiệp đã được Nhà nước trao quyền công bố chất lượng và tự công bố chất lượng sản phẩm theo quy chuẩn Việt Nam về lĩnh vực an toàn thực phẩm. Đối với nhóm hàng hóa là thực phẩm mà Bộ Công Thương, Bộ Y tế quy định là doanh nghiệp công bố theo quy chuẩn chất lượng của Việt Nam thì sau khi doanh nghiệp xây dựng xong bản công bố phải gửi đến Cục An toàn thực phẩm chứng nhận đạt theo tiêu chuẩn chất lượng mà Nhà nước đã ban hành. Còn đối với nhóm sản phẩm mà doanh nghiệp tự công bố thì cũng dựa vào quy chuẩn để xây dựng và ban hành ra bảng tự công bố cho từng sản phẩm cụ thể của doanh nghiệp, được đăng hoặc niêm yết công khai. Trong quá trình lưu thông hàng hóa, doanh nghiệp không thể tránh khỏi những vi phạm và bị cơ quan quản lý thị trường xử lý vi phạm đối với hàng hóa của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc xử lý những hành vi vi phạm này trong thực tiễn vẫn còn nhiều điểm chưa chính xác.

Chính vì những lý do trên, tác giả đưa ra những kiến nghị để các nhà làm luật xây dựng các cơ chế về lĩnh vực hàng giả và hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố nhằm giải quyết những bất cập trong thực tiễn. Đồng thời, tạo khung pháp lý cho cơ quản quản lý thực hiện đúng thẩm quyền của mình trong việc xử lý hành vi vi phạm trên. Ngoài ra, đây cũng là cơ sở pháp lý để doanh nghiệp hiểu đúng và đủ về hàng giả, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố trong quá trình kinh doanh.

2. Quy định pháp luật đối với hàng giả, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố

2.1. Quy định pháp luật về hàng giả

Có nhiều văn bản pháp lý đưa ra các quy định khác nhau có đề cập đến hàng giả như Điều 608 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường; khoản 1 Điều 34 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định chủ thể kinh doanh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Theo các quy định này, hàng hóa không bảo đảm chất lượng có thể tùy vào tính chất, mức độ, vụ việc cụ thể để kết luận là hàng giả hay hàng không phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố. Do đó, khi xử lý vi phạm, nếu đủ dấu hiệu vi phạm thì chủ thể phải bồi thường thiệt hại, còn nếu đủ căn cứ để xử phạt theo quy định về hàng giả, hàng không phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố thì cơ quan có thẩm quyền sẽ xử phạt theo quy định.

Có thể hiểu, hàng giả gồm hai loại là giả về hình thức và giả về nội dung. Theo đó, hàng giả về hình thức được hiểu là việc hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ[1] hoặc tem, nhãn, bao bì hàng giả (khoản 8 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng - Nghị định số 98/2020/NĐ-CP). Bởi vì, doanh nghiệp có hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ vẫn phải sản xuất, kinh doanh hàng hóa theo tiêu chuẩn chất lượng được đăng ký theo quy định. Tuy nhiên, hàng hóa của doanh nghiệp giả mạo có gắn nhãn hiệu hoặc dấu hiệu, tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu, là trái với quy định pháp luật. Doanh nghiệp vi phạm sẽ bị xử lý tùy theo mức độ vi phạm. Hàng giả về nội dung tức là giả về chất lượng hàng hóa, như hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa[2]… Việc tiêu thụ hàng hóa bị làm giả sẽ dẫn đến hệ quả nhất định đối với người tiêu dùng lẫn doanh nghiệp kinh doanh bị giả mạo hàng hóa. Đối với hàng giả về hình thức bên ngoài, người tiêu dùng có thể bị ảnh hưởng về việc sử dụng nhãn hiệu sản phẩm của doanh nghiệp lớn nhưng chỉ bị ảnh hưởng đến nhãn hiệu là hình thức bên ngoài. Còn đối với hàng hóa vi phạm chất lượng bên trong, khi người tiêu dùng sử dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe, đặc biệt là hàng hóa thực phẩm. Trên cơ sở đó, hai hành vi vi phạm này đều bị kết luận là hàng giả theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP nhưng mức độ ảnh hưởng đến người tiêu dùng là khác nhau khi sử dụng hàng hóa. Ở đây là việc quy định hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký. Quy định về hàng giả cần phải có sự phân biệt với quy định về hàng kém chất lượng hay còn gọi là hàng không phù hợp với tiêu chuẩn tự công bố vì khi bị kết luận là hàng giả thì mức độ sai phạm nghiêm trọng hơn là hàng không phù hợp với tiêu chuẩn tự công bố. Tuy nhiên, quy định pháp luật hiện nay, cụ thể tại Nghị định số 98/2020/NĐ-CP và Nghị định số 119/2017/NĐ-CP ngày 01/11/2017 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa (Nghị định số 119/2017/NĐ-CP) chưa thống nhất, gây nhầm lẫn trong khi áp dụng các quy định pháp luật vào thực tiễn.

2.2. Quy định về hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố

Khi doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu, lưu thông hàng hóa phải bảo đảm chất lượng theo quy định của pháp luật. Để xác định được chất lượng của hàng hóa phải đáp ứng các tiêu chuẩn như: (i) Tiêu chuẩn chất lượng của hàng hóa phải được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (ii) Pháp luật cho phép doanh nghiệp tự công bố chất lượng. Theo đó, tự công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa là việc kiểm tra chất lượng hàng hóa trước khi doanh nghiệp đưa hàng hóa ra thị trường, đây là quy định bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện. Doanh nghiệp dựa trên quy định về tự công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa để xây dựng ra tiêu chuẩn chất lượng cơ sở theo Quy chuẩn Việt Nam số 11-1:2012/BYT ban hành kèm theo Thông tư số 20/2012/TT-BYT ngày 15/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm dinh dưỡng công thức cho trẻ đến 12 tháng tuổi.

Dựa trên tiêu chuẩn này, các doanh nghiệp sẽ xây dựng tiêu chuẩn cơ sở, trong tiêu chuẩn này sẽ có những nội dung như thông tin về tổ chức, cá nhân công bố; thông tin, tên, thành phần, thời hạn sử dụng, quy cách đóng gói và chất liệu bao bì, tên và địa chỉ cơ sở sản xuất, mẫu nhãn, yêu cầu về an toàn thực phẩm. Những nội dung trong tiêu chuẩn cơ sở phải phù hợp với yêu cầu về an toàn thực phẩm quốc gia, doanh nghiệp phải xây dựng tiêu chuẩn cho sản phẩm của mình đạt những thành phần các chất chính, chất phụ phù hợp. Ví dụ về sản phẩm dinh dưỡng công thức cho trẻ từ 0 tháng tuổi đến 12 tháng tuổi thì thành phần sữa non kèm theo những thông tin này doanh nghiệp phải xây dựng thông qua một kết luận kiểm nghiệm.

Tiếp theo, doanh nghiệp phải gửi mẫu sản phẩm đến trung tâm kiểm nghiệm có thẩm quyền để kiểm nghiệm. Hiện nay, Việt Nam có 55 viện, trung tâm[3] được phép tiến hành việc kiểm nghiệm chất lượng đối với thành phần trong hàng hóa. Sau khi có bảng kết luận kiểm nghiệm, doanh nghiệp xây dựng bảng tự công bố phù hợp với bảng kết luận kiểm nghiệm. Trong trường hợp bảng kết luận kiểm nghiệm và kết luận có một hoặc một số chất không đạt với tiêu chuẩn quốc gia quy định về chất lượng thì doanh nghiệp sản xuất phải điều chỉnh cho phù hợp. Khi có bảng kết luận kiểm nghiệm đạt yêu cầu đối với sản phẩm, doanh nghiệp dựa theo bảng kết luận này để xây dựng bảng tự công bố chất lượng.

Từ quy định này cho thấy, Nhà nước đồng thời giao quyền và trách nhiệm cho doanh nghiệp sản xuất sản phẩm. Chủ thể trên phải kiểm soát chất lượng đối với hàng hóa của doanh nghiệp mình và cơ quan quản lý thị trường sẽ hậu kiểm. Việc hàng hóa được kiểm nghiệm mẫu từ trung tâm, viện kiểm nghiệm chất lượng là theo định kỳ mà không phải bất cứ lô hàng nào cũng phải đi kiểm nghiệm. Do đó, xảy ra hai trường hợp, khi sản xuất các lô hàng sẽ có sự sai lệch về chất lượng hoặc khi lưu thông, mặc dù vẫn còn hạn sử dụng nhưng có những chất trong hàng hóa sẽ bay hơi tự nhiên dẫn đến khi cơ quan kiểm tra hàng hóa thì hàng hóa lưu thông này sẽ không còn chính xác với tiêu chuẩn công bố. Đây là lý do pháp luật phân định hai hành vi xử lý khác nhau giữa hàng giả và hàng không phù hợp với tiêu chuẩn công bố theo Nghị định số 98/2020/NĐ-CP và Nghị định số 119/2017/NĐ-CP.

Pháp luật quy định hai hành vi sai phạm này sẽ bị áp dụng các chế tài khác nhau nhưng xét về “câu chữ” thì giá trị sử dụng được xem xét với bản chất của hàng hóa hay là với mục đích của người sử dụng. Nếu là bản chất của hàng hóa phải đáp ứng hết công dụng của nó mới thỏa mãn quy định, còn nếu phù hợp với mục đích của người sử dụng thì có phần chưa phù hợp. Vì hiểu theo nghĩa “phù hợp với mục đích sử dụng của người sử dụng” thì trùng với “hàng hóa có chất lượng không phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố áp dụng”. Từ đó, hai hành vi này sẽ bị hiểu là giống nhau mà không phân định rõ ràng. Vì vậy, từ ngữ trong hai hành vi này cần phải sửa đổi hoặc nhập chung lại thành một. Cần phải giải thích “không phù hợp với giá trị sử dụng” mức độ như thế nào, không phù hợp hoàn toàn hay chỉ thiếu chỉ tiêu một chất thì được coi là không phù hợp với giá trị sử dụng (tức là 100% hay 70%, 50%, 30%, 1%) thì bị kết luận là không phù hợp với giá trị sử dụng. Còn “không có giá trị sử dụng” thì cần được phân định với “không phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố”. Vậy nên, cần phải điều chỉnh “không phù hợp với giá trị sử dụng” trong Nghị định số 98/2020/NĐ-CP.

3. Thực tiễn áp dụng xử lý vi phạm về hàng giả và hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố

Vụ việc thứ nhất[4]: Ngày 29/7/2022, Đội Quản lý thị trường đã kiểm tra mẫu đối với sản phẩm thực phẩm bổ sung dành cho người cao tuổi, tiểu đường và kết quả kiểm nghiệm là buôn bán hàng giả về giá trị sử dụng, công dụng với số lượng hàng giả. Xử phạt vi phạm trên theo điểm b khoản 4 Điều 4, điểm c khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP và điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định số 17/2022/NĐ-CP ngày 31/01/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp; điện lực, an toàn đập thủy điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; hoạt động dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí. Những điều khoản này áp dụng mức phạt đối với hành vi tương ứng là xử lý theo quy định về hàng giả về giá trị sử dụng, công dụng nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Vụ việc thứ hai[5]: Ngày 02/6/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã B ra quyết định xử phạt hành chính đối với hộ kinh doanh ABC với hành vi vi phạm là buôn bán hàng giả giá trị sử dụng, công dụng với thực phẩm bổ sung vi phạm khoản 1, khoản 2 Điều 9 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP. Sau đó, hộ kinh doanh này khiếu nại vì hành vi vi phạm này Ủy ban nhân dân nên áp dụng Điều 20 Nghị định số 119/2017/NĐ-CP là hàng hóa vi phạm chất lượng khi lưu thông trên thị trường, tuy nhiên, Ủy ban nhân dân không chấp nhận khiếu nại này mà vẫn giữ nguyên căn cứ áp dụng hành vi vi phạm, mức độ xử phạt nhưng chưa bị xem là tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 192, Điều 193 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) vì số tiền vẫn chưa đạt mức độ xử lý hình sự.

Vụ việc thứ ba[6]: Ngày 19/01/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với bà Thái Thị A với hành vi vi phạm buôn bán hàng giả giá trị sử dụng, công dụng đối với thực phẩm bột kem béo dinh dưỡng vi phạm khoản 1, khoản 2 Điều 9 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP. Vì số tiền thu lợi bất chính từ hành vi này chưa đến mức bị áp dụng theo khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015, tức là giá trị hàng hóa chưa đến 100.000.000 đồng và cũng không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3 Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Qua các vụ việc thực tiễn trên, Ủy ban nhân dân vẫn giữ quan điểm là áp dụng xử phạt theo Điều 9 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, phía doanh nghiệp cho rằng nên áp dụng Nghị định số 119/2017/NĐ-CP mới chính xác. Như đã phân tích, chính vì hai nghị định này không giải thích thế nào là “không phù hợp với giá trị sử dụng, công dụng” và “không phù hợp với chất lượng đã công bố”, đồng thời, mức phạt giữa hai nghị định này là khác nhau, nếu áp dụng quy định tại Nghị định số 98/2020/NĐ-CP là hàng giả mà mức phạt cao thì sẽ bị xử lý hình sự. Hơn nữa, khi cơ quan nhà nước lấy mẫu để kiểm nghiệm thì ấn định cơ quan kiểm nghiệm trong các trung tâm kiểm nghiệm. Vậy, nếu kết quả kiểm định giữa mẫu do cơ quan quản lý thị trường đem kiểm nghiệm với mẫu do doanh nghiệp đem kiểm nghiệm là khác nhau thì giải quyết như thế nào?

4. Một số ý kiến đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật và cơ chế áp dụng pháp luật

4.1. Sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật

Quy định về hàng giả mạo nhãn hiệu vẫn chưa thống nhất, theo đó, Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022 (Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005) xác định hàng giả mạo nhãn hiệu là nhãn hiệu có dấu hiệu tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu được bảo hộ, tuy nhiên, tại Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và điểm đ khoản 7 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP đưa ra khái niệm hàng giả không đồng nhất với định nghĩa tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 bằng cách liệt kê những hành vi xâm phạm. Như vậy, quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 về nhãn hiệu có chứa dấu hiệu tương tự đến mức “khó phân biệt” với nhãn hiệu đang được bảo hộ nên sửa thành “không phân biệt được” để phù hợp và thống nhất khi áp dụng trên thực tế đối với các hành vi xâm phạm đối với hàng giả.

Quy định về hàng giả tại Nghị định số 98/2020/NĐ-CP chưa phù hợp với quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Nếu muốn áp dụng xử phạt hàng giả mạo về nhãn hiệu theo Nghị định số 98/2020/NĐ-CP thì phải quy định thống nhất với nội dung quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; nếu áp dụng xử lý hình sự theo Điều 192, Điều 193 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội sản xuất, buôn bán hàng giả này là quy định khác. Do đó, nếu áp dụng Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP để xử lý hàng giả rồi chuyển qua hình sự do mức độ vi phạm nghiêm trọng thì chưa chính xác. Vì hàng giả theo Nghị định số 98/2020/NĐ-CP là giả mạo về nhãn hiệu, tức là có công ty làm hàng hóa nhưng xâm phạm nhãn hiệu của công ty đã bảo hộ, còn hàng giả theo Điều 192, Điều 193 Bộ luật Hình sự năm 2015 là sản xuất, buôn bán hàng giả, tức là ghi luôn tên của doanh nghiệp đã đăng ký trên thị trường.

Về hàng giả quy định tại điểm a khoản 7 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP có hai vế, hàng giả do không có giá trị sử dụng và hàng giả không phù hợp với giá trị sử dụng. Ở vế thứ nhất, tác giả đồng ý giữ nguyên vì quy định này không gây nhầm lẫn, khó hiểu khi áp dụng. Còn việc không phù hợp với giá trị sử dụng cần phải giải thích cụ thể là khi hàng hóa này có giá trị sử dụng bảo đảm 70% giá trị sử dụng thì phù hợp. Do đó, tác giả đề xuất bỏ quy định trong vế thứ hai tại điểm a khoản 7 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, vì những trường hợp này nên xử lý theo Nghị định số 119/2017/NĐ-CP. Nếu kiểm nghiệm mà thành phần chất chính không có và chất không đủ 70% thì chuyển xử lý theo điểm b khoản 7 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP.

4.2. Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật khi xử lý vi phạm đối với doanh nghiệp và cơ quan nhà nước

Đối với các doanh nghiệp, cần thiết phải đưa ra bảng công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa cho từng sản phẩm của mình phải phù hợp với tiêu chuẩn công bố quốc gia. Ngoài ra, doanh nghiệp cần lưu ý yếu tố “bay hơi tự nhiên” trên bảng công bố để khuyến nghị là phù hợp theo quy định. Cần phải giám sát từ kết quả kiểm nghiệm cho đến quy trình sản xuất, đóng gói và lưu thông hàng hóa để tránh trường hợp hàng hóa sản xuất không phù hợp với kết quả đã công bố.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước, cần phải xác định cho đúng tiêu chuẩn các chất trong sản phẩm và áp dụng quy định để xử lý phù hợp. Cụ thể, các chất chỉ bay hơi tự nhiên ở mức độ không đáng kể thì xử lý theo Nghị định số 119/2017/NĐ-CP; hành vi không phù hợp với giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa thì nên xử lý theo Nghị định số 119/2017/NĐ-CP. Cơ quan quản lý nhà nước không nên áp dụng Nghị định số 98/2020/NĐ-CP làm tăng nặng mức độ vi phạm, vì áp dụng như vậy là chưa chính xác. Điều này sẽ khuyến khích doanh nghiệp trong nước sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.

Như vậy, quy định về hàng giả, hàng không phù hợp với tiêu chuẩn công bố đã không còn phù hợp với thực tiễn xử lý như đã phân tích. Tác giả kiến nghị cần phải điều chỉnh đối với cơ chế quản lý về lĩnh vực hàng hóa trên. Từ đó, tránh trường hợp cơ quan quản lý nhà nước áp dụng xử lý các hành vi vi phạm tùy tiện, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp “làm ăn chân chính” phát triển, giảm thiểu vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.

TS. Lê Thị Tuyết Hà

Trưởng Bộ môn Luật Thương mại, Khoa Luật,

Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Xem Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022 (Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005).

[2]. Khoản 7 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP.

[3]. Thái Bình, Bộ Y tế công bố 55 cơ sở được chỉ định kiểm nghiệm về an toàn thực phẩm, https://suckhoedoisong.vn/bo-y-te-cong-bo-55-co-so-duoc-chi-dinh-kiem-nghiem-ve-an-toan-thuc-pham-169211103205437921.htm#:~:text=SK%C4%90S%20%20Trong%20danh%20s%C3%A1ch%2055%20c%C6%A1%20s%E1%BB%9F,Trang%2C%20m%E1%BB%99t%20s%E1%BB%91%20CDC%20c%C3%A1c%20t%E1%BB%89nh%2C%20th%C3%A0nh%20ph%E1%BB%91, truy cập ngày 10/11/2023.

[4]. Biên bản xử phạt hành chính số 56040056/BB-VPHC về buôn bán hàng giả ngày 13/10/2023 của Đội Quản lý thị trường số 4 thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đối với Công ty TNHH XYZ (đã sửa tên công ty).

[5]. Quyết định xử phạt số 1777/QĐ-XPHC của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã B về việc xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả ngày 02/6/2023 đối với hộ kinh doanh ABC (tên chủ sở hữu hộ kinh doanh, hộ kinh doanh đã được sửa tên).

[6]. Quyết định số 154/QĐ-XPVPHC về buôn bán hàng giả ngày 19/01/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V đối với bà Thái Thị A (tên người bị xử phạt đã thay đổi).

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 398), tháng 2/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: