Thứ tư 01/04/2026 02:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Abstract: Despite numerous changes to align with regulations on the organization of the state apparatus after restructuring and streamlining, the law on handling complaints in administrative violations still has some shortcomings and limitations, failing to meet practical demands, especially regarding the assurance of democracy in the supervision of law enforcement by competent authorities. This article analyzes the theoretical basis and current state of the law on handling complaints in administrative violations and proposes some recommendations for improvement to contribute to preventing corruption and negative practices, and ensuring the legality in the handling of administrative violations.

Đặt vấn đề “Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) là hoạt động phức tạp, có sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức với phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ khác nhau. Mặt khác, XLVPHC là hoạt động áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với tổ chức, cá nhân nên đòi hỏi tiến hành rất thận trọng, tuân thủ triệt để các quy định pháp luật cả về nội dung lẫn thủ tục”[1]. Trong thực tiễn thực thi, hoạt động XLVPHC luôn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh sai sót, nhầm lẫn, thậm chí là sự lạm quyền từ phía chủ thể có thẩm quyền, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp[2], đồng thời, làm suy giảm niềm tin của xã hội vào tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật. Trước yêu cầu đó, quy định giải quyết tố cáo (GQTC) trong XLVPHC để người dân tham gia giám sát quyền lực hành chính, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nâng cao hiệu quả hoạt động XLVPHC, đề cao trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Chính vì vậy, nghiên cứu pháp luật về GQTC trong XLVPHC là yêu cầu cấp thiết, mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

1. Khái niệm về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính

Theo quy định pháp luật Việt Nam, XLVPHC là chế định pháp lý rộng, bao gồm xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính (BPXLHC)[3]. Trong đó, XPVPHC là việc chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác (trong trường hợp cần thiết, theo quy định của pháp luật) đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm[4]; áp dụng các BPXLHC là việc chủ thể có thẩm quyền áp dụng một trong các biện pháp, gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự[5]. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật còn quy định các biện pháp ngăn chặn, bảo đảm XLVPHC và các biện pháp thay thế dành riêng cho người chưa thành niên, gồm biện pháp nhắc nhở, biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng, biện pháp quản lý tại gia đình nhằm tối ưu hóa tính nhân văn và hiệu quả quản lý[6].

Về bản chất, XLVPHC là một hoạt động công vụ, được thực hiện bởi cá nhân, cơ quan có thẩm quyền (như công chức, công an, bộ đội biên phòng,…). Do đó, bất kỳ sai sót nào trong quá trình XLVPHC đều được xác định là vi phạm trong thi hành công vụ. Các hành vi vi phạm có thể là hành vi thực hiện những hành vi bị cấm quy định tại Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung các năm 2020, 2024, 2025 (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) hoặc hành vi vi phạm các quy định khác của Luật này, của các nghị định về xử phạt trong các lĩnh vực và văn bản pháp luật khác có liên quan.

Các quốc gia trên thế giới quy định về tố cáo và GQTC theo hướng: tố cáo là quyền của người dân, gồm cả công dân và người nước ngoài, GQTC là trách nhiệm của Nhà nước. Có quan điểm cho rằng, tố cáo là việc cá nhân báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà họ cho rằng hành vi ấy vi phạm pháp luật[7]. Một số quan điểm khác cho rằng, “tố cáo là một hiện tượng xã hội, nó như một phản xạ có tính tự nhiên trước những quyết định hoặc hành vi của con người nhận thức là không đúng quy định, không phù hợp với những giá trị, chuẩn mực chung được Nhà nước hoặc xã hội thừa nhận”[8], hay “tố cáo là hiện tượng xảy ra trong mọi xã hội, thể hiện sự bức xúc, bất bình của người tố cáo trước một hành vi, việc làm của người khác mà bị coi là trái đạo đức, luân thường, đạo lý hay vi phạm pháp luật của nhà nước; vi phạm cam kết, điều lệ, nội quy, quy chế của tập thể, cơ quan, tổ chức, làm ảnh hưởng đến thanh danh hoặc xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo hoặc của cá nhân; của tập thể, cơ quan, tổ chức, đơn vị; lợi ích chung cộng đồng”[9].

Theo nghĩa tiếng Việt, “giải quyết là làm cho không còn thành vấn đề nữa”[10]. Dưới góc độ ngôn ngữ, GQTC có thể được hiểu là làm cho việc tố cáo không còn thành vấn đề nữa, các nội dung tố cáo đều được xem xét, xác minh, đánh giá và kết luận đúng hay sai. Dưới góc độ luật học, “GQTC là xem xét, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và ra quyết định xử lý theo trình tự và thủ tục do luật định đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân bị tố cáo là có hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức nào đó”[11]. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, GQTC là một chuỗi hoạt động mang tính chất pháp lý, được pháp luật quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục để xem xét, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và ra quyết định xử lý. Trong mối quan hệ với tố cáo, GQTC phát sinh trên cơ sở tố cáo của người dân, chỉ khi có hành vi tố cáo của người dân mới đặt ra trách nhiệm GQTC của Nhà nước[12].

Từ những phân tích trên, có thể hiểu GQTC trong XLVPHC là việc chủ thể có thẩm quyền thụ lý, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động XLVPHC (mà không phải là tội phạm) và ra quyết định xử lý theo quy định.

Hoạt động GQTC trong XLVPHC có ba đặc trưng cơ bản sau: (i) chủ thể bị tố cáo là người có thẩm quyền XLVPHC theo quy định của pháp luật; (ii) chủ thể có thẩm quyền GQTC là người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan, tổ chức có hành vi bị tố cáo; (iii) đối tượng GQTC là hành vi vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ về XLVPHC (mà không phải là tội phạm).

2. Quy định pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam

2.1. Đối tượng bị tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính

Khoản 2 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2018 sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Tố cáo năm 2018) quy định: “Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của các đối tượng sau đây:

a) Cán bộ, công chức, viên chức; người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

b) Người không còn là cán bộ, công chức, viên chức nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian là cán bộ, công chức, viên chức; người không còn được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

c) Cơ quan, tổ chức”.

Theo đó, đối tượng bị tố cáo về XLVPHC phải thỏa mãn hai điều kiện: (i) là cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, cá nhân khác có thẩm quyền XLVPHC theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và văn bản pháp luật có liên quan; (ii) có hành vi vi phạm khi XLVPHC hoặc từng có hành vi vi phạm khi XLVPHC trong thời gian công tác trước đây.

2.2. Thẩm quyền giải quyết tố cáo về xử lý vi phạm hành chính

Thứ nhất, thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với đối tượng bị tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức.

Về nguyên tắc chung, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý trực tiếp cán bộ, công chức, viên chức là người có thẩm quyền GQTC. Trường hợp đối tượng bị tố cáo là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu, thẩm quyền giải quyết thuộc về người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp.

Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp giải quyết.

Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo về hành vi vi phạm trong XLVPHC xảy ra trong thời gian công tác trước đây, nay đã chuyển sang cơ quan, tổ chức khác hoặc không còn là cán bộ, công chức, viên chức thì: (i) nếu đối tượng bị tố cáo là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu đã chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác mà vẫn giữ chức vụ tương đương thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức quản lý đối tượng bị tố cáo tại thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đang quản lý đối tượng bị tố cáo phối hợp giải quyết; (ii) nếu đối tượng bị tố cáo đã chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác và giữ chức vụ cao hơn thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức đang quản lý đối tượng bị tố cáo chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý đối tượng bị tố cáo tại thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật phối hợp giải quyết. Trường hợp đối tượng bị tố cáo đã chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác và là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức đã quản lý đối tượng bị tố cáo tại thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật phối hợp giải quyết; (iii) nếu đối tượng bị tố cáo đã chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác mà không thuộc hai trường hợp trên thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý đối tượng bị tố cáo tại thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức đang quản lý đối tượng bị tố cáo phối hợp giải quyết; (iv) nếu đối tượng bị tố cáo không còn là cán bộ, công chức, viên chức thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý đối tượng bị tố cáo tại thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp giải quyết.

Đối với trường hợp đối tượng bị tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức sau hợp nhất, sáp nhập, chia, tách mà đối tượng bị tố cáo đang công tác chủ trì giải quyết; người đứng đầu cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp giải quyết. Đối với trường hợp tố cáo cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức đã bị giải thể thì do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý cơ quan, tổ chức trước khi bị giải thể giải quyết.

Thứ hai, thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với đối tượng bị tố cáo là cơ quan, tổ chức.

Trường hợp đối tượng bị tố cáo là cơ quan, tổ chức liên quan đến việc XLVPHC thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có thẩm quyền GQTC.

2.3. Một số bất cập trong quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính

Thứ nhất, phân tán thẩm quyền tiếp nhận tố cáo.

Hiện, pháp luật quy định thẩm quyền tiếp nhận tố cáo cho nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau, trong đó có các cơ quan báo chí… Quy định này tạo điều kiện thuận lợi để người dân thực hiện quyền giám sát, đồng thời, phát huy vai trò của báo chí như một kênh kiểm soát quyền lực xã hội, bởi : “Báo chí có vai trò quan trọng trong việc tạo áp lực để các cơ quan chức năng phải tăng cường trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng, tiêu cực. Ngoài ra, báo chí cũng phản ánh đa chiều, khách quan, công bằng về các vụ việc liên quan đến tham nhũng, tiêu cực”[13]. Tuy nhiên, từ góc độ quản trị hành chính, quy định này cũng bộc lộ một số bất cập. Người tố cáo (vì nhiều lí do) có xu hướng gửi đơn đồng thời đến nhiều cơ quan khác nhau hoặc gửi không đúng nơi có thẩm quyền, dẫn đến việc các cơ quan không có thẩm quyền GQTC phải thực hiện việc chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền GQTC, sau khi giải quyết phải thông báo kết quả cho các cơ quan đã chuyển đơn để bảo đảm việc giám sát. Quá trình này gây lãng phí về thời gian và nguồn lực. Ngoài ra, việc duy trì cơ chế tiếp nhận tố cáo phân tán này không còn phù hợp với bối cảnh hiện đại hóa quản trị công và chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, về thời hạn GQTC.

Điều 30 Luật Tố cáo năm 2018 quy định thời hạn GQTC là không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo. Vụ việc phức tạp[14] có thể gia hạn GQTC một lần nhưng không quá 30 ngày. Đối với vụ việc đặc biệt phức tạp (là vụ việc có từ 02 tiêu chí trở lên được quy định là tiêu chí xác định vụ việc phức tạp nêu trên) thì có thể gia hạn GQTC hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày. Theo quy định này, thời hạn GQTC ít nhất là 60 ngày và nhiều nhất là 150 ngày kể từ ngày thụ lý GQTC. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy khung thời gian này thường xuyên bị “quá tải” bởi đặc thù của hồ sơ XLVPHC thường liên quan đến nhiều bên, nhiều tang vật có thể bị phân tán hoặc cần sự giám định chuyên môn nên việc thu thập tài liệu, chứng cứ thường mất nhiều thời gian; nhiều vụ việc dù đã hết thời gian được phép gia hạn, thậm chí trễ hạn từ 02 đến 03 tháng nhưng vẫn chưa thu thập đủ tài liệu cần thiết để giải quyết triệt để nội dung tố cáo của người dân; bên cạnh đó, các tiêu chí xác định vụ việc phức tạp đôi khi chưa bao quát hết các trường hợp phát sinh trên thực tế. Vì vậy, yêu cầu việc GQTC theo đúng thời hạn pháp luật quy định với những trường hợp đặc biệt gặp nhiều khó khăn.

Thứ ba, về trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm quy định về GQTC.

Điều 22 Mục 3 Chương III Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo quy định, người có thẩm quyền GQTC lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc GQTC để thực hiện hành vi trái pháp luật; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo dẫn đến việc người tố cáo bị trả thù, trù dập chỉ bị áp dụng hình thức kỷ luật khiển trách. Người có thẩm quyền GQTC có hành vi tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo; cố ý không thụ lý tố cáo, không ban hành kết luận nội dung tố cáo; không quyết định xử lý tố cáo theo thẩm quyền hoặc không kiến nghị người có thẩm quyền xử lý tố cáo chỉ bị áp dụng hình thức kỷ luật cảnh cáo. Quy định này không bảo đảm tính nghiêm khắc, chưa đủ sức răn đe đối với những người làm nhiệm vụ GQTC, đồng thời, gây tâm lý e ngại, lo sợ bị trả thù cho người dân. Điều này vô hình trung làm triệt tiêu động lực tham gia giám sát quyền lực nhà nước, làm cho mục tiêu của chế định tố cáo trở nên khó đạt được trên thực tế.

Thứ tư, về bảo vệ người tố cáo.

Điểm a khoản 2 Điều 53 Luật Tố cáo năm 2018 quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc áp dụng biện pháp bảo vệ có trách nhiệm: “Thực hiện kịp thời, đầy đủ yêu cầu, đề nghị của cơ quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Trường hợp không thực hiện được yêu cầu, đề nghị đó thì phải báo cáo hoặc thông báo ngay bằng văn bản và nêu rõ lý do đến cơ quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ”. Quy định này thiếu rõ ràng trong xác định trách nhiệm pháp lý, vì chỉ yêu cầu “thực hiện kịp thời, đầy đủ yêu cầu, đề nghị của cơ quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ”, mà không xác định rõ cơ chế cưỡng chế hay chế tài cụ thể trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan không thực hiện hoặc chậm thực hiện. Việc “báo cáo hoặc thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do” không đủ để bảo đảm quyền được bảo vệ của người tố cáo, nhất là trong các tình huống khẩn cấp, có nguy cơ bị trả thù, trù dập.

Hiện, pháp luật chưa đưa ra tiêu chí định lượng để đánh giá thế nào là “không thực hiện được” yêu cầu bảo vệ, cơ quan nào có thẩm quyền kiểm tra, xác minh lý do “không thực hiện được”. Điều này dẫn đến tình trạng không xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng khi biện pháp bảo vệ không được triển khai kịp thời và chưa thiết lập được quy trình phối hợp liên cơ quan thống nhất, bắt buộc trong việc triển khai các biện pháp bảo vệ.

Ngoài ra, nhiều quy định quan trọng về bảo vệ người tố cáo không được quy định trong Luật Tố cáo năm 2018, mà nằm rải rác ở các văn bản dưới luật như nghị định và thông tư. Việc chưa “luật hóa” các nội dung này làm giảm tính thống nhất, tính ổn định và hiệu lực thi hành, gây khó khăn cho người dân trong tiếp cận và yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính

Một là, xây dựng mô hình một đầu mối tiếp nhận, xử lý ban đầu thông tin tố cáo.

Nhằm khắc phục tình trạng phân tán thẩm quyền và lãng phí nguồn lực, cần xây dựng một cơ quan đầu mối có thẩm quyền tiếp nhận và xử lý ban đầu thông tin tố cáo trên phạm vi toàn quốc - có thể là một cơ quan thuộc Thanh tra Chính phủ. Cơ quan này chịu trách nhiệm số hóa toàn bộ đơn tố cáo, vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, tự động phân loại và chuyển đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền, đồng thời, giám sát tiến độ, kết quả giải quyết, bảo đảm tính minh bạch và khả năng kiểm tra, đối chiếu thông tin kịp thời. Mô hình “một đầu mối” thể hiện tư duy cải cách hành chính hiện đại, phân tách giữa chức năng tiếp nhận, sàng lọc thông tin và chức năng GQTC. Cơ chế này khắc phục tình trạng tiếp nhận phân tán, giúp thống nhất quy trình, hạn chế việc gửi đơn sai nơi, sai thẩm quyền. Đồng thời, việc tập trung một cơ quan đầu mối giúp hình thành đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, am hiểu pháp lý, bảo đảm tính nhất quán trong đánh giá, phân loại nội dung tố cáo; kiểm soát chặt chẽ quá trình chuyển giao đơn thư, truy vết rõ ràng, minh bạch và giảm nguy cơ thất lạc, can thiệp. Người dân chỉ cần nộp đơn tại một địa chỉ duy nhất, không phải tự xác định cơ quan có thẩm quyền, qua đó, tiết kiệm thời gian, chi phí và được hỗ trợ, hướng dẫn đầy đủ, bảo đảm bí mật thông tin về người tố cáo. Mô hình này còn giúp hình thành cơ sở dữ liệu tập trung về tố cáo, phục vụ phân tích, thống kê, dự báo tình hình vi phạm và tham nhũng trên phạm vi toàn quốc về XLVPHC. Đồng thời, Thanh tra Chính phủ có thể dễ dàng theo dõi số lượng tố cáo tại các địa phương, ngành, lĩnh vực, nhận diện được các “điểm nóng”, các lĩnh vực XLVPHC dễ phát sinh tiêu cực, từ đó, có thể đưa ra các cảnh báo, kế hoạch thanh tra đột xuất và đánh giá khách quan trách nhiệm giải trình của người đứng đầu tại các địa phương.

Hai là, hoàn thiện quy định về thời hạn GQTC.

Cần nghiên cứu kéo dài thời hạn GQTC đối với các vụ việc có tính chất đặc thù. Việc gia hạn cần căn cứ trên khối lượng công việc thực tế, thay vì áp đặt một con số cố định thiếu khả thi cho mọi trường hợp. Quy định rõ thời hạn thực hiện cho các cơ quan, người có trách nhiệm phối hợp khi có yêu cầu; bổ sung quy định về việc liên đới chịu trách nhiệm của các chủ thể có liên quan khi để xảy ra tình trạng chậm trễ trong GQTC. Bên cạnh đó, cho phép người GQTC xem xét xử lý kỷ luật, đánh giá cán bộ, công chức hoặc kiến nghị với chủ thể có thẩm quyền xem xét xử lý kỷ luật, đánh giá cán bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ phối hợp trong GQTC.

Ba là, hoàn thiện quy định về trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm quy định về GQTC.

Cần sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến kỷ luật cán bộ, công chức theo hướng gia tăng trách nhiệm kỷ luật đối với cán bộ, công chức sai phạm trong tiếp nhận, GQTC, có thể áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất là hình thức kỷ luật cách chức đối với cán bộ và buộc thôi việc đối với công chức. Ngoài ra, cần quy định rõ trách nhiệm hoàn trả đối với các chủ thể này nếu để lộ thông tin người tố cáo dẫn đến thiệt hại cho ngân sách nhà nước trong việc chi trả cho việc bảo vệ người tố cáo, thậm chí phải bồi thường cho người tố cáo khi tố cáo của họ được kết luận là tố cáo không đúng, đúng một phần nhưng vì lộ thông tin dẫn đến họ bị người bị tố cáo kiện đòi bồi thường dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hoặc bị tố cáo ngược vì hành vi vu khống, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Đồng thời, cần bổ sung vào các nghị định về kỷ luật công chức, viên chức các hành vi vi phạm nghĩa vụ trong tiếp nhận và GQTC như: không vào sổ nhận đơn, không sử dụng Hệ thống dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo và các hành vi khác gây khó khăn, sai sót trong quá trình nắm bắt số lượng tố cáo của cơ quan quản lý…

Cần sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 22 Nghị định số 31/2019/NĐ-CP theo hướng không chỉ xử lý khi người tố cáo bị xâm hại về sức khỏe, tính mạng. Trách nhiệm pháp lý của người có thẩm quyền phải được đặt ra ngay cả khi người tố cáo chịu những tổn thất phi vật chất như: bị bôi nhọ danh dự, gây áp lực tâm lý, bị điều chuyển vị trí công tác bất hợp lý, hoặc bị tước bỏ các cơ hội quy hoạch, đào tạo và bổ nhiệm. Đồng thời, cần quy định, hướng dẫn chi tiết về tiêu chí xác định các tổn hại về tinh thần và tổn hại phi vật chất khác, cũng như khôi phục các giá trị này cho người tố cáo để bảo đảm quyền lợi cho họ.

Ngoài ra, cần nghiên cứu, bổ sung quy định nghiêm cấm và xử lý nghiêm các hành vi “phân biệt đối xử” đối với người tố cáo trong quá trình họ thực hiện các thủ tục hành chính hoặc hưởng các chế độ chính sách xã hội tại địa phương/cơ quan. Việc cố tình chậm trễ, gây khó khăn hoặc cắt giảm các phúc lợi chính đáng của người tố cáo phải được xem là hành vi vi phạm kỷ luật nghiêm trọng.

Bốn là, hoàn thiện quy định về bảo vệ người tố cáo.

Cần sửa đổi điểm a khoản 1 Điều 53 Luật Tố cáo năm 2018 theo hướng: “Trường hợp không thực hiện được yêu cầu, đề nghị đó thì phải báo cáo đến cấp có thẩm quyền để họ áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc thông báo ngay bằng văn bản và nêu rõ lý do đến cơ quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ” để bảo đảm các biện pháp bảo vệ người tố cáo chắc chắn được thực hiện kịp thời, đầy đủ, hiệu quả trên thực tế. Bên cạnh đó, cần quy định cụ thể hơn nội dung các biện pháp bảo vệ. Đối với việc bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo, cần quy định ngay trong Luật Tố cáo năm 2018 việc xóa các thông tin người tố cáo khi thụ lý giải quyết tố cáo. Đối với việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, nhân phẩm, danh dự của người được bảo vệ, cần quy định rõ, cụ thể ngay trong Luật Tố cáo năm 2018 về các biện pháp: bảo vệ tại chỗ; thay đổi nơi ở, đưa người được bảo vệ đến nơi an toàn trên cơ sở bảo đảm các điều kiện sinh hoạt, học tập, lao động cho họ và thân nhân của họ. Cần luật hóa các quy định tại Thông tư số 03/2020/TT-BNV ngày 21/7/2020 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là quy định: Không thực hiện việc điều động, luân chuyển, biệt phái, chuyển đổi vị trí việc làm, phân công công việc khác đối với người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức trong thời gian được bảo vệ… Không xử lý kỷ luật người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức trong thời gian được bảo vệ, trừ trường hợp người đó có hành vi vi phạm không liên quan đến lĩnh vực tố cáo. Quy định này vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy cán bộ, công chức, người làm việc trong các cơ quan nhà nước giám sát việc thực hiện pháp luật về XLVPHC của các chủ thể khác trong cơ quan, đơn vị mình.

Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong GQTC.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ mà phải trở thành nền tảng cốt lõi để đổi mới phương thức GQTC, hướng tới sự công khai, minh bạch và hiệu quả đột phá. Cần xây dựng và vận hành một nền tảng số dùng chung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, quản lý tất cả các khâu từ tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đến theo dõi, quản lý và GQTC. Có thể tích hợp tính năng tố cáo qua ứng dụng định danh điện tử (VNeID) cho phép người dân sử dụng tài khoản định danh điện tử cấp độ 2 trên VNeID để tố cáo, giúp xác thực chính xác danh tính người tố cáo, hạn chế tình trạng đơn thư nặc danh, mạo danh. Cơ quan đầu mối tiếp nhận sẽ phân loại, xử lý ban đầu thông tin tố cáo và chuyển đến chủ thể có thẩm quyền giải quyết, liên thông dữ liệu để bảo đảm người GQTC có thể thu thập, xác minh thông tin nhanh chóng, hiệu quả, chính xác, tiết kiệm chi phí. Ngoài ra, người tố cáo cũng có thể theo dõi được tiến độ GQTC để kịp thời bảo vệ quyền tố cáo của mình, phát huy dân chủ, quyền giám sát của người dân đối với người có thẩm quyền giải quyết tố cáo về XLVPHC.

Kết luận GQTC trong XLVPHC có vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa nguyên tắc pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. GQTC là công cụ để bảo đảm sự công bằng, minh bạch trong quản lý hành chính; là cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu từ phía Nhân dân; giúp phát hiện và khắc phục những bất cập của hệ thống pháp luật và hoàn thiện tổ chức bộ máy công vụ. Vì vậy, cần hoàn thiện pháp luật về GQTC trong XLVPHC để tiến tới một Nhà nước pháp quyền thực chất, nơi pháp luật thực sự là tối thượng và quyền con người, quyền công dân được bảo đảm, bảo vệ./.

TS. Hoàng Thị Lan Phương

Giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội

Ảnh: Internet

[1]. PTS. TS. Trần Minh Hương (1999), Bàn thêm về xử lý vi phạm hành chính, Tạp chí Luật học, số 4, tr. 16.

[2]. Hoàng Hưng (2020), Bị lập biên bản vi phạm hành chính sai, 5 năm đi kiện và đã thắng kiện, https://danviet.vn/bi-lap-bien-ban-vi-pham-hanh-chinh-sai-5-nam-di-kien-va-da-thang-kien-20201001143218722-d911449.html, truy cập ngày 12/01/2026.

[3]. Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[4]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 349.

[5]. Khoản 3 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[6]. Khoản 4 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[7]. Hoàng Thị Lan Phương (2024), Quyền tố cáo của công dân theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 42.

[8]. Ngô Mạnh Toan (2007), Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 13.

[9]. Mai Văn Duẩn (2017), Pháp luật về bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội tr. 42.

[10]. Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, tr. 388.

[11]. Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 287.

[12]. Hoàng Thị Lan Phương (2025), Giải quyết tố cáo trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam, đề tài khoa học cấp cơ sở, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 20.

[13]. Nguyễn Phú Trọng (2023), Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Một việc làm cần thiết, tất yếu; một xu thế không thể đảo ngược (Tập 2), Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr. 229.

[14]. Vụ việc phức tạp là vụ việc có một trong các tiêu chí sau: Tố cáo về một nội dung nhưng phải xác minh từ 02 địa điểm trở lên; Tố cáo có từ 02 nội dung phải xác minh trở lên; Nhiều người tố cáo về cùng một nội dung hoặc nội dung tố cáo liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều người; Tố cáo có yếu tố nước ngoài: người tố cáo ở nước ngoài hoặc là người nước ngoài; hành vi bị tố cáo xảy ra ở nước ngoài; nội dung tố cáo phải xác minh ở nước ngoài; Nội dung tố cáo liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức; Các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình giải quyết tố cáo còn ý kiến khác nhau; Có tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thời gian kiểm tra, xác minh, đánh giá hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn (khoản 2 Điều 3 Nghị định 31/2019/NĐ-CP).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Tư pháp (2025), Báo cáo số 66/BC-BTP Báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2024.

2. Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

3. Hoàng Hưng (2020), Bị lập biên bản vi phạm hành chính sai, 5 năm đi kiện và đã thắng kiện, https://danviet.vn/bi-lap-bien-ban-vi-pham-hanh-chinh-sai-5-nam-di-kien-va-da-thang-kien-20201001143218722-d911449.html, truy cập ngày 12/01/2026.

4. Hoàng Thị Lan Phương (2024), Quyền tố cáo của công dân theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

5. Hoàng Thị Lan Phương (2025), Giải quyết tố cáo trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Trường Đại học Luật Hà Nội.

6. Mai Văn Duẩn (2017), Pháp luật về bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

7. Ngô Mạnh Toan (2007), Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

8. Nguyễn Phú Trọng (2023), Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Một việc làm cần thiết, tất yếu; một xu thế không thể đảo ngược (Tập 2), Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật.

9. Trần Minh Hương (1999), Tạp chí Luật học, số 4.

10. Trường Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân.

11. Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (445) tháng 1/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: