Thứ năm 13/08/2026 13:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập khi thực hiện pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại tại tỉnh Quảng Bình và một số kiến nghị

Bất cập khi thực hiện pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại tại tỉnh Quảng Bình và một số kiến nghị

1. Vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện đăng ký biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại tại tỉnh Quảng Bình

Hoạt động đăng ký biện pháp bảo đảm có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc công khai và minh bạch tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm, trong đó có vấn đề về quyền sở hữu, quyền sử dụng giúp cho cá nhân, tổ chức có nguồn thông tin cần thiết để xem xét, quyết định trước khi tiến hành các giao dịch, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên.

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực hiện pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại (NHTM) tại tỉnh Quảng Bình vẫn còn tồn tại những hạn chế, vướng mắc cụ thể như sau:

Thứ nhất, về thẩm quyền đăng ký biện pháp giao dịch bảo đảm: Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm, thẩm quyền đăng ký thuộc về các cơ quan sau: (i) Cục Hàng không Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng tàu bay; (ii) Cục Hàng hải Việt Nam hoặc Chi cục Hàng hải, Cảng vụ Hàng hải theo phân cấp của Cục Hàng hải Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải (sau đây gọi là Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam) thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng tàu biển (có ba cơ quan đặt tại Hải Phòng, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh); (iii) Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi nhánh của Văn phòng đăng ký đất đai (sau đây gọi là Văn phòng đăng ký đất đai) thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; (iv) Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp (đăng ký tại một trong ba Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hà Nội, TP. Đà Nẵng, Thành phố Hố Chí Minh) thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng động sản và các tài sản khác không thuộc thẩm quyền đăng ký của các cơ quan trên; (v) Tổng công ty Lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng chứng khoán đã đăng ký tập trung theo quy định của pháp luật về chứng khoán.

Tuy nhiên, trên thực tế, quy định này phát sinh bất cập khi quy định thẩm quyền cho nhiều cơ quan khác nhau gây nên sự phân tán cũng như khó khăn cho khách hàng có nhu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm để vay vốn tại NHTM. Hiện nay, ở tỉnh Quảng Bình, cơ quan có thẩm quyền đăng ký biện pháp bảo đảm đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là Văn phòng đăng ký đất đai và Chi nhánh của các huyện, nếu người dân sử dụng tài sản khác như tàu biển hoặc động sản thì phải đăng ký tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại TP. Đà Nẵng, điều này gây nên sự bất tiện cho người dân khi thực hiện yêu cầu của mình. Bên cạnh đó, một số tài sản khi đăng ký khó xác định chính xác thẩm quyền như trường hợp cùng là tàu đi lại trên mặt nước nhưng tàu biển thì đăng ký tại cơ quan đăng ký tàu biển và thuyền viên khu vực nơi tàu biển đó đăng ký ban đầu, các loại tàu khác như tàu đánh cá, ca nô, phà, các phương tiện nổi khác không phải là tàu biển thì đăng ký ở Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại TP. Đà Nẵng.

Thứ hai, thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm: Pháp luật hiện hành đã quy định khá rõ trình tự, thủ tục về đăng ký biện pháp bảo đảm cho từng loại tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, đối với tài sản bảo đảm là bất động sản vẫn còn vướng mắc trên thực tế, gây khó khăn cho công tác quản lý, vì vẫn còn khá nhiều loại giấy tờ trong thành phần hồ sơ; thủ tục vẫn còn phức tạp, một số giai đoạn không cần thiết gây mất thời gian cho người yêu cầu đăng ký, ví dụ như: Trường hợp cơ quan đăng ký yêu cầu cung cấp thêm giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là cây lâu năm (cây cà phê, vườn chè…), một số cơ quan đăng ký không chấp nhận việc đăng ký thế chấp phần tài sản này; hoặc trường hợp khi nhân viên ngân hàng nộp và nhận kết quả đăng ký biện pháp bảo đảm trực tiếp, một số cơ quan đăng ký yêu cầu phải có giấy ủy quyền có công chứng/chứng thực của chủ tài sản hoặc chính chủ tài sản đến nhận tài sản, cơ quan đăng ký không chấp nhận giấy giới thiệu của ngân hàng; phải có bộ hồ sơ pháp lý của ngân hàng và chữ ký mẫu của người đại diện của ngân hàng ký trên đơn đăng ký[1].

Pháp luật hiện hành chưa quy định rõ có cần phải thực hiện nộp bộ hồ sơ pháp lý cũng như mẫu chữ ký của người đại diện ngân hàng ký trên đơn đăng ký hay không, chính điều này khiến cho việc thực hiện trên thực tế thiếu thống nhất và cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã yêu cầu thêm những giấy tờ khác, gây khó khăn cho các chủ thể thực hiện đăng ký.

Thứ ba, về thời hạn giải quyết thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm: Thời hạn giải quyết thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm, theo đó, nếu nhận hồ sơ sau 15 giờ thì hoàn thành việc đăng ký, cung cấp thông tin trong ngày tiếp theo; trường hợp phải kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ, thì cũng không quá 03 ngày làm việc. Tuy nhiên, trên thực tế, trong một số trường hợp cơ quan đăng ký trả kết quả muộn hơn so với thời gian quy định hoặc đặt ra thời hạn trả kết quả chưa phù hợp với quy định trên. Điều này khiến cho các ngân hàng không kịp thời gian để giải ngân cho khách hàng trong cùng ngày, gây khó khăn cho các khách hàng đang cần nguồn vốn vay, từ đó gây ảnh hưởng không nhỏ tới quyền lợi của khách hàng và các ngân hàng[2].

Thứ tư, việc xác định chủ thể tham gia quan hệ về đăng ký biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay của các NHTM: Trong quan hệ về đăng ký biện pháp bảo đảm, việc xác định đúng chủ thể tham gia có ý nghĩa rất lớn, đặc biệt là khi có tranh chấp xảy ra do vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Hiện nay, để bảo đảm cho hoạt động vay của các NHTM tại tỉnh Quảng Bình, các tổ chức, cá nhân sử dụng tài sản bảo đảm chủ yếu là quyền sử dụng, tài sản gắn liền với đất, trong đó một trong những yếu tố vướng mắc trên thực tế đó là xác định chủ thể trong quan hệ thế chấp quyền sử dụng đất. Theo đó, pháp luật về dân sự, đất đai và các luật chuyên ngành khác quy định rõ về chủ thể bao gồm: Chủ thể nhận thế chấp và chủ thể thế chấp. Nếu như bên nhận thế chấp là các NHTM, thì bên thế chấp có thể là cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân. Các chủ thể này phải thỏa mãn điều kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, ngoài ra còn phải đáp ứng quy định của pháp luật chuyên ngành, đặc biệt đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, trong thực tiễn cho vay tại các NHTM, một số trường hợp xác lập hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm cho khoản vay vẫn chưa xác định chính xác chủ thể thế chấp dẫn tới tranh chấp xảy ra, hợp đồng thế chấp bị Tòa án tuyên vô hiệu. Hệ quả là, các NHTM không thu hồi được nợ và cũng không xử lý được tài sản bảo đảm để bù đắp cho khoản vay đã cấp cho khách hàng.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại

Để khắc phục những vướng mắc trong thực tiễn thi hành pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay của các NHTM cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, hoàn thiện mô hình tổ chức, hoạt động của hệ thống cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm: Để khắc phục những bất cập của mô hình cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm hiện nay, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan này trong giai đoạn tới cần có những thay đổi về mặt thể chế, chính sách pháp luật mang tính đột phá trong quy định về mô hình tổ chức và cơ chế vận hành. Theo đó, trong thời gian tới thay đổi theo lộ trình mô hình hiện nay thành mô hình tổ chức đăng ký thuộc hệ thống tư pháp, giảm bớt các cơ quan chuyên ngành thực hiện nghiệp vụ đăng ký.

Thứ hai, đơn giản hoá thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm đặc biệt đối với tài sản là bất động sản: Trong những năm qua, thủ tục hành chính nói chung và thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm đối với bất động sản nói riêng đã được đơn giản hóa, giảm nhiều bước thực hiện, hồ sơ, giấy tờ đã đơn giản hơn, tiết kiệm thời gian, chi phí cho người dân. Tuy nhiên, trong một số trường hợp vẫn chưa thực sự thuận lợi cho người dân, do đó cần có sự cải cách hơn nữa đối với các thủ tục này, giảm bớt các loại giấy tờ không cần thiết hoặc đã được chứng minh thông tin ở các loại giấy tờ khác như: Thực hiện đăng ký thông báo đối với những hợp đồng bảo đảm bằng bất động sản đã được công chứng, không cần nộp giấy phép xây dựng khi đăng ký thế chấp tài sản hình thành trong tương lai… như vậy sẽ tạo điều kiện cho các bên vừa thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước.

Thứ ba, xây dựng cơ chế trao đổi thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm giữa cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm và các cơ quan có liên quan: Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm, trong thời gian tới, cần xây dựng cơ chế trao đổi thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản giữa cơ quan có thẩm quyền đăng ký với các cơ quan khác như tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng… phù hợp với mục tiêu cải cách hành chính, trình tự, thủ tục minh bạch, dễ áp dụng; khắc phục được những bất cập về việc thông tin phân tán, thiếu sự đồng bộ, chính xác. Có như vậy, thông tin về tài sản mới bảo đảm được tính minh bạch, đặc biệt giúp cho các NHTM có cơ sở bảo đảm về mặt pháp lý để quyết định cấp tín dụng. Một trong những giải pháp tăng cường sự phối hợp đó chính là xây dựng và vận hành quy chế phối hợp giữa cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm với các cơ quan khác tập trung các nội dung chủ yếu như: Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm; rà soát, kiểm tra các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành về đăng ký biện pháp bảo đảm; xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu; cung cấp, trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm; cập nhật, công bố thông tin về tài sản thế chấp sau khi thực hiện đăng ký thay đổi nội dung thế chấp đã đăng ký, sửa chữa sai sót, xóa đăng ký biện pháp bảo đảm; thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án, giải tỏa tài sản kê biên thi hành án; tổ chức giao ban, sơ kết, tổng kết về công tác phối hợp quản lý nhà nước về đăng ký biện pháp bảo đảm; rà soát, thống kê, báo cáo định kỳ, đột xuất về đăng ký biện pháp bảo đảm.

Thứ tư, chú trọng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác đăng ký giao dịch bảo đảm: Trong những năm qua, Nhà nước ta chú trọng việc tổ chức các chương trình tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cũng như kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ này. Tuy nhiên, pháp luật thường xuyên thay đổi, công nghệ thông tin ngày một phát triển đặt ra yêu cầu phải tổ chức thường xuyên hơn, cũng như có sự đầu tư thích đáng cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, từ đó khắc phục những yếu kém về năng lực, trình độ của cán bộ đăng ký. Bên cạnh việc tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo đội ngũ cán bộ đăng ký, cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về đăng ký biện pháp bảo đảm cần chú trọng đến công tác chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ về giao dịch bảo đảm và đăng ký biện pháp bảo đảm. Đây là những hoạt động cũng như giải pháp nghiệp vụ rất hiệu quả, nếu được chú trọng đúng mức sẽ có ảnh hưởng tích cực đến hiệu lực, hiệu quả của công tác đăng ký biện pháp bảo đảm trong cả nước, từ đó việc tổ chức và hoạt động của hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm sẽ được củng cố và nâng cao.

Thứ năm, xây dựng và triển khai cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm tại các cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm: Cùng với các giải pháp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ, nhằm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ đăng ký biện pháp bảo đảm, thì việc xây dựng và triển khai cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm là hết sức cần thiết nhằm tăng cường mạnh mẽ hơn nữa hiệu quả của việc tổ chức và thực hiện. Thực tiễn áp dụng pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm vẫn còn thiếu những giải pháp quyết liệt trong việc kiểm tra, giám sát. Việc kiểm tra có lúc, có nơi vẫn còn mang tính hình thức, chưa có những kết quả cụ thể, góp ý để nâng cao hoạt động đăng ký. Do đó, để nâng cao chất lượng quản lý về lĩnh vực này, cần xây dựng và triển khai cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm tại các cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm. Chính hoạt động này góp phần phát hiện, loại bỏ những hành vi vi phạm pháp luật, các hoạt động không đúng vai trò và chức năng của mình. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật tạo tiền đề cho hoạt động đăng ký biện pháp bảo đảm được thực hiện một cách nghiêm túc trên thực tế[3].

Trước đòi hỏi và yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu và xu thế hội nhập quốc tế, nên một số quy định của pháp luật hiện hành về đăng ký biện pháp bảo đảm cần được nghiên cứu, đánh giá để sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ cho phù hợp với thực tiễn, nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định này tại các NHTM trong thời gian tới góp phần vận hành tốt nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đáp ứng yêu cầu của nền tài chính hiện đại trong thời gian tới./.

ThS. Hoàng Thị Thu Phương & ThS. Phan Thị Phương Huyền

Trường Cao đẳng Luật miền Trung

Ảnh: internet


[1] https://vibonline.com.vn/bao_cao/vcci_gop-y-ra-soat-quy-dinh-cua-phap-luat-ve-dang-ky-bien-phap-bao-dam.

[2] https://vibonline.com.vn/bao_cao/vcci_gop-y-ra-soat-quy-dinh-cua-phap-luat-ve-dang-ky-bien-phap-bao-dam.

[3] Tống Thị Thu Trang (2015), Đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 85.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với những bước chuyển dịch mang tính chiến lược, yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn liền với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng trở nên cấp bách. Trong tiến trình đó, hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) giữ vai trò nền tảng trong việc hiện thực hóa công bằng xã hội và bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng cho mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là các đối tượng yếu thế. Để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã ban các hành kế hoạch và tổ chức triển khai các nội dung của Luật Trợ giúp pháp lý, góp phần thực hiện quyền con người, quyền công dân. Trong 06 tháng đầu năm 2026, công tác TGPL tại Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã đạt được những kết quả đáng kể.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống thi hành án dân sự Việt Nam (19/7/1946 - 19/7/2026) là dịp để nhìn lại chặng đường hình thành, xây dựng và phát triển của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) - bộ phận cấu thành không thể tách rời của nền tư pháp Việt Nam. Trải qua 80 năm, Hệ thống THADS không ngừng được củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cơ chế pháp lý, đóng góp quan trọng vào công cuộc bảo vệ công lý, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong tiến trình đó, mối quan hệ phối hợp giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan THADS luôn giữ vai trò trung tâm, là “sợi chỉ đỏ” kết nối hoạt động xét xử với hoạt động thi hành án, bảo đảm mỗi bản án, quyết định của Tòa án không chỉ dừng lại trên văn bản mà thực sự đi vào cuộc sống, phát huy giá trị, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đặc biệt, trong bối cảnh yêu cầu cải cách tư pháp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đang đặt ra ngày càng cấp thiết, việc tổng kết, phân tích công tác phối hợp giữa hai thiết chế này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, chuyển đổi số và sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ mới đối với Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS). Theo đó, công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ không chỉ giải đáp khó khăn, vướng mắc trong từng vụ việc cụ thể mà còn phải bảo đảm thống nhất nhận thức, áp dụng pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý, chỉ đạo, điều hành trong toàn Hệ thống THADS. Thực tiễn cho thấy, chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ có tác động trực tiếp đến chất lượng tổ chức thi hành án và kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, việc đổi mới tư duy, quy trình và nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ THADS là yêu cầu cấp thiết, góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam ghi nhận dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự, đồng thời, thiết lập cơ chế giám định tư pháp nhằm phục vụ hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự còn bộc lộ nhiều hạn chế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu làm rõ những bất cập, hạn chế trong hoạt động giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: