Thứ ba 10/03/2026 22:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm bình đẳng giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật, là một trong những công việc để thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước, thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, Nhà nước giúp người nghèo và các đối tượng yếu thế khác hiểu biết pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, qua đó góp phần bảo đảm ổn định cuộc sống. Trong phạm vi bài viết này, tác giả nghiên cứu về vấn đề bảo đảm quyền bình đẳng giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý tại phiên Tòa, nêu ra một số quy định về trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng Việt Nam, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị bảo đảm quyền bình đẳng giới trong hoạt động tố tụng.


1. Thực hiện bình đẳng giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý
Trợ giúp pháp lý là một trong những công việc để thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước, thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, Nhà nước giúp người nghèo và các đối tượng yếu thế khác hiểu biết pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, qua đó, góp phần bảo đảm ổn định cuộc sống, cải thiện sinh kế.
Triển khai Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025 và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 với nhiều giải pháp đột phá, đến nay, về cơ bản, nguồn lực của các Trung tâm Trợ giúp pháp lý (TGPL) đã dành nhiều cho việc thực hiện các vụ việc cụ thể, giải quyết vướng mắc pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL. Chất lượng dịch vụ TGPL đã có nhiều cải thiện. Nhiều vụ việc có người thực hiện TGPL tham gia tố tụng đạt hiệu quả, có nhiều vụ án được tuyên mức án nhẹ hơn hoặc chuyển tội danh hay thay đổi khung hình phạt thấp hơn so với mức đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân, thậm chí, có những vụ việc được tuyên trắng án, qua đó, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL.
Về kết quả thực hiện bình đẳng giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý:
Công tác thông tin, truyền thông: Để chính sách, pháp luật về bình đẳng giới được triển khai, đi vào cuộc sống và trở thành công cụ đắc lực trong việc tiến tới mục tiêu bảo đảm bình đẳng giới một cách thực chất trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong kế hoạch công tác hàng năm, các tổ chức thực hiện TGPL bảo đảm bố trí thời lượng thích hợp cho các nội dung pháp luật về bình đẳng giới trong quá trình thông tin, truyền thông cho người dân về TGPL và các quy định của pháp luật có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân. Nội dung truyền thông phong phú với hình thức và đối tượng đa dạng, thiết thực, bảo đảm thông tin được cả hai giới tiếp nhận. Ở địa phương, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, các Trung tâm TGPL đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông đại chúng, các đoàn thể chính trị, xã hội đã lồng ghép vấn đề giới, bình đẳng giới vào các hoạt động nghiệp vụ, bảo đảm thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới. Các Trung tâm TGPL có nhiều hình thức truyền thông theo chủ đề về bình đẳng giới phù hợp với từng địa phương như xây dựng tờ gấp pháp luật... về bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, mua bán người, xâm hại tình dục… (Sơn La, Cao Bằng, Bình Dương, Bến Tre, Kiên Giang, Hà Giang). Người thực hiện TGPL khi thực hiện TGPL trong các vụ việc bạo lực trên cơ sở giới đã kịp thời cung cấp địa chỉ, thông tin về sự hỗ trợ cần thiết từ các cơ quan liên quan, bao gồm cơ quan công an, chính quyền cơ sở, các tổ chức hội, đoàn thể và các dịch vụ hỗ trợ khác như y tế, sức khỏe, kinh tế, tư vấn và các dịch vụ xã hội khác cho người được TGPL khi cần thiết.
Công tác phối hợp: Cơ quan thường trực Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là Sở Tư pháp hằng năm chỉ đạo và hướng dẫn về chuyên môn, xây dựng ký kết chương trình phối hợp với Công an tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan để tập huấn về tư vấn pháp luật, về hòa giải vụ việc và triển khai các hoạt động bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức cán bộ và hoạt động TGPL; phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng như Đài phát thanh, truyền hình, báo chí thông tin về hoạt động TGPL, nội dung thông tin không chỉ chú trọng tới phụ nữ, mà còn đề cập đến các biện pháp khắc phục nguyên nhân sâu xa của sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, đáp ứng những yêu cầu, nguyện vọng khác nhau của họ thông qua các hình thức TGPL để bảo đảm bình đẳng giới trong hoạt động TGPL, góp phần ngăn chặn, tiến tới xóa bỏ bất bình đẳng giới trong xã hội (Hải Dương, Quảng Ninh, Sơn La, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Đồng Nai, Lạng Sơn, Quảng Nam, Tiền Giang, Bến Tre).
Tại các địa phương, Trung tâm TGPL đã phối hợp với Phòng Tư pháp cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, các câu lạc bộ pháp luật tại địa phương để có những đánh giá, rút kinh nghiệm và tìm ra các giải pháp thực hiện TGPL cho phụ nữ.
2. Thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp là phụ nữ và một số hạn chế, bất cập
Trung bình hàng năm, các tổ chức thực hiện TGPL thực hiện được trên dưới 100.000 vụ việc, 30 - 40% số vụ việc là những vụ việc tham gia tố tụng (hình sự, dân sự, hành chính). Nhìn chung, số lượng vụ việc TGPL cho phụ nữ hàng năm chiếm khoảng gần 50% số vụ việc được các Trung tâm TGPL thực hiện (trong đó bao gồm cả nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân bị buôn bán...), hầu hết các vụ việc đã giúp chị em là người được TGPL bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật quy định. Qua công tác quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành về chất lượng vụ việc TGPL cho thấy, đến nay, chưa có vụ việc nào có khiếu nại, tố cáo hoặc phản ánh, kiến nghị về chất lượng vụ việc hoặc có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đặc biệt, các vụ việc tham gia tố tụng đều được các Trung tâm phân công các trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên là luật sư có nhiều kinh nghiệm thực tế, am hiểu tâm lý phụ nữ để thực hiện việc TGPL. Bộ Tư pháp và Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã ký Chương trình phối hợp số 14/CTPH-BTP-HLHPNVN ngày 10/01/2013 về việc đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật cho phụ nữ, hòa giải ở cơ sở và lồng ghép giới trong xây dựng pháp luật giai đoạn 2013 - 2017; Chương trình phối hợp số 60/CTPH-BTP-HLHPNVN ngày 05/01/2018 thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật cho phụ nữ; hòa giải ở cơ sở và lồng ghép giới trong xây dựng pháp luật giai đoạn 2018 - 2022. Nhiều Trung tâm TGPL còn có chương trình phối hợp với Hội Phụ nữ của tỉnh để đẩy mạnh thực hiện TGPL cho phụ nữ trên địa bàn, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về TGPL, về bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân nói chung, phụ nữ là nạn nhân của sự bất bình đẳng giới, nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân bị mua bán… Tuy nhiên, hoạt động TGPL tại phiên tòa, vẫn còn gặp phải một số hạn chế về bình đẳng giới như sau:
- Nhận thức về chính sách bảo đảm bình đẳng giới trong TGPL của một bộ phận cán bộ và người được TGPL còn hạn chế, chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của bình đẳng giới trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân và thực hiện an sinh xã hội. Một số chính quyền địa phương chưa thực sự coi là một nhiệm vụ quản lý nhà nước cần phải thực hiện; chưa động viên được các đối tượng là nữ giới cung cấp các thông tin về việc bị bạo lực, bị xâm hại tình dục… để được TGPL.
- Công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá còn chưa được chú trọng, có lúc có nơi còn hình thức, chưa xác định được tầm quan trọng của công tác này và là cơ sở để đúc rút kinh nghiệm, tìm kiếm giải pháp, xây dựng chính sách phù hợp, hiệu quả hơn cho giai đoạn tiếp theo. Công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc tổ chức thực hiện còn chưa thường xuyên, chưa liên tục. Do vậy, công tác quản lý nhà nước về TGPL chưa đáp ứng yêu cầu.
- Nhiều địa phương do phong tục, tập quán, định kiến xã hội, đặc biệt là vấn đề kỳ thị và hòa nhập xã hội của những phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình và buôn bán phụ nữ; những nhóm phụ nữ này không dám tiếp cận với TGPL như mặc cảm thân phận, chưa cố gắng vượt qua hoàn cảnh; các tỉnh vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới thường gặp nhiều khó khăn trong việc đi lại, cán bộ TGPL lại không biết tiếng dân tộc nên phụ nữ người dân tộc thiểu số gặp khó khăn trong việc tiếp cận với TGPL. Bản thân người phụ nữ chưa nhận thức được quyền bình đẳng của họ trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Phụ nữ trong gia đình còn lệ thuộc vào kinh tế, tư tưởng cam chịu không dám mạnh dạn tự bảo vệ mình hoặc nhờ chính quyền, đoàn thể bảo vệ mình. Bên cạnh đó, nhận thức của nam giới trong gia đình và ngoài xã hội còn bị ảnh hưởng nhiều của tư tưởng phong kiến trọng nam khinh nữ; nhiều cán bộ nữ chưa thật sự mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm, chưa tạo được niềm tin cho lãnh đạo trong việc cân nhắc giao phó trọng trách.
- Tại một số địa phương, việc củng cố, kiện toàn tổ chức thực hiện TGPL còn chưa bảo đảm cân bằng giới; số lượng trợ giúp viên pháp lý có kiến thức, kinh nghiệm về giới còn thiếu so với nhu cầu, thiếu nguồn cán bộ đủ kinh nghiệm về giới để tuyển dụng; đội ngũ cộng tác viên TGPL còn hạn chế về kỹ năng và kinh nghiệm thực hiện TGPL trong các vụ việc liên quan đến bình đẳng giới, ảnh hưởng đến chất lượng vụ việc TGPL nên việc thực hiện TGPL trong các vụ việc liên quan đến bình đẳng giới chưa có sức lan tỏa.
- Hoạt động triển khai lồng ghép giới tại các địa phương về cơ bản vẫn còn mới, mang tính thí điểm, còn phụ thuộc vào khả năng vận dụng và tính trách nhiệm của từng địa phương. Mặc dù đã xây dựng hướng dẫn lồng ghép giới, nhưng nhiều địa phương vẫn còn lúng túng, chưa chủ động tìm hiểu, nghiên cứu thực hiện cho hiệu quả tại địa phương mình. Nhiều Trung tâm TGPL vẫn chưa triển khai khảo sát nhu cầu TGPL của phụ nữ nên chưa có kế hoạch thực hiện cho phù hợp, sát với thực tế nhu cầu ở địa phương.
- Một số Trung tâm TGPL đến nay chưa bố trí được địa điểm tiếp riêng cho những nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân bị mua bán, nạn nhân bị xâm hại tình dục tiếp cận. Việc thực hiện trợ giúp pháp lý cho phụ nữ, nhất là nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình và trẻ em bị bạo lực giới, phân biệt đối xử theo quy trình chung áp dụng cho tất cả các diện người được TGPL mà không có quy định riêng về quy trình thực hiện TGPL cho đối tượng này nên trên thực tế, các tổ chức và người thực hiện TGPL lưu ý các yếu tố đặc thù của nạn nhân như sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em và phụ nữ, sức khỏe, tâm lý, tuổi tác, nhạy cảm giới, hoàn cảnh gia đình… để có những cách thức, kỹ năng tiếp xúc, làm việc phù hợp, tinh tế và linh hoạt trong những trường hợp nạn nhân bị bạo lực gia đình, trẻ em bị bạo lực giới, phân biệt đối xử. Tuy nhiên, do tổ chức TGPL là tổ chức của Nhà nước, tâm lý người dân còn e dè khi tiếp cận nên việc áp dụng quy trình chung để TGPL cho những đối tượng nhạy cảm cao (nạn nhân bạo lực gia đình, trẻ em gái bị xâm hại tình dục...) sẽ gây tâm lý e ngại cho chính họ dẫn đến hiệu quả TGPL không cao.
3. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm quyền bình đẳng giới trong hoạt động tố tụng
Một là, về công tác quản lý nhà nước
- Xây dựng mô hình thí điểm trong việc triển khai thực hiện bình đẳng giới và sự phát triển của phụ nữ ở một số địa phương để tiến hành nhân rộng; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL, tập huấn chuyên sâu các chuyên đề về chính sách, pháp luật về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình cho đội ngũ người thực hiện TGPL.
- Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác giữa các cơ quan, đơn vị với nhau để cùng chia sẻ kinh nghiệm về Luật Bình đẳng giới và vận động nguồn lực hỗ trợ thực hiện các chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; xây dựng cơ chế phối hợp đồng bộ giữa Ngành Tư pháp và Hội Liên hiệp Phụ nữ từ Trung ương đến địa phương trong công tác bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức cán bộ và hoạt động TGPL; thường xuyên phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng như Đài Phát thanh, truyền hình, cơ quan báo chí, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các cơ quan đoàn thể như Tỉnh đoàn, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân thông tin về hoạt động TGPL và các cơ quan tiến hành tố tụng.
- Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật về bảo vệ quyền phụ nữ; đấu tranh phòng, chống mua bán phụ nữ và trẻ em, bạo lực gia đình; thông tin và phổ biến một cách kịp thời những thủ đoạn của bọn tội phạm buôn người, nguy cơ trở thành nạn nhân của tội buôn bán người và hậu quả do hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em, bạo lực gia đình gây ra, từ đó, nâng cao nhận thức của người dân, giúp họ tự bảo vệ mình; xây dựng nội dung tuyên truyền phong phú, hình thức và đối tượng đa dạng.
Hai là, đẩy mạnh các giải pháp hỗ trợ người được trợ giúp pháp lý
- Tạo điều kiện cho người được TGPL tiếp cận và thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật mà không bị phân biệt đối xử về giới như: Phòng tiếp riêng; không tạo áp lực hoặc sử dụng điểm yếu về giới tính của người được TGPL để buộc họ phải quyết định ngay lập tức hướng giải quyết vụ việc; lựa chọn thời gian, phương thức TGPL phù hợp với đặc điểm giới tính, tâm lý, phong tục tập quán của địa phương để nam và nữ được tiếp cận bình đẳng với hoạt động TGPL, tham gia và thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Nâng cao việc thực hiện các biện pháp bảo vệ và hỗ trợ cho người được TGPL là người mẹ, trẻ em gái, nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân bị mua bán, nạn nhân bị xâm hại tình dục: Bố trí địa điểm tiếp phù hợp để họ được tiếp riêng, tạo điều kiện để họ trình bày, cung cấp thông tin, tài liệu về vụ việc; ưu tiên cử người thực hiện TGPL có kỹ năng về giới, có kiến thức pháp luật... theo yêu cầu của người được TGPL để thực hiện cho họ.
- Nghiên cứu đề xuất cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật theo hướng có quy trình thực hiện TGPL riêng cho các nhóm đối tượng đặc thù hoặc quy trình rút gọn... để tạo điều kiện cho người được trợ giúp pháp lý tiếp cận nhiều hơn với hoạt động trợ giúp pháp lý.
Ba là, về các điều kiện bảo đảm
- Nghiên cứu, xem xét có chính sách, chế độ đãi ngộ cho lực lượng trợ giúp viên pháp lý và viên chức của Trung tâm TGPL để có thể thu hút lực lượng cán bộ, nhất là cán bộ nữ vào làm việc và yên tâm công tác; tăng cường cơ sở vật chất và bảo đảm nguồn lực thực hiện cho Trung tâm TGPL, các Chi nhánh đủ điều kiện hoạt động như trụ sở làm việc cho các Chi nhánh TGPL, trang thiết bị làm việc…; tạo nguồn kinh phí để thực hiện hoạt động truyền thông, tập huấn nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, đặc biệt là nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng giới cho đội ngũ thực hiện TGPL và cán bộ, công chức ở các cấp, ngành, địa phương có liên quan đến hoạt động TGPL.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ TGPL vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng và kinh nghiệm trong việc thực hiện TGPL cho người được TGPL trong các vụ việc liên quan đến bình đẳng giới, ngày càng đáp ứng yêu cầu TGPL của người dân; tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ chuyên sâu cho đội ngũ làm công tác TGPL về vấn đề bình đẳng giới, nhất là trợ giúp viên pháp lý để đội ngũ này có đủ điều kiện hoạt động trong lĩnh vực tố tụng; bảo đảm sự tham gia bình đẳng của nam và nữ trong hoạt động bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ trợ giúp pháp lý; ưu tiên cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia bồi dưỡng, tập huấn về bình đẳng giới, về phòng, chống bạo lực gia đình, về phòng, chống mua bán người, xâm hại tình dục. Trong trường hợp nữ giới có điều kiện, tiêu chuẩn ngang bằng như nam giới mà tỉ lệ nữ đang thấp thì ưu tiên chọn nữ giới; khuyến khích và tạo điều kiện để phụ nữ là người dân tộc thiểu số, người có kiến thức, kỹ năng về giới, bình đẳng giới, về phòng, chống bạo lực gia đình, về phòng, chống mua bán người, xâm hại tình dục tham gia làm cộng tác viên.
Bốn là, nghiên cứu thành lập hệ thống cảnh báo sớm các vụ việc liên quan đến bất bình đẳng giới (xâm hại trẻ em, bạo lực gia đình...)
- Hệ thống cảnh báo sớm các vụ việc liên quan đến liên quan đến bất bình đẳng giới có thể được thiết lập thông qua việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin. Xây dựng trang thông tin điện tử, mạng xã hội như facebook, twitter… để không chỉ nạn nhân, người quen, hàng xóm, bạn bè, báo chí... có thể chuyển tải thông tin phù hợp về các vụ việc hoặc các biện pháp, cách thức phòng, chống, xử lý khi có dấu hiệu của bạo lực gia đình, bạo lực giới hoặc phân biệt đối xử. Tuy vậy, cũng cần lưu ý bảo đảm an toàn thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.
- Có thể thành lập các đội, nhóm, tổ phản ứng nhanh tại cơ sở với sự tham gia của cán bộ tư pháp xã, công an xã, phụ nữ, thanh niên, những nhà hoạt động xã hội... kết nối với người thực hiện trợ giúp pháp lý để có thể sớm phát hiện vụ việc bạo lực gia đình, bạo lực tình dục, bạo lực trên cơ sở giới, những vụ việc liên quan đến trẻ em… và kịp thời cung cấp những dịch vụ thiết yếu bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân; kịp thời cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế này.

ThS. Lê Thị Thu Hằng
Đại học Kiểm sát Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường pháp lý và thúc đẩy hội nhập, việc rà soát, đánh giá và hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích mâu thuẫn hiện hành trong quy định pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, làm rõ nguyên nhân từ góc độ kỹ thuật lập pháp và tư duy điều chỉnh; đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của pháp luật về hợp đồng, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.
Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Hiện, Bộ Tư pháp đang dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự (dự thảo Luật). Trong chế định tương trợ tư pháp về dân sự, thuật ngữ “ủy thác tư pháp” được sử dụng tương đối phổ biến. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “ủy thác tư pháp” để thiết lập các quy phạm điều chỉnh lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự là không phù hợp và dự thảo Luật không sử dụng thuật ngữ này là hợp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: