Thứ ba 25/08/2026 15:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Abstract: Despite numerous changes to align with regulations on the organization of the state apparatus after restructuring and streamlining, the law on handling complaints in administrative violations still has some shortcomings and limitations, failing to meet practical demands, especially regarding the assurance of democracy in the supervision of law enforcement by competent authorities. This article analyzes the theoretical basis and current state of the law on handling complaints in administrative violations and proposes some recommendations for improvement to contribute to preventing corruption and negative practices, and ensuring the legality in the handling of administrative violations.

Đặt vấn đề “Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) là hoạt động phức tạp, có sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức với phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ khác nhau. Mặt khác, XLVPHC là hoạt động áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với tổ chức, cá nhân nên đòi hỏi tiến hành rất thận trọng, tuân thủ triệt để các quy định pháp luật cả về nội dung lẫn thủ tục”[1]. Trong thực tiễn thực thi, hoạt động XLVPHC luôn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh sai sót, nhầm lẫn, thậm chí là sự lạm quyền từ phía chủ thể có thẩm quyền, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp[2], đồng thời, làm suy giảm niềm tin của xã hội vào tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật. Trước yêu cầu đó, quy định giải quyết tố cáo (GQTC) trong XLVPHC để người dân tham gia giám sát quyền lực hành chính, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nâng cao hiệu quả hoạt động XLVPHC, đề cao trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Chính vì vậy, nghiên cứu pháp luật về GQTC trong XLVPHC là yêu cầu cấp thiết, mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

1. Khái niệm về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính

Theo quy định pháp luật Việt Nam, XLVPHC là chế định pháp lý rộng, bao gồm xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính (BPXLHC)[3]. Trong đó, XPVPHC là việc chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác (trong trường hợp cần thiết, theo quy định của pháp luật) đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm[4]; áp dụng các BPXLHC là việc chủ thể có thẩm quyền áp dụng một trong các biện pháp, gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự[5]. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật còn quy định các biện pháp ngăn chặn, bảo đảm XLVPHC và các biện pháp thay thế dành riêng cho người chưa thành niên, gồm biện pháp nhắc nhở, biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng, biện pháp quản lý tại gia đình nhằm tối ưu hóa tính nhân văn và hiệu quả quản lý[6].

Về bản chất, XLVPHC là một hoạt động công vụ, được thực hiện bởi cá nhân, cơ quan có thẩm quyền (như công chức, công an, bộ đội biên phòng,…). Do đó, bất kỳ sai sót nào trong quá trình XLVPHC đều được xác định là vi phạm trong thi hành công vụ. Các hành vi vi phạm có thể là hành vi thực hiện những hành vi bị cấm quy định tại Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung các năm 2020, 2024, 2025 (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) hoặc hành vi vi phạm các quy định khác của Luật này, của các nghị định về xử phạt trong các lĩnh vực và văn bản pháp luật khác có liên quan.

Các quốc gia trên thế giới quy định về tố cáo và GQTC theo hướng: tố cáo là quyền của người dân, gồm cả công dân và người nước ngoài, GQTC là trách nhiệm của Nhà nước. Có quan điểm cho rằng, tố cáo là việc cá nhân báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà họ cho rằng hành vi ấy vi phạm pháp luật[7]. Một số quan điểm khác cho rằng, “tố cáo là một hiện tượng xã hội, nó như một phản xạ có tính tự nhiên trước những quyết định hoặc hành vi của con người nhận thức là không đúng quy định, không phù hợp với những giá trị, chuẩn mực chung được Nhà nước hoặc xã hội thừa nhận”[8], hay “tố cáo là hiện tượng xảy ra trong mọi xã hội, thể hiện sự bức xúc, bất bình của người tố cáo trước một hành vi, việc làm của người khác mà bị coi là trái đạo đức, luân thường, đạo lý hay vi phạm pháp luật của nhà nước; vi phạm cam kết, điều lệ, nội quy, quy chế của tập thể, cơ quan, tổ chức, làm ảnh hưởng đến thanh danh hoặc xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo hoặc của cá nhân; của tập thể, cơ quan, tổ chức, đơn vị; lợi ích chung cộng đồng”[9].

Theo nghĩa tiếng Việt, “giải quyết là làm cho không còn thành vấn đề nữa”[10]. Dưới góc độ ngôn ngữ, GQTC có thể được hiểu là làm cho việc tố cáo không còn thành vấn đề nữa, các nội dung tố cáo đều được xem xét, xác minh, đánh giá và kết luận đúng hay sai. Dưới góc độ luật học, “GQTC là xem xét, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và ra quyết định xử lý theo trình tự và thủ tục do luật định đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân bị tố cáo là có hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức nào đó”[11]. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, GQTC là một chuỗi hoạt động mang tính chất pháp lý, được pháp luật quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục để xem xét, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và ra quyết định xử lý. Trong mối quan hệ với tố cáo, GQTC phát sinh trên cơ sở tố cáo của người dân, chỉ khi có hành vi tố cáo của người dân mới đặt ra trách nhiệm GQTC của Nhà nước[12].

Từ những phân tích trên, có thể hiểu GQTC trong XLVPHC là việc chủ thể có thẩm quyền thụ lý, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động XLVPHC (mà không phải là tội phạm) và ra quyết định xử lý theo quy định.

Hoạt động GQTC trong XLVPHC có ba đặc trưng cơ bản sau: (i) chủ thể bị tố cáo là người có thẩm quyền XLVPHC theo quy định của pháp luật; (ii) chủ thể có thẩm quyền GQTC là người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan, tổ chức có hành vi bị tố cáo; (iii) đối tượng GQTC là hành vi vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ về XLVPHC (mà không phải là tội phạm).

2. Quy định pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam

2.1. Đối tượng bị tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính

Khoản 2 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2018 sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Tố cáo năm 2018) quy định: “Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của các đối tượng sau đây:

a) Cán bộ, công chức, viên chức; người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

b) Người không còn là cán bộ, công chức, viên chức nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian là cán bộ, công chức, viên chức; người không còn được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

c) Cơ quan, tổ chức”.

Theo đó, đối tượng bị tố cáo về XLVPHC phải thỏa mãn hai điều kiện: (i) là cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, cá nhân khác có thẩm quyền XLVPHC theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và văn bản pháp luật có liên quan; (ii) có hành vi vi phạm khi XLVPHC hoặc từng có hành vi vi phạm khi XLVPHC trong thời gian công tác trước đây.

2.2. Thẩm quyền giải quyết tố cáo về xử lý vi phạm hành chính

Thứ nhất, thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với đối tượng bị tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức.

Về nguyên tắc chung, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý trực tiếp cán bộ, công chức, viên chức là người có thẩm quyền GQTC. Trường hợp đối tượng bị tố cáo là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu, thẩm quyền giải quyết thuộc về người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp.

Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp giải quyết.

Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo về hành vi vi phạm trong XLVPHC xảy ra trong thời gian công tác trước đây, nay đã chuyển sang cơ quan, tổ chức khác hoặc không còn là cán bộ, công chức, viên chức thì: (i) nếu đối tượng bị tố cáo là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu đã chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác mà vẫn giữ chức vụ tương đương thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức quản lý đối tượng bị tố cáo tại thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đang quản lý đối tượng bị tố cáo phối hợp giải quyết; (ii) nếu đối tượng bị tố cáo đã chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác và giữ chức vụ cao hơn thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức đang quản lý đối tượng bị tố cáo chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý đối tượng bị tố cáo tại thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật phối hợp giải quyết. Trường hợp đối tượng bị tố cáo đã chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác và là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức đã quản lý đối tượng bị tố cáo tại thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật phối hợp giải quyết; (iii) nếu đối tượng bị tố cáo đã chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác mà không thuộc hai trường hợp trên thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý đối tượng bị tố cáo tại thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức đang quản lý đối tượng bị tố cáo phối hợp giải quyết; (iv) nếu đối tượng bị tố cáo không còn là cán bộ, công chức, viên chức thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý đối tượng bị tố cáo tại thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp giải quyết.

Đối với trường hợp đối tượng bị tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức sau hợp nhất, sáp nhập, chia, tách mà đối tượng bị tố cáo đang công tác chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp giải quyết. Đối với trường hợp tố cáo cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức đã bị giải thể thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý cơ quan, tổ chức trước khi bị giải thể giải quyết.

Thứ hai, thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với đối tượng bị tố cáo là cơ quan, tổ chức.

Trường hợp đối tượng bị tố cáo là cơ quan, tổ chức liên quan đến việc XLVPHC thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có thẩm quyền GQTC.

2.3. Một số bất cập trong quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính

Thứ nhất, phân tán thẩm quyền tiếp nhận tố cáo.

Hiện, pháp luật quy định thẩm quyền tiếp nhận tố cáo cho nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau, trong đó có các cơ quan báo chí… Quy định này tạo điều kiện thuận lợi để người dân thực hiện quyền giám sát, đồng thời, phát huy vai trò của báo chí như một kênh kiểm soát quyền lực xã hội, bởi : “Báo chí có vai trò quan trọng trong việc tạo áp lực để các cơ quan chức năng phải tăng cường trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng, tiêu cực. Ngoài ra, báo chí cũng phản ánh đa chiều, khách quan, công bằng về các vụ việc liên quan đến tham nhũng, tiêu cực”[13]. Tuy nhiên, từ góc độ quản trị hành chính, quy định này cũng bộc lộ một số bất cập. Người tố cáo (vì nhiều lí do) có xu hướng gửi đơn đồng thời đến nhiều cơ quan khác nhau hoặc gửi không đúng nơi có thẩm quyền, dẫn đến việc các cơ quan không có thẩm quyền GQTC phải thực hiện việc chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền GQTC, sau khi giải quyết phải thông báo kết quả cho các cơ quan đã chuyển đơn để bảo đảm việc giám sát. Quá trình này gây lãng phí về thời gian và nguồn lực. Ngoài ra, việc duy trì cơ chế tiếp nhận tố cáo phân tán này không còn phù hợp với bối cảnh hiện đại hóa quản trị công và chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, về thời hạn GQTC.

Điều 30 Luật Tố cáo năm 2018 quy định thời hạn GQTC là không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo. Vụ việc phức tạp[14] có thể gia hạn GQTC một lần nhưng không quá 30 ngày. Đối với vụ việc đặc biệt phức tạp (là vụ việc có từ 02 tiêu chí trở lên được quy định là tiêu chí xác định vụ việc phức tạp nêu trên) thì có thể gia hạn GQTC hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày. Theo quy định này, thời hạn GQTC ít nhất là 60 ngày và nhiều nhất là 150 ngày kể từ ngày thụ lý GQTC. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy khung thời gian này thường xuyên bị “quá tải” bởi đặc thù của hồ sơ XLVPHC thường liên quan đến nhiều bên, nhiều tang vật có thể bị phân tán hoặc cần sự giám định chuyên môn nên việc thu thập tài liệu, chứng cứ thường mất nhiều thời gian; nhiều vụ việc dù đã hết thời gian được phép gia hạn, thậm chí trễ hạn từ 02 đến 03 tháng nhưng vẫn chưa thu thập đủ tài liệu cần thiết để giải quyết triệt để nội dung tố cáo của người dân; bên cạnh đó, các tiêu chí xác định vụ việc phức tạp đôi khi chưa bao quát hết các trường hợp phát sinh trên thực tế. Vì vậy, yêu cầu việc GQTC theo đúng thời hạn pháp luật quy định với những trường hợp đặc biệt gặp nhiều khó khăn.

Thứ ba, về trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm quy định về GQTC.

Điều 22 Mục 3 Chương III Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo quy định, người có thẩm quyền GQTC lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc GQTC để thực hiện hành vi trái pháp luật; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo dẫn đến việc người tố cáo bị trả thù, trù dập chỉ bị áp dụng hình thức kỷ luật khiển trách. Người có thẩm quyền GQTC có hành vi tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo; cố ý không thụ lý tố cáo, không ban hành kết luận nội dung tố cáo; không quyết định xử lý tố cáo theo thẩm quyền hoặc không kiến nghị người có thẩm quyền xử lý tố cáo chỉ bị áp dụng hình thức kỷ luật cảnh cáo. Quy định này không bảo đảm tính nghiêm khắc, chưa đủ sức răn đe đối với những người làm nhiệm vụ GQTC, đồng thời, gây tâm lý e ngại, lo sợ bị trả thù cho người dân. Điều này vô hình trung làm triệt tiêu động lực tham gia giám sát quyền lực nhà nước, làm cho mục tiêu của chế định tố cáo trở nên khó đạt được trên thực tế.

Thứ tư, về bảo vệ người tố cáo.

Điểm a khoản 2 Điều 53 Luật Tố cáo năm 2018 quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc áp dụng biện pháp bảo vệ có trách nhiệm: “Thực hiện kịp thời, đầy đủ yêu cầu, đề nghị của cơ quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Trường hợp không thực hiện được yêu cầu, đề nghị đó thì phải báo cáo hoặc thông báo ngay bằng văn bản và nêu rõ lý do đến cơ quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ”. Quy định này thiếu rõ ràng trong xác định trách nhiệm pháp lý, vì chỉ yêu cầu “thực hiện kịp thời, đầy đủ yêu cầu, đề nghị của cơ quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ”, mà không xác định rõ cơ chế cưỡng chế hay chế tài cụ thể trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan không thực hiện hoặc chậm thực hiện. Việc “báo cáo hoặc thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do” không đủ để bảo đảm quyền được bảo vệ của người tố cáo, nhất là trong các tình huống khẩn cấp, có nguy cơ bị trả thù, trù dập.

Hiện, pháp luật chưa đưa ra tiêu chí định lượng để đánh giá thế nào là “không thực hiện được” yêu cầu bảo vệ, cơ quan nào có thẩm quyền kiểm tra, xác minh lý do “không thực hiện được”. Điều này dẫn đến tình trạng không xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng khi biện pháp bảo vệ không được triển khai kịp thời và chưa thiết lập được quy trình phối hợp liên cơ quan thống nhất, bắt buộc trong việc triển khai các biện pháp bảo vệ.

Ngoài ra, nhiều quy định quan trọng về bảo vệ người tố cáo không được quy định trong Luật Tố cáo năm 2018, mà nằm rải rác ở các văn bản dưới luật như nghị định và thông tư. Việc chưa “luật hóa” các nội dung này làm giảm tính thống nhất, tính ổn định và hiệu lực thi hành, gây khó khăn cho người dân trong tiếp cận và yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính

Một là, xây dựng mô hình một đầu mối tiếp nhận, xử lý ban đầu thông tin tố cáo.

Nhằm khắc phục tình trạng phân tán thẩm quyền và lãng phí nguồn lực, cần xây dựng một cơ quan đầu mối có thẩm quyền tiếp nhận và xử lý ban đầu thông tin tố cáo trên phạm vi toàn quốc - có thể là một cơ quan thuộc Thanh tra Chính phủ. Cơ quan này chịu trách nhiệm số hóa toàn bộ đơn tố cáo, vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, tự động phân loại và chuyển đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền, đồng thời, giám sát tiến độ, kết quả giải quyết, bảo đảm tính minh bạch và khả năng kiểm tra, đối chiếu thông tin kịp thời. Mô hình “một đầu mối” thể hiện tư duy cải cách hành chính hiện đại, phân tách giữa chức năng tiếp nhận, sàng lọc thông tin và chức năng GQTC. Cơ chế này khắc phục tình trạng tiếp nhận phân tán, giúp thống nhất quy trình, hạn chế việc gửi đơn sai nơi, sai thẩm quyền. Đồng thời, việc tập trung một cơ quan đầu mối giúp hình thành đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, am hiểu pháp lý, bảo đảm tính nhất quán trong đánh giá, phân loại nội dung tố cáo; kiểm soát chặt chẽ quá trình chuyển giao đơn thư, truy vết rõ ràng, minh bạch và giảm nguy cơ thất lạc, can thiệp. Người dân chỉ cần nộp đơn tại một địa chỉ duy nhất, không phải tự xác định cơ quan có thẩm quyền, qua đó, tiết kiệm thời gian, chi phí và được hỗ trợ, hướng dẫn đầy đủ, bảo đảm bí mật thông tin về người tố cáo. Mô hình này còn giúp hình thành cơ sở dữ liệu tập trung về tố cáo, phục vụ phân tích, thống kê, dự báo tình hình vi phạm và tham nhũng trên phạm vi toàn quốc về XLVPHC. Đồng thời, Thanh tra Chính phủ có thể dễ dàng theo dõi số lượng tố cáo tại các địa phương, ngành, lĩnh vực, nhận diện được các “điểm nóng”, các lĩnh vực XLVPHC dễ phát sinh tiêu cực, từ đó, có thể đưa ra các cảnh báo, kế hoạch thanh tra đột xuất và đánh giá khách quan trách nhiệm giải trình của người đứng đầu tại các địa phương.

Hai là, hoàn thiện quy định về thời hạn GQTC.

Cần nghiên cứu kéo dài thời hạn GQTC đối với các vụ việc có tính chất đặc thù. Việc gia hạn cần căn cứ trên khối lượng công việc thực tế, thay vì áp đặt một con số cố định thiếu khả thi cho mọi trường hợp. Quy định rõ thời hạn thực hiện cho các cơ quan, người có trách nhiệm phối hợp khi có yêu cầu; bổ sung quy định về việc liên đới chịu trách nhiệm của các chủ thể có liên quan khi để xảy ra tình trạng chậm trễ trong GQTC. Bên cạnh đó, cho phép người GQTC xem xét xử lý kỷ luật, đánh giá cán bộ, công chức hoặc kiến nghị với chủ thể có thẩm quyền xem xét xử lý kỷ luật, đánh giá cán bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ phối hợp trong GQTC.

Ba là, hoàn thiện quy định về trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm quy định về GQTC.

Cần sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến kỷ luật cán bộ, công chức theo hướng gia tăng trách nhiệm kỷ luật đối với cán bộ, công chức sai phạm trong tiếp nhận, GQTC, có thể áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất là hình thức kỷ luật cách chức đối với cán bộ và buộc thôi việc đối với công chức. Ngoài ra, cần quy định rõ trách nhiệm hoàn trả đối với các chủ thể này nếu để lộ thông tin người tố cáo dẫn đến thiệt hại cho ngân sách nhà nước trong việc chi trả cho việc bảo vệ người tố cáo, thậm chí phải bồi thường cho người tố cáo khi tố cáo của họ được kết luận là tố cáo không đúng, đúng một phần nhưng vì lộ thông tin dẫn đến họ bị người bị tố cáo kiện đòi bồi thường dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hoặc bị tố cáo ngược vì hành vi vu khống, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Đồng thời, cần bổ sung vào các nghị định về kỷ luật công chức, viên chức các hành vi vi phạm nghĩa vụ trong tiếp nhận và GQTC như: không vào sổ nhận đơn, không sử dụng Hệ thống dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo và các hành vi khác gây khó khăn, sai sót trong quá trình nắm bắt số lượng tố cáo của cơ quan quản lý…

Cần sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 22 Nghị định số 31/2019/NĐ-CP theo hướng không chỉ xử lý khi người tố cáo bị xâm hại về sức khỏe, tính mạng. Trách nhiệm pháp lý của người có thẩm quyền phải được đặt ra ngay cả khi người tố cáo chịu những tổn thất phi vật chất như: bị bôi nhọ danh dự, gây áp lực tâm lý, bị điều chuyển vị trí công tác bất hợp lý, hoặc bị tước bỏ các cơ hội quy hoạch, đào tạo và bổ nhiệm. Đồng thời, cần quy định, hướng dẫn chi tiết về tiêu chí xác định các tổn hại về tinh thần và tổn hại phi vật chất khác, cũng như khôi phục các giá trị này cho người tố cáo để bảo đảm quyền lợi cho họ.

Ngoài ra, cần nghiên cứu, bổ sung quy định nghiêm cấm và xử lý nghiêm các hành vi “phân biệt đối xử” đối với người tố cáo trong quá trình họ thực hiện các thủ tục hành chính hoặc hưởng các chế độ chính sách xã hội tại địa phương/cơ quan. Việc cố tình chậm trễ, gây khó khăn hoặc cắt giảm các phúc lợi chính đáng của người tố cáo phải được xem là hành vi vi phạm kỷ luật nghiêm trọng.

Bốn là, hoàn thiện quy định về bảo vệ người tố cáo.

Cần sửa đổi điểm a khoản 1 Điều 53 Luật Tố cáo năm 2018 theo hướng: “Trường hợp không thực hiện được yêu cầu, đề nghị đó thì phải báo cáo đến cấp có thẩm quyền để họ áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc thông báo ngay bằng văn bản và nêu rõ lý do đến cơ quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ” để bảo đảm các biện pháp bảo vệ người tố cáo chắc chắn được thực hiện kịp thời, đầy đủ, hiệu quả trên thực tế. Bên cạnh đó, cần quy định cụ thể hơn nội dung các biện pháp bảo vệ. Đối với việc bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo, cần quy định ngay trong Luật Tố cáo năm 2018 việc xóa các thông tin người tố cáo khi thụ lý giải quyết tố cáo. Đối với việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, nhân phẩm, danh dự của người được bảo vệ, cần quy định rõ, cụ thể ngay trong Luật Tố cáo năm 2018 về các biện pháp: bảo vệ tại chỗ; thay đổi nơi ở, đưa người được bảo vệ đến nơi an toàn trên cơ sở bảo đảm các điều kiện sinh hoạt, học tập, lao động cho họ và thân nhân của họ. Cần luật hóa các quy định tại Thông tư số 03/2020/TT-BNV ngày 21/7/2020 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là quy định: Không thực hiện việc điều động, luân chuyển, biệt phái, chuyển đổi vị trí việc làm, phân công công việc khác đối với người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức trong thời gian được bảo vệ… Không xử lý kỷ luật người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức trong thời gian được bảo vệ, trừ trường hợp người đó có hành vi vi phạm không liên quan đến lĩnh vực tố cáo. Quy định này vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy cán bộ, công chức, người làm việc trong các cơ quan nhà nước giám sát việc thực hiện pháp luật về XLVPHC của các chủ thể khác trong cơ quan, đơn vị mình.

Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong GQTC.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ mà phải trở thành nền tảng cốt lõi để đổi mới phương thức GQTC, hướng tới sự công khai, minh bạch và hiệu quả đột phá. Cần xây dựng và vận hành một nền tảng số dùng chung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, quản lý tất cả các khâu từ tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đến theo dõi, quản lý và GQTC. Có thể tích hợp tính năng tố cáo qua ứng dụng định danh điện tử (VNeID) cho phép người dân sử dụng tài khoản định danh điện tử cấp độ 2 trên VNeID để tố cáo, giúp xác thực chính xác danh tính người tố cáo, hạn chế tình trạng đơn thư nặc danh, mạo danh. Cơ quan đầu mối tiếp nhận sẽ phân loại, xử lý ban đầu thông tin tố cáo và chuyển đến chủ thể có thẩm quyền giải quyết, liên thông dữ liệu để bảo đảm người GQTC có thể thu thập, xác minh thông tin nhanh chóng, hiệu quả, chính xác, tiết kiệm chi phí. Ngoài ra, người tố cáo cũng có thể theo dõi được tiến độ GQTC để kịp thời bảo vệ quyền tố cáo của mình, phát huy dân chủ, quyền giám sát của người dân đối với người có thẩm quyền giải quyết tố cáo về XLVPHC.

Kết luận GQTC trong XLVPHC có vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa nguyên tắc pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. GQTC là công cụ để bảo đảm sự công bằng, minh bạch trong quản lý hành chính; là cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu từ phía Nhân dân; giúp phát hiện và khắc phục những bất cập của hệ thống pháp luật và hoàn thiện tổ chức bộ máy công vụ. Vì vậy, cần hoàn thiện pháp luật về GQTC trong XLVPHC để tiến tới một Nhà nước pháp quyền thực chất, nơi pháp luật thực sự là tối thượng và quyền con người, quyền công dân được bảo đảm, bảo vệ./.

TS. Hoàng Thị Lan Phương

Giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội

Ảnh: Internet

[1]. PTS. TS. Trần Minh Hương (1999), Bàn thêm về xử lý vi phạm hành chính, Tạp chí Luật học, số 4, tr. 16.

[2]. Hoàng Hưng (2020), Bị lập biên bản vi phạm hành chính sai, 5 năm đi kiện và đã thắng kiện, https://danviet.vn/bi-lap-bien-ban-vi-pham-hanh-chinh-sai-5-nam-di-kien-va-da-thang-kien-20201001143218722-d911449.html, truy cập ngày 12/01/2026.

[3]. Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[4]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 349.

[5]. Khoản 3 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[6]. Khoản 4 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[7]. Hoàng Thị Lan Phương (2024), Quyền tố cáo của công dân theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 42.

[8]. Ngô Mạnh Toan (2007), Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 13.

[9]. Mai Văn Duẩn (2017), Pháp luật về bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội tr. 42.

[10]. Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, tr. 388.

[11]. Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 287.

[12]. Hoàng Thị Lan Phương (2025), Giải quyết tố cáo trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam, đề tài khoa học cấp cơ sở, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 20.

[13]. Nguyễn Phú Trọng (2023), Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Một việc làm cần thiết, tất yếu; một xu thế không thể đảo ngược (Tập 2), Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr. 229.

[14]. Vụ việc phức tạp là vụ việc có một trong các tiêu chí sau: Tố cáo về một nội dung nhưng phải xác minh từ 02 địa điểm trở lên; Tố cáo có từ 02 nội dung phải xác minh trở lên; Nhiều người tố cáo về cùng một nội dung hoặc nội dung tố cáo liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều người; Tố cáo có yếu tố nước ngoài: người tố cáo ở nước ngoài hoặc là người nước ngoài; hành vi bị tố cáo xảy ra ở nước ngoài; nội dung tố cáo phải xác minh ở nước ngoài; Nội dung tố cáo liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức; Các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình giải quyết tố cáo còn ý kiến khác nhau; Có tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thời gian kiểm tra, xác minh, đánh giá hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn (khoản 2 Điều 3 Nghị định 31/2019/NĐ-CP).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Tư pháp (2025), Báo cáo số 66/BC-BTP Báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2024.

2. Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

3. Hoàng Hưng (2020), Bị lập biên bản vi phạm hành chính sai, 5 năm đi kiện và đã thắng kiện, https://danviet.vn/bi-lap-bien-ban-vi-pham-hanh-chinh-sai-5-nam-di-kien-va-da-thang-kien-20201001143218722-d911449.html, truy cập ngày 12/01/2026.

4. Hoàng Thị Lan Phương (2024), Quyền tố cáo của công dân theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

5. Hoàng Thị Lan Phương (2025), Giải quyết tố cáo trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Trường Đại học Luật Hà Nội.

6. Mai Văn Duẩn (2017), Pháp luật về bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

7. Ngô Mạnh Toan (2007), Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

8. Nguyễn Phú Trọng (2023), Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Một việc làm cần thiết, tất yếu; một xu thế không thể đảo ngược (Tập 2), Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật.

9. Trần Minh Hương (1999), Tạp chí Luật học, số 4.

10. Trường Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân.

11. Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (445) tháng 1/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: